Khi làm việc với các trường hợp thanh niên có tâm lý bất ổn trầm trọng tại Bệnh viện Austen Riggs ở Stockbridge, Massachusetts những năm 1950, Erik Erikson chữa trị cho một chủng sinh trẻ, học trường dòng, người quá u buồn và hoang mang đến độ không thể hành xử bình thường. Trong buổi chữa trị, người bệnh nhân nói về một giấc mơ quá đáng sợ đến nỗi cậu cảm giác như đó là sự thực. Theo lời cậu học sinh trường dòng này: “Có một khuôn mặt lớn ngồi trên chiếc xe độc mã thời xưa. Khuôn mặt hoàn toàn trống rỗng, xung quanh có những sợi lông nhầy nhụa, kinh khủng như rắn. Em không dám chắc đó là mẹ em”[1].
Erik cảm thấy giấc mơ nghe có vẻ sơ sài này rất quan trọng: nó là hình ảnh sống động tóm lược các vấn đề quan trọng nhất đang quay vòng trong tâm trí của cậu trai. Sau khi nghe người bệnh tự do liên hệ với giấc mơ gần một tiếng đồng hồ, Erikson quyết định mạo hiểm đưa ra lời giải thích với hy vọng có thể khuyến khích người bệnh thay đổi trong suy nghĩ để chữa bệnh, vì cậu đã quá gầy yếu.
Erikson cho rằng bệnh nhân trở nên mất trí vì các thông điệp lộn xộn chuyển tài cho cậu từ những người quan trọng nhất trong cuộc đời cậu. Hình ảnh giấc mơ gợi cho người bệnh nỗi nhớ nhà với một quá khứ thoải mái và an bình hơn, thời ông cậu làm giáo sĩ làng. Khuôn mặt không đường nét cho thấy hình ảnh người mẹ của bệnh nhân rất khó xác định; một người mẹ lãng mạn hóa quá khứ nhưng rất xa vời và khó nắm bắt đối với bệnh nhân trong thời thơ ấu. Erikson cũng thấy khuôn mặt trông gợi lại các dấu ấn quan trọng trong đời người. Chuyện cũng xảy ra với chính Erikson một lần: hình ảnh ông với mái tóc trắng bù xù. Vị bác sĩ trị liệu cho rằng sự có mặt của bản thân ông trong giấc mơ là do buồn phiền vì ông bị ốm và tạm thời không chữa trị cho người bệnh được. Những hình ảnh liên quan khác có ý nghĩa tôn giáo: người bệnh bị giằng xé giữa tình yêu với Chúa và cảm giác không thỏa mãn về tình dục, như được khắc họa trong hình ảnh Medusa đáng sợ. Và, cuối cùng, theo quan điểm Erikson, khuôn mặt thiếu đường nét cũng là dấu hiệu cho thấy bệnh nhân vẫn không chắc chắn về chính bản thân mình.
Đương nhiên, nếu chỉ chia sẻ những diễn giải về giấc mơ với người bệnh thì không dù tạo ra thay đổi tư duy. (Nó còn có thể lấn át cậu ấy). Nếu cậu chủng sinh không tìm cách chấp nhận các thông điệp của giấc mơ, và xóa bỏ những mất mát có thể, thì cậu sẽ tiếp tục cảm thấy bất lực không làm được gì. Nhưng trước khi mô tả quá trình thay đổi thật sự diễn ra đối với cậu chủng sinh, hãy xem các cuộc trao đổi giữa bác sĩ trị liệu và bệnh nhân có thể làm thay đổi tư duy như thế nào.
Các thế kỷ trước, vai trò của “người nghe xưng tội” hay “người sáng suốt” nói chung được giao cho những nhân vật tôn giáo cao cấp, như linh mục, hay giáo sĩ (đối với người Do Thái đạo Hồi). Khi cảm thấy hỗn loạn, người ta tìm đến những người này xưng tội (với lời hứa giữ bí mật) để cảm thấy nhẹ bớt gánh nặng trên vai, để có được những lời khuyên và/hay lời xá tội, và trở về - hứng khởi hay khuây khỏa hơn - để đối mặt với thế giới lần nữa. Trong thế kỳ trước, một dạng quan hệ mới được phát triển - đó là mối quan hệ giữa một người chuyên nghiệp gọi là nhà trị liệu với bệnh nhân (hay khách hàng). Người bệnh có thể gặp bác sĩ trị liệu thường xuyên hơn hoặc ít hơn và trả cho họ một mức phí thỏa thuận cho vai trò lắng nghe và đưa ra những lời giải thích hoặc lời khuyên nếu có hiệu quả.
Nói chung, người bệnh tìm gặp nhà trị liệu vì những vấn đề mà họ không thể vượt qua một cách thỏa đáng[2]. Mục đích của những buổi trị liệu là làm thay đổi suy nghĩ và/hoặc hành vi của người bệnh theo hướng có thể làm cho cuộc sống của họ đỡ rắc rối hơn và trọn vẹn hơn. Nhà trị liệu có kiến thức sâu rộng về những rắc rối của con người và các chiến lược loại bỏ chúng để giúp người bệnh trở nên khá hơn. Người bệnh phải nói thật về tình trạng của mình, phải tham gia suy nghĩ về những điều cần làm, phải báo lại những gì diễn ra giữa các buổi trị liệu, và phải cùng giải quyết vấn đề với nhà trị liệu khi được hướng dẫn. Ít nhất, người bệnh hy vọng hiểu sâu hơn về nỗi tuyệt vọng của mình và các chiến lược để vượt qua. Nếu mọi việc thuận lợi, bệnh nhân cũng đoán trước rằng họ có thể bước ra khỏi giai đoạn trị liệu với tinh thần hạnh phúc và khỏe mạnh hơn, dễ dàng đối đầu những xung đột đời thường hơn, và có một cuộc đời trọn vẹn hơn.
Khi đó nhà trị liệu và bệnh nhân cùng nhau nỗ lực trong bài trị liệu mở rộng về thay đổi tư duy. Nhiệm vụ chính của việc trị liệu là mở ra các nội dung của tư duy - nghĩa là những biểu hiện trí tuệ ẩn chứa trong tư duy ý thức và vô thức. Trị liệu là một quá trình tương đối vất và bao gồm xác định những tư tưởng chính - các khái niệm, câu chuyện, kịch bản, lý thuyết, hình mẫu, thực hành - mà bệnh nhân đang có, và chỉ ra các hình thức, trong đó các tư tưởng này hữu dụng và đáng lưu giữ, hay xấu xa và đáng loại bỏ. Đương nhiên, thành công của việc trị liệu phụ thuộc vào nhiều nhân tổ, bao gồm liệu người bệnh có bức tranh thực tế hay phi thực tế về tình trạng của họ trong thế giới, và liệu họ có thể đối mặt với những sự kiện trong quá khứ đã để lại dấu ấn sâu sắc (và có lẽ là quá sâu sắc) trong nhân cách họ. Vận may cũng là một yếu tố góp phần.
Trong quá trình tìm phương thức can thiệp tối ưu, những câu chuyện, vấn đề, hay kịch bản cụ thể của người bệnh cũng như hình thái của chúng đóng vai trò rất quan trọng, ở đây, về phần kỹ năng chuyên nghiệp, kiến thức về các trường hợp tương tự từ trước (và cao hơn là trường hợp trái ngược) là một lợi thế. Nhà trị liệu phải cố gắng hiểu tình trạng hiện tại càng rõ ràng và bình tĩnh càng tốt và giúp người bệnh có cùng hiểu biết đó - và điều này đòi hỏi phải có các kỹ năng chứ không chỉ là sự cảm thông từ một người bạn không được đào tạo hay một người lạ.
Bên cạnh tư duy của bệnh nhân là ở vị trí trung tâm, tư duy của nhà trị liệu cũng phải cởi mở để thay đổi. Bác sĩ phải hiểu rõ người bệnh; điều đó đòi hỏi sự thấu cảm, cũng như khả năng thay đổi tư duy của bản thân, trong trường hợp người bệnh đưa ra thông tin mới hoặc khác biệt một cách bất ngờ với những khách hàng trước chẳng hạn. Trong hầu hết các cuộc gặp mặt trị liệu, không chỉ người bệnh truyền những cảm xúc mạnh mẽ, mà cả bác sĩ trị liệu cũng truyền ngược lại; và việc truyền ngược đó có thể rất hiệu quả. Cả người bệnh và bác sĩ đều phải nhận biết về các càm xúc mãnh liệt này, nhưng đặc biệt quan trọng đối với nhà trị liệu là phải nhạy bén để nhận biết mức độ tư duy của mình bị xâm chiếm và ảnh hưởng bởi việc gặp gỡ người bệnh.
Điểm mấu chốt của việc trị liệu bao gồm xem xét các sự kiện đã xảy ra (hay người đó tưởng tượng đã xảy ra) và những ý nghĩa mà người bệnh gán cho chúng. Là một chủ thể tự giải thích, tư duy sẽ tự đưa ra những lời giải thích hợp lý hóa. Thường các cá nhân phải tham gia trị liệu - và một số không bao giờ kết thúc - vì ý nghĩa họ gán cho các sự kiện bị bóp méo, nhận thức của họ sai lầm, cảm xúc của họ không thích hợp, và những hành vi của họ phản tác dụng. Theo đó, nòng cốt của việc gặp gỡ trị liệu là xây dựng những lời diễn giải nhằm xóa bỏ các thói quen xấu và giúp người bệnh nhận ra các mục tiêu đã đặt ra của họ. Rất nhiều các kỹ thuật được sử dụng – từ việc kể những câu chuyện có tác động mạnh mẽ của người có quyền lực cho đến các quá trình tự khẳng định mình mà cá nhân quyền lực đó khai thác. Nhiệm vụ của bác sĩ trị liệu là xác định kỹ thuật, đơn lẻ hay kết hợp, có thể hiệu quả nhất trong quá trình điều trị lâu dài một người bệnh cụ thể với các triệu chứng hiện có. Công việc này hiếm có trường hợp thuyết phục thẳng thắn; đúng hơn nên mô tả đó là nỗ lực tạo ra những điều kiện để thay đổi và nuôi sống niềm hy vọng[3]. Trong nhiều phạm vi như dạy môn số học cho một đứa trẻ thiểu năng, hay thuyết phục một giáo viên cứng đầu thay đổi cách hành xử, thì nhiệm vụ này cần được tiến hành khéo léo tùy theo sắc thái của riêng từng cá nhân.
Thay đổi tư duy của người bệnh
Trên cơ sớ đó, chúng ta hãy xem những ý tưởng Erik tổng hợp được và sau đó đưa ra cho cậu chủng sinh trẻ:
Hồi tưởng lại chủ đề xuyên suốt giấc mơ, chúng tôi nhận thấy có 4 giai đoạn trong cuộc đời người bệnh - tất cả bốn giai đoạn chuyển biến chưa đủ chín muồi nay đã làm cho cậu ấy giận dữ và hoảng sợ về những thứ cậu phải từ bỏ, chứ không làm cho cậu ấy cảm thấy tự do hơn và có thể xác định bản thân chân thực hơn. Đó là: giai đoạn điều trị hiện tại – với nỗi lo của bệnh nhân rằng với các hành động giận dữ thái quá (về phần cậu hay phần tôi, hay cả hai) cậu ấy có thể mất tôi và do đó mất cơ hội tìm lại được con người cậu thông qua lòng tin nơi tôi; giai đoạn giáo dục tôn giáo trực tiếp từ trước - với nỗ lực tìm kiếm thất bại của cậu ấy trong nguyện cầu rằng “sự hiện diện” sẽ lấp đầy sự trống rỗng bên trong con người cậu; giai đoạn tuổi trẻ trước kia của cậu - với niềm hy vọng đạt được sức mạnh, hòa bình, và bản thể thông qua tự khẳng định mình với người ông; và cuối cùng, giai đoạn thơ ấu nhỏ dại - với niềm mong ước tuyệt vọng giữ lại khuôn mặt nhân từ của người mẹ để vượt qua nỗi sợ hãi, tội lỗi, và giận dữ về những cảm xúc của bà. Tất cả những điều dài dòng này đều hướng đến một vấn đề nhất định mà, một khi đã xác định được, sẽ bổ sung ý nghĩa cho tất cả những thành phần liên quan. Vấn đề là: “Bất cứ khi nào tôi bắt đầu có lòng tin vào sức mạnh và tình yêu của một người, thì cảm xúc giận dữ và bệnh hoạn lại xuất hiện trong mối quan hệ, và cuối cùng tôi trở nên mất lòng tin, trống rỗng, trở thành nạn nhân của giận dữ và tuyệt vọng”.[4]
Từ một góc nhìn, có vẻ hơi quá phiêu lưu khi đưa ra diễn giải này. Vì bệnh nhân chỉ nói có vài lời, đó chỉ là một tường thuật ngắn gọn về một giấc mơ đơn lẻ, và hầu như không có gợi ý nào liên quan đến một số quan điểm trong lời giải thích. Tuy vậy, trong trường hợp này sự mạo hiểm của Erikson đã được đền đáp. Quá trình trị liệu đã có sự đột phá. Việc có thể định hướng lại được biểu hiện trí tuệ không phải vì nội dung của bản thân giấc mơ, mà vì hiểu rằng giấc mơ là kết tinh của vô số các vấn đề đang quay vòng trong vô thức của người bệnh cùng như các vấn đề xuất hiện trong quá trình liên tưởng tự do mở rộng. Quá vậy, thay vì bác bỏ, cậu chủng sinh nhận thấy lời diễn giải có lý vì đan kết nhiều vấn đề lại với nhau, những vấn đề mà cậu đã phải đấu tranh. Erikson nhớ lại “Thật bất ngờ là lời giải thích đó tỏ ra có sức thuyết phục cho cả 2 chúng tôi và lâu dài hơn, có tính chiến lược cho toàn bộ việc chữa trị... Bệnh nhân, người đến với giờ trị liệu với tâm trạng hoảng loạn kinh khủng, đã ra về với nụ cười mở rộng và phấn chấn hẳn lên”[5].
Erikson sẽ là người đầu tiên thừa nhận không phải lúc nào cũng dễ thành công như vậy, Cũng như việc thay đổi tư duy không chỉ được đúc kết từ một lời giải thích đơn lẻ. Có thể điểm quyết định thay đổi diễn ra trong buổi trị liệu nhưng sẽ không đạt được điều đó nếu không có sự chuẩn bị chu đáo và sự kết hợp với các công việc tiếp theo. Kiến thức về chọn lọc tự nhiên Malthus của Darwin nhìn bên ngoài là một sự đột phá nhưng thực chất nó thể hiện một quá trình lâu dài hơn. Quyết định chia sẻ lời giải thích táo bạo của Erikson cho thấy ông nhận thức được, trong vô thức hoặc tiềm thức, rằng người bệnh đã sẵn sàng nghe “một câu chuyện đời” mới và có bước đi mới.
Trong ví dụ về thay đổi tư duy này, chúng ta có thể thấy các câu chuyện cũ vô dụng, câu chuyện mới nhiều hứa hẹn hơn, một hình thái biểu hiện mạnh mẽ dưới lốt một giấc mơ, và rất nhiều dạng thông minh và cảm xúc được sử dụng nhằm hướng con người trẻ tuổi nhạy cảm đến một nơi chốn mới với một hiểu biết mới. Tuy nhiên, xin nhớ rằng “diễn đạt bằng lời” chỉ là một phương tiện trong tiến trình chữa trị, có thể có nhiều hình thức và quy trình khác nhau. Nhà trị liệu Leston Havens cho biết “mọi lý do của công việc chung ta là biến dạng bản chất hữu cơ của tất cả các tương tác này cũng như làm thay đổi sự kết hợp giữa các tác động nhỏ và không thường xuyên. Qua thời gian, có vẻ nhiệm vụ này đối với tôi ngày càng liên quan đến phát triển sự việc, hành động và cảm xúc, hơn là liên quan đến chủ nghĩa và ý tưởng”[6].
Chúng ta có thể xác định trong ví dụ này ít nhất 4 trong 7 đòn bẩy thay đổi tư duy (7 R): việc sử dụng lý lẽ (reason) trong hình thức phân tích là rất quan trọng, dĩ nhiên, những nguồn lực (resources) về thời gian và năng lực của cả nhà trị liệu và bệnh nhân cũng vậy. Dù chỉ là các dữ liệu chắp vá, giấc mơ đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung cho các dữ liệu rời rạc khác về suy nghĩ và cảm xúc của người bệnh. Những chủ đề quan trọng trong một giấc mơ sống động, dù sơ sài là một ví dụ kinh điển về biểu hiện tư tưởng ở hình thức khác (representational redescription). Tuy nhiên, sau cùng, điều chủ chốt là vấn đề cộng hưởng (resonance): Liệu lời giải thích của Erikson về giấc mơ có ý nghĩa bản năng đôi với cậu chủng sinh không? Rõ ràng là có, bằng chứng là sự nhẹ nhõm trong tâm tưởng của người bệnh vào cuối buổi chữa trị. Ngược lại, nếu không có sự cộng hưởng sẽ khó thay đổi tư duy của người khác. Chúng ta hãy xem trường hợp giữa vị hiệu trưởng trường đại học và một giáo sư - một ví dụ thú vị về những gì diễn ra khi một người có ý chí mạnh mẽ tìm cách thay đổi tư duy của người cũng có ý chí mạnh mẽ không kém.
❀ ❀ ❀
[1] The nature of clinical evidence, của Erik H. Erikson, 1964, trích trong The Erik Erikson reader của Robert Coles (New York: Norton, 2000), tr. 162-187.
[2] The nature of clinical evidence của Erik Erikson; ldentity’s architect của Lawrence Friedman (New York: Scribner’s, 1999); Corning to life của Leston Havens (Cambridge: Harvard University Press, 1993); Should you leave? của Peter Krammer (New York: Scribner, 1997); The fifty minute hour: A colỉection of true psychoanalytic taỉes của Robert Lindner (New York: Rinehart, 1955); The art of psychotherapy của Anthony Storr (Lon-don: Routledge and Kegan Paul, 1972/1990).
[3] Art of psychotherapy của Storr. Tôi rất biết ơn người bạn quácố Anthony Storr về nhiều hiểu biết sâu sắc của ông trong linh vực trị liệu tâm lý hiệu quả.
[4] Nature of cliỉiical evidence của Erikson, tr. 179.
[5] Như trên, tr. 465.
[6] Corning to life của Leston Havens (Cambridge: Harvard University Press, 1993), tr. 204-205.