Chúng ta hãy xem xét một loại thay đổi tư duy mà một số người đã trải nghiệm qua nhiều năm. Từ thuở ấu thơ, hầu hết chúng ta hành động theo suy nghĩ sau: Khi cần giải quyết một công việc, chúng ta sẽ làm hết sức có thể và dành thời gian như nhau cho mỗi phần của công việc. Theo “nguyên tắc 50/50” này, nếu phải học một bản nhạc, hay phải thành thục một trò chơi mới, hay thực hiện một số vai trò ở nhà hoặc tại nơi làm việc, chúng ta sẽ dàn trải sức lực bằng nhau cho các phần khác nhau.
Bây giờ hãy xem một cách nhìn khác về vấn đề này. Đầu thế kỷ trước, nhà kinh tế - xã hội học người Ý Vilifredo Pareto đưa ra một quy tắc, được biết đến dưới tên gọi “nguyên tắc 80/20”. Như Richard Koch giải thích trong cuốn sách thú vị Nguyên tắc 80/20,[1] người ta có thể hoàn thành phần lớn những điều mình mong muốn - có thể đến 80% mục tiêu - với một nỗ lực tương đối khiêm tốn - có thể chỉ 20% mức độ yêu cầu (xem Hình 1-1). Điều quan trọng là phải xác định đúng đắn nên đặt nỗ lực vào đâu, và nắm bắt được “điểm quyết định” đạt được mục tiêu bất ngờ trong (hoặc ngoài) tầm với. Trái lại, ta nên tránh sự cám dỗ của suy nghĩ tự nhiên trong việc dành những nỗ lực bằng nhau cho mỗi phần của công việc, của vấn đề, dự án, hay sở thích; hoặc lãng phí sự chú ý ngang nhau cho tất cả mọi nhân viên, mọi người bạn, hay mọi điều quan tâm.
Hình 1-1

Từ cuốn Nguyên lý 80/20 -The 80/20 Principle của Richard Koch (New York: Currency/Doubleday, 1998). In lại dưới sự cho phép của Random House.
Tại sao chúng ta phải thay đổi từ việc hành động theo nguyên tắc 50/50 sang tin tưởng vào lý thuyết rõ ràng ra đi ngược lại trực giác của Pareto? Hãy xem một số ví dụ cụ thể. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy trong hầu hết các ngành kinh doanh, khoảng 80% lợi nhuận đến từ 20% sản phẩm. Điều này rõ ràng là hợp lý khi nhiều sự chú tâm và nguồn lực được dành cho những sản phẩm mang lại lợi nhuận, đồng thời loại bỏ những sản phẩm thua lỗ. Trong đa số các ngành kinh doanh, những công nhân giỏi hàng đầu sản xuất được nhiều hơn so với phần thu nhập của họ; do đó cần phải thưởng cho những người này trong khi cần phải loại bỏ những người làm việc không hiệu quả (và không mang lại lợi nhuận). Bổ sung cho ý niệm này (ngay cả những người bi quan cũng phải đồng ý), 80% các rắc rối đặc trưng trong đội ngũ nhân lực xuất phát từ một lượng nhỏ những người hay gây rắc rối – trừ phi đó là họ hàng của ông chủ - nếu không nhanh chóng loại bỏ họ ra khỏi công ty. (Với các doanh nghiệp Mỹ, nguyên tắc này được áp dụng rõ rệt bởi những công ty như GE, họ chọn ra 20% giỏi hàng đầu để thưởng và 10% tệ nhất để loại bỏ). Tỷ lệ tương tự cũng đúng với khách hàng: Những khách hàng hay bạn hàng tốt nhất mang lại phần lớn thành công cho kinh doanh, trong khi đa số các khách hàng chỉ đóng góp rất ít cho điểm lời lỗ. Hầu như với bất kỳ những sản phẩm hay dự án nào, người ta đều có thể hoàn thành những mục tiêu hay yêu cầu cơ bản chỉ với 1/5 nỗ lực thông thường; phần nỗ lực còn lại được sử dụng đơn giản chỉ để đạt sự hoàn thiện hay để thỏa mãn nỗi ám ảnh của riêng chúng ta. Trong trường hợp này, cần phải hỏi: Mình có thực sự muốn đạt sự hoàn thiện đó không? Có đáng để cống hiến quá nhiều sức lực chỉ cho một trong vô số những việc cần làm? Nguyên tắc 80/20 thậm chí cũng nổi lên trong những sự kiện gần dây. Theo tờ New York Times, 20% các máy quét hành lý ở các sân bay gây ra 80% nhầm lẫn[2]. Để giải quyết vấn đề này, chuyên gia hàng không tên Michael Cantor đã đưa ra một nhiệm vụ mang tính giác quan đơn giản nhằm “quét ra” những máy quét kém hiệu quả nhất.
Đến đây, cho dù chưa bao giờ nghe về nguyên tắc này, bạn hẳn cũng đã nắm được ý chính (thậm chí có thể là 80%). Bạn sẽ có suy nghĩ về việc liệu nguyên tắc này có quen thuộc với mình không (“Pareto chỉ nói về ‘cắt giảm tổn thất của bạn’”), hay liệu nó có thực sự đại diện cho cách suy nghĩ mới về sự việc (“Tôi đang đi gặp giám đốc nhân sự và tìm cách loại bỏ 20% những người yếu kém nhất của nhóm chúng tôi”). Có lẽ bạn sẽ thắc mắc - chẳng hạn, có phải lúc nào cũng áp dụng 80/20? Làm sao biết được nên tập trung vào 20% nào? Chúng ta có thực sự muốn người phi công, bác sĩ phẫu thuật, các nhà khoa học, hay những nghệ sĩ áp dụng thứ tự ưu tiên 80/20? Và nếu là người bất kính một chút, bạn có thể hỏi: “Làm sao thằng cha tên Koch nào đó có thể viết về nguyên tắc 80/20 đến 300 trang?”. Câu trả lời ngắn gọn: Đó là một cuốn sách đáng đọc.
Nói cách khác, vào lúc này, bạn có thể bắt đầu thay đổi tư duy về những niềm tin trước kia và chấp nhận tính hợp lý trong ý kiến của Pareto - ít nhất cũng về mặt lý thuyết. Thật vậy, từ một góc nhìn, có vẻ dễ dàng diễn ta, hiểu rõ và thấm nhuần nguyên tắc 80/20. Con người có thể đã được thiết kế là những sinh vật sẵn sàng học hỏi suy nghĩ lựa chọn theo một cách mới. Tuy nhiên, trong thực tế, sự thật lại không phải như vậy. Một trong những thói quen ăn sâu nhất trong tư tưởng con người là niềm tin nên hành động theo nguyên tắc 50/50. Chúng ta nên đối xử với mọi người và mọi việc công bằng như nhau - và mong chờ điều tương tự từ những người khác (đặc biệt là bố mẹ chúng ta!). Chúng ta nên dành thời gian như nhau cho mỗi người, mỗi khách hàng, mỗi nhân viên, mỗi dự án, mỗi phần của dự án. Những nhà tâm lý học tiến bộ đã giải thích “nguyên tắc bình đẳng” này là một phần của cấu trúc trí tuệ của giống loài chúng ta. Nhưng không cần phải viện đến lời giải thích về sinh học. Thời thơ ấu nhiều ấn tượng văn hóa cũng thể hiện ý niệm nên chia mọi thứ ngang nhau, như: “Bây giờ, các em, hãy chia kẹo để mỗi người có số kẹo như nhau”. Và vì vậy những người muốn hành động khác nguyên tắc 50/50 - có thể là 80/20, 60/40 hay 99/1 - sẽ cảm thấy quá khó để thực hiện điều này: Rất dễ phát biểu hay thuyết phục theo nguyên tắc 80/20; nhưng thay đổi tư duy để có thể hành động theo nguyên tắc đó lại khó hơn nhiều.
Có lẽ tốt nhất nên mô tả nguyên tắc 80/20 dưới dạng một khái niệm. Con người suy nghĩ dựa trên khái niệm và tư duy của chúng ta chứa đầy những loại khái niệm khác nhau - một số khái niệm hữu hình (như khái niệm về đồ gỗ, về bữa ăn), một số khác trừu tượng hơn (như khái niệm về dân chủ, về trọng lượng, hay tổng sản phẩm quốc gia). Một khi đã quen thuộc, các khái niệm thường trở nên cụ thể hơn, và chúng ta bắt đầu có thể nghĩ về chúng như cách chúng ta nghĩ về những thứ có thể cầm nắm hay nếm được. Vì vậy, thoạt nhìn, nguyên tắc 80/20 có vẻ trừu tượng và khó hiểu, nhưng sau khi sử dụng một thời gian, và ứng biến với nó trong nhiều bối cảnh khác nhau, thì nguyên tắc này có thể trở nên quen thuộc và thân thương như chú gấu bông Teddy cũ kỹ.
Hơn nữa, một khái niệm càng quen thuộc thì càng dễ suy nghĩ theo nhiều cách khác nhau. Điều này đã gợi ý cho tôi một điểm quan trọng: trình bày một khái niệm theo nhiều hình thức khác nhau có thể là phương pháp hữu hiệu để thay đổi tư duy của người khác. Chúng ta đã mô tả nguyên tắc 80/20 bằng con số và từ ngữ - hai hình thức trình bày phổ biến (những biểu tượng dễ hiểu thể hiện khái niệm). Nhưng không nhất thiết chỉ hạn chế trong hai hình thức thể hiện bằng ngôn ngữ và con số, có những cách trình bày khác dùng các loại hình biểu tượng khác nhau có tác động đến sự thay đổi tư duy. Ở Hình 1-1, tôi đã mô tả nguyên tắc này bằng hình vẽ.
Bây giờ chúng ta xem xét 3 cặp số đối lập trong cuốn sách của Koch. Mỗi con số này thể hiện dữ liệu về lượng tiêu thụ bia tương ứng với nguyên lý 80/20 và mỗi con số đều chuyển tải cùng một quan điểm chung, đến khán giả cùng loại hay khác nhau. Hình 1-2 là danh sách theo thứ tự của 100 người uống bia, mỗi con số thể hiện số ly bia tiêu thụ trong tuần. 20 người đầu danh sách tiêu thụ khoảng 700 ly; 80 người còn lại tiêu thụ 300 ly, trong số đó 20 người ít buông thả nhất uống chỉ có 27 ly.
Hình 1-2
Nguyên tắc 80/20 trong trường hợp những người uống bia

Từ cuốn Nguyên lý 80/20 -The 80/20 Principle của Richard Koch (New York: Currency/Doubleday, 1998). In lại dưới sự cho phép của Random House.
Hình 1-3 là một biểu đồ theo thuyết Descartes so sánh tổng số ly bia mỗi người uống hàng tuần so với số phần trăm tổng lượng bia được uống. Ở đây chúng ta có thể thấy số ly bia một người uống (được thể hiện bằng những đường sọc dọc) và phần trăm cộng dồn (được thể hiện bằng đường tăng đột ngột ở phía trái biểu đồ và từ từ tăng dần đến số cao nhất).
Hình 1-3
Biểu đồ phân bổ tần suất 80/20 của những người uống bia

Từ cuốn Nguyên lý 80/20 -The 80/20 Principle của Richard Koch (New York: Currency/Doubleday, 1998). In lại dưới sự cho phép của Random House.
Hình 1-4, là loại đơn giản nhất, thể hiện một biểu đồ gồm hai cột đứng. Cách khắc họa lý tưởng này tuy không thể hiện thông tin uống bia của từng cá nhân nhưng chúng ta có thể dễ dàng thấy được số phần trăm tương đối thấp của những người nghiện bia rượu (20%) đã uống phần lớn lượng bia (khoảng 70%).
Hình 1-4
Tỷ lệ người uống bia so với lượng bia được uống

Từ cuốn Nguyên lý 80/20 - The 80/20 Principle của Richard Koch (New York: Currency/Doubleday, 1998). In lại dưới sự cho phép của Random House.
Những cách suy nghĩ khác nhau về nguyên tắc Pareto đã cho chúng ta thấy đặc điểm quan trọng của các biểu hiện trí tuệ: Chúng có nội dung lẫn hình thức, hay định dạng. Nội dung là ý tưởng cơ bản chứa đựng trong biểu hiện - cái mà các nhà ngôn ngữ học gọi là ngữ nghĩa của thông điệp. Hình thức hay định dạng là ngôn ngữ, hay hệ thống hình tượng, hay ý niệm cụ thể qua đó nội dung được thể hiện.
Cả 3 cách thể hiện ý tưởng 80/20 về cơ bản đều chuyển tải cùng một nội dung hay ngữ nghĩa: một số phần trăm nhỏ người uống đã sử dụng phần lớn số lượng bia. Tuy nhiên, những phương pháp đồ thị được sử dụng - nghĩa là hình thức, định dạng hay (một cách kỹ thuật hơn) cú pháp - lại khác biệt, và mỗi người sẽ cảm thấy hình thức thể hiện nào đó dễ hiểu hơn so với các hình thức khác. Xin nhớ rằng từ một ý kiến chính thức, mỗi dạng đồ thị này có thể mô tả bất kỳ cái gì, từ số ngày nắng ở Seattle trong suốt tháng 9 cho đến tỷ lệ mất tế bào não trong mỗi 10 năm của cuộc đời. Chỉ khi những công cụ hỗ trợ hình ảnh này có kèm các chú thích thì chúng ta mới có thể hiểu hết ý nghĩa cụ thể mà người vẽ đồ thị muốn chuyển tải.
Khi đó, về cơ bản, một ngữ nghĩa hay nội dung giống nhau có thể được chuyển tải bằng nhiều hình thức khác nhau, như: từ ngữ, con số, diễn giải, liệt kê, tọa độ Decartes, hay đồ thị hình cột. Lúc đầu tiếp xúc, chúng ta có thể nghĩ đến nguyên tắc 80/20 ở phương diện tỷ lệ số học (4:1). Tuy nhiên, sau đó, chúng ta có thể nghĩ về nguyên tắc này qua các hình ảnh không gian, những phép ẩn dụ từ ngữ, trạng thái cơ thể, hay thậm chí là những đoạn nhạc. Quả vậy, một biện pháp hữu hiệu để chuyển tải nguyên tắc 80/20 là sử dụng hình minh họa (hình 1-5). Ngược lại, hệ thống ngôn ngữ hay đồ thị giống nhau có thể chuyển tải vô số các ý nghĩa, miễn là vẫn tuân thủ các nguyên tắc quy định hệ thống biểu thị nào đó và có chú thích phù hợp.
Hình 1-5
Biểu đồ nhanh và tắt
Biểu đồ này thể hiện quá trình của “nhanh và tắt”. Chú ý rằng hình ở giữa là một vòng tròn có nhiều lỗ. Ý muốn nói là khi thực hiện “nhanh và tắt” bạn đã cắt hết các góc và có những thứ bị bỏ sót.

Từ cuốn Nguyên lý 80/20 - The 80/20 Principle của Richard Koch (New York: Currency/Doubleday, 1998). In lại dưới sự cho phép của Random House.
Ở đây tôi xin nhắc lại rằng thể hiện một quan điểm theo nhiều cách khác nhau là một phương cách hiệu quả để thay đổi tư duy. Nhưng ngoài ra còn yếu tố nào khác có thể khiến một cá nhân thay đổi cách nhìn của mình và bắt đầu hành động trên cơ sở nguyên tắc mới – chẳng hạn, loại bỏ quan điểm 50/50 và tán thành quan điểm 80/20 ở mọi lĩnh vực trong cuộc sống? Liệu đó có phải là những nhân tố đã thuyết phục Nicholson Bakers cuối cùng không muốn trang trí căn hộ của mình bằng xe nâng và xe xúc? Tôi đã xác định được 7 nhân tố - có khi tôi gọi chúng là những đòn bẩy - có tác dụng trong những trường hợp này cũng như trong tất cả các trường hợp thay đổi tư duy. Thật trùng hợp, mỗi nhân tố đều bắt đầu bằng chữ “re”.
Đặc biệt đối với những người tự cho mình có học vấn, lý luận có tác dụng lớn trong việc xây dựng niềm tin. Quá trình suy luận bao gồm xác định những nhân tố có liên quan, lần lượt cân nhắc từng cái, sau đó đưa ra đánh giá tổng thể. Lý luận có thể dựa trên tính logic tuyệt đối, trên việc sử dụng biện pháp so sánh hay phân loại. Ngay khi tiếp xúc nguyên tắc 80/20 lần đầu, lý luận sẽ dẫn dắt xác định tất cả những vấn đề có liên quan cần phải xem xét và cân nhắc chúng một cách tương ứng: Một quy trình như vậy có thể giúp đưa ra quyết định liệu có nên tán thành nguyên lý 80/20 nói chung, và áp dụng nó trong một trường hợp cụ thể nào không. Để quyết định cần trang trí căn hộ nhiều thế nào, Baker có thể viết ra một danh sách những điều lợi và bất lợi trước khi đi đến đánh giá cuối cùng.
Nghiên cứu (Research)
Bổ sung cho vai trò của lý luận là thu thập những dữ liệu có liên quan. Những người đã được đào tạo về khoa học có thể tiến hành một cách có hệ thống, thậm chí có lẽ còn dùng những biện pháp kiểm tra thống kê để xác minh - hay loại bỏ nghi ngờ - những xu hướng có triển vọng. Tuy vậy, việc nghiên cứu không phải lúc nào cũng mang tính chất chính quy; mà chỉ cần xác định những trường hợp có liên quan và đánh giá xem chúng có tác động đến việc thay đổi tư duy hay không. Một người quản lý biết về nguyên tắc 80/20 co thể sẽ nghiên cứu xem liệu những ứng dụng của nguyên tắc này – chẳng hạn như - về con số bán hàng hay về việc thiếu hụt nhân sự - có xác thực không. Tự nhiên, trong phạm vi nghiên cứu để xác minh nguyên tắc 80/20, hành vi và tư duy có chiều hướng bị dẫn dắt theo. Nhà văn Baker có thể đã tiến hành nghiên cứu chính quy hoặc không chính quy về chi phí các nguyên vật liệu khác nhau và về ý kiến của những người có thể sẽ đến thăm căn hộ vừa được trang trí của ông.
Sự cộng hưởng (Resonance)
Lý luận và nghiên cứu có tác động vào nhận thức của tư duy con người; còn sự cộng hưởng tác động vào cảm xúc. Một quan điểm, một ý tưởng, hay một cách nhìn phải tạo sự cộng hưởng khiến người ta cảm thấy nó đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, và thuyết phục người đó không cần phải xem xét gì thêm. Đương nhiên sự cộng hưởng có thể diễn ra sau khi sử dụng lý luận và/hoặc nghiên cứu; nhưng cũng có thể nó xảy ra ở mức độ vô thức, và cũng có thể trục giác mang tính cộng hưởng lại mâu thuẫn với những suy xét chín chắn của con người lý trí. Sự cộng hưởng thường xảy đến khi chúng ta cảm thấy có “mối liên hệ” (relation) với người thay đổi tư duy, cảm thấy rằng người đó “đáng tin cậy” (reliable), hay đáng “kính trọng” (respect) - lại thêm 3 từ với chu “re” nữa. Nếu ý tưởng về xe nâng và máy đào có tác động cộng hưởng với Baker, ông có thể sẽ tiến hành trang trí lại. Nếu mọi người cảm thấy nguyên tắc 80/20 tốt hơn nguyên tắc 60/40 hay 50/50, thì nó có khả năng được người ra quyết định trong tổ chức sử dụng.
Tôi thấy rằng tài hùng biện (rhetoric) là phương tiện chủ yếu để thay đổi tư duy. Thuật hùng biện cần dựa vào nhiều yếu tố. Trong hầu hết các trường hợp, hùng biện có hiệu quả nhất khi mang tính logic chặt chẽ, rút ra từ những nghiên cứu có liên quan, và có tác động cộng hưởng với người nghe (có lẽ cũng giống những nhân tố “re” khác vừa được đề cập). Chỉ tiếc là chữ hùng biện (rhetoric) lại có chữ “h” ở vị trí chữ cái thứ 2.
Tiếp cận ý tưởng theo nhiều cách khác nhau - gọi tắt là Tái diễn giải (Representational Redescriptions)
Nhân tố thứ 4 nghe có vẻ mang tính kỹ thuật nhưng ý nghĩa thực chất cũng đơn giản. Sự thay đổi tư duy trở nên thuyết phục hơn khi nó được thể hiện ở những hình thức khác nhau, bổ sung lẫn nhau. Như tôi đã đề cập, có thể trình bày nguyên tắc 80/20 theo một số phương thức ngôn ngữ, con số và đồ thị khác nhau; tương tự, như đã nêu, một số người có thể dễ dàng đưa ra những cách diễn đạt khác nhau về tư tưởng trang trí của Baker. Đặc biệt, đối với những vấn đề mang tính hướng dẫn - dù là ở lớp tiểu học hay ở một khóa đào tạo quản lý - thì việc diễn đạt bài học theo những hình thái thích hợp là vấn đề then chốt[3].
Nguồn lực hậu thuẫn và phần thưởng (Resources and Reivards)
Trong những trường hợp đã đề cập, khả năng thay đổi tư duy nằm trong tầm với của những người có đầu óc rộng mở. Tuy nhiên, đôi khi sẽ dễ dàng thay đổi tư duy hơn khi có những nguồn hậu thuẫn đáng kể. Giả sử một nhà hảo tâm quyết định cấp vốn cho một tổ chức phi chính phủ sẵn sàng áp dụng nguyên tắc 80/20 trong tất cả các hoạt động của mình. Lúc này thế cân bằng sẽ bị lật đổ. Hay giả sử rằng một công ty trang trí nội thất quyết định cho Baker tất cả những nguyên vật liệu ông cần với mức phí thấp, hay thậm chí là miễn phí. Tương tự, khả năng trang trí lại với chi phí thấp có thể sẽ lật đổ thế cân bằng. Từ cái nhìn tâm lý học, việc cung cấp nguồn hậu thuẫn là một trường hợp tăng cường (reinforcement) mang tính tích cực - lại một chữ “re” nữa. Nhiều người được thưởng vì cách thức hành vi và suy nghĩ hơn là vì những cái khác. Tuy nhiên, rốt cuộc nếu cách suy nghĩ mới không phù hợp với những tiêu chí khác - như lý luận, nghiên cứu, sự cộng hưởng - thì nó sẽ không thể tồn tại khi không còn nguồn hậu thuẫn.
Hai nhân tố khác cũng ảnh hưởng tới việc thay đổi tư duy, nhưng theo cách khác với 5 nhân tố đã được nêu.
Những biến cố trên thế giới (Real ivorld events)
Đôi khi, một sự kiện lớn diễn ra trong xã hội có ảnh hưởng đến nhiều người, không chỉ những cá nhân muốn thay đổi tư duy. Ví dụ như chiến tranh, bão tố, tấn công khủng bố, suy thoái kinh tế - hay, theo hướng tích cực hơn trong thời đại của hòa bình và thịnh vượng, là sự xuất hiện của các phương pháp chữa trị giúp giảm bệnh tật và kéo dài tuổi thọ, sự nổi lên của một người lãnh đạo hoặc nhóm hay đảng chính trị ôn hòa. Luật pháp cũng có thể giúp xúc tiến những chính sách dạng như quy luật 80/20. Không có gì khó hiểu nếu luật (ở Singapore chẳng hạn) cho phép thưởng đặc biệt cho những công nhân có năng suất bất ngờ, và trừ lương những người kém năng suất được thông qua, thì luật này có thể sẽ thúc đẩy các cơ sở sản xuất quyết định áp dụng nguyên tắc 80/20, dù đang trong thời đại mọi người sử dụng quy luật tập quán 50/50. Hay ví dụ, một sự suy thoái kinh tế có thể vô hiệu hóa những kế hoạch trang trí lại căn hộ của Baker, nhưng nếu ở một thời đại thịnh vượng làm việc đó dễ diễn ra hơn. (Ông thậm chí còn có thể mua một căn hộ thứ hai để “thử nghiệm”!).
Sự phản kháng (Resistances)
Tất cả sáu nhân tố đã đề cập có thể hỗ trợ thay đổi tư duy. Tuy nhiên, nếu nói chỉ tồn tại những nhân tố thuận lợi là phi thực tế. Quả vậy, ở chương 3 tôi sẽ giới thiệu một mâu thuẫn lớn trong thay đổi tư duy. Rất dễ dàng và thuận theo tự nhiên nếu chúng ta thay đổi suy nghĩ trong những năm đầu đời, nhưng càng có tuổi chúng ta càng khó thay đổi tư duy. Đơn giản là vì chúng ta đã xây dựng những quan điểm nhận thức vững chắc mang tính chất phản kháng, không muốn thay đổi. Muốn tìm hiểu về thay đổi tư duy phải xét đến sức mạnh của những ý nghĩ phản kháng khác nhau. Bản chất phản kháng đó khiến người ta dễ dàng quay lại nguyên tắc 50/50, thậm chí ngay cả sau khi những lợi điểm của nguyên tắc 80/20 đã được nêu ra một cách thuyết phục. Ví dụ, Baker có thể quyết định giữ hình thức trang trí căn hộ của mình như hiện tại, cho dù khi các yếu tố như lý luận, cộng hưởng, nguồn tài trợ hay những thứ tương tự ca bài ca thần Circe. Việc di chuyển rắc rối, hoặc sự tỉnh ngộ của ông và những người khác khi có thêm những chiếc xe xúc và xe nâng, có thể lấn át những động lực trang trí mới.
Như vậy tôi đã giới thiệu 7 nhân tố đóng vai trò then chốt trong việc thay đổi tư duy. Nhìn vào những trường hợp thay đổi tư duy thành công hoặc thất bại, có thể thấy rằng các yếu tố này tác động theo những cách khác nhau. Hiện tại, tôi sẽ chỉ nói rằng việc thay đổi tư duy diễn ra dễ dàng khi 6 nhân tố cùng hoạt động hòa hợp với nhau và sự phản kháng tương đối yếu. Ngược lại, thay đổi tư duy khó diễn ra khi sự phản kháng quá mạnh, và các nhân tố khác không cùng đi theo một hướng.
Dĩ nhiên việc thay đổi tư duy diễn ra ở nhiều cấp độ phân tích khác nhau, khi 7 nhân tố đã đề cập trên tác động đến những chủ thể khác nhau, từ một cá nhân đơn lẻ cho đến cả một quốc gia. Từ chương 4 đến chương 9 của cuốn sách tôi sẽ xem xét 6 lĩnh vực, hay 6 vũ đài diễn ra sự thay đổi tư duy:
1. Những thay đổi ở quy mô lớn có liên quan đến những nhóm đa dạng không đồng nhất, chẳng hạn như dân số của toàn bộ quốc gia.
2. Những thay đổi ở quy mô lớn có liên quan đến một nhóm đồng nhất hay đồng đều, như một công ty hay một trường đại học.
3. Những thay đổi diễn ra trong các tác phẩm nghệ thuật, khoa học, hay học thuật, chẳng hạn như những bài viết của Karl Marx hay của Sigmund Freud, những lý thuyết của Charles Darwin hay của Albert Einstein, hoặc những sáng tạo nghệ thuật của Martha Graham hay của Pablo Picasso.
4. Những thay đổi trong các môi trường đào tạo chính quy, như trong trường học hay từ các chương trình đào tạo.
5. Những hình thức thay đổi tư duy gần gũi hơn liên quan tới hai hay một số ít người, chẳng hạn như những thành viên trong gia dinh.
6. Những thay đổi diễn ra trong tư duy của chính bản thân một cá nhân, chẳng hạn như những gì diễn ra khi Nicholson Baker suy ngẫm về việc trang trí nội thất.
Cuối cùng, tôi xin giới thiệu những thuật ngữ cơ bản mà tôi sẽ dùng.
❀ ❀ ❀
[1] The 80/20 Principle: The Secret of Achieving More with Less của Richard Koch (New York: Currency, 1998).
[2] “A Nation Challenged: Airport Security. U.S. Airport Task Force Begins with Hiring” của Michael Moss, New York Times, ngày 23/8/2001, tr. 21.
[3] Cụm từ “representational redescription” được lấy từ cuốn Beyond Modularity của A. Karmiloff-Smith (Cambridge: MIT Press, 1992).