Chúng ta luôn nói về thay đổi tư duy. Ý nghĩa của cách nói quen thuộc này đã quá rõ ràng: Chúng ta tư duy theo một chiều hướng, một số hoạt động xảy ra, và thật lạ, tư duy lại được thiết lập theo chiều hướng khác. Tuy vậy, chúng ta chủ yếu chỉ mới thấy phần bề mặt bên ngoài, trong số những trải nghiệm quen thuộc với con người, hiện tượng thay đổi tư duy ít được xem xét đến và theo tôi, ít được hiểu biết nhất.
Điều gì diễn ra trong quá trình thay đổi tư duy? Và chính xác cái gì khiến chúng ta thay đổi tư duy và bắt đầu hành động theo tư duy mới? Bản thân tôi cũng tò mò với những câu hỏi này, vì thế tôi suy nghĩ về chúng với tư cách là một nhà nghiên cứu tâm lý, mặc dù biết rằng một số khía cạnh của vấn đề thay đổi tư duy vẫn là đề tài nghiên cứu của tương lai không xa. Tôi xin trình bày những câu trả lời của mình ở những trang sau.
Tư duy, dĩ nhiên, rất khó thay đổi. Thế nhưng nhiều khía cạnh trong cuộc sống chúng ta đều nhắm đến mục tiêu thực hiện điều này – chẳng hạn, thuyết phục một đồng nghiệp tiếp cận cách giải quyết công việc mới, hay cố gắng loại bỏ một trong những định kiến của mình. Thậm chí một số người còn trở thành chuyên gia trong lĩnh vực thay đổi tư duy con người, như nhà trị liệu, người ảnh hưởng đến các quan điểm cá nhân của bệnh nhân; giáo viên, người giới thiệu cho học sinh cách suy nghĩ mới về một chủ đề quen thuộc; người bán hàng hay người quảng cáo thuyết phục khách hàng thay đổi nhãn hàng. Theo định nghĩa, lãnh đạo là người thay đổi tư duy - dù là lãnh đạo của một quốc gia, một tập đoàn, hay một tổ chức phi lợi nhuận. Như vậy, thay vì xem hiện tượng thay đổi tư duy là đương nhiên, chắc chắn sẽ hữu ích nếu chúng ta hiểu sâu sắc hơn những câu hỏi hóc búa nhưng thú vị - chính xác về những gì diễn ra khi tư duy thay đổi từ tình trạng cố hữu với cái cũ sang một quan điểm hoàn toàn khác biệt.
Đầu tiên, cho phép tôi định nghĩa cụm từ “thay đổi tư duy” trong cách sử dụng của tôi. Để bắt đầu, tôi xin nói về những thay đổi quan trọng của tư duy. Theo nghĩa thông thường, chúng ta thay đổi suy nghĩ mọi lúc - trong lúc thức và, trong nhiều trường hợp, cả lúc ngủ. Thậm chí khi già đi, tư duy của chúng ta vẫn thay đổi, dù có thể không theo cách mong muốn. Tôi dùng cụm từ “thay đổi tư duy” để chỉ trường hợp các cá nhân hay tập thể từ bỏ cách suy nghĩ mà họ từng có về một vấn đề quan trọng và từ đó nhận thức về vấn đề này theo một cách mới. Cho nên nếu tôi quyết định đọc các mục báo theo một thứ tự khác, hay ăn trưa vào buổi chiều thay vì lúc 1 giờ trưa, thì đây không được xem là những thay đổi tư duy quan trọng. Mặt khác, nếu tôi luôn bỏ phiếu cho tất cả các ứng cử viên Đảng dân chủ và quyết định từ nay trở đi sẽ nhiệt tình vận động cho Đảng tự do; hoặc nếu tôi quyết định bỏ học luật để trở thành nghệ sĩ dương cầm ở quán bar, tôi sẽ xem đó là những thay đổi tư duy quan trọng. (Ngoại trừ có những trường hợp lạ mà đối với họ việc đổi giờ ăn trưa có thể là sự thay đổi lớn hơn là thay đổi nghề nghiệp). Tương tự, đối với những người tạo sự thay đổi - mang lại sự thay đổi về trí tuệ - cũng có trường hợp tương phản như vậy. Một giáo viên quyết định cho bài kiểm tra vào thứ 5 thay vì thứ 6 và do đó ảnh hưởng tới lịch học hàng tuần của tôi, tối đa chỉ mang lại sự thay đổi rất nhỏ trong đầu tôi. Nhưng với một giáo viên dẫn dắt tôi trong con đường học tập, động viên tôi tiếp tục theo đuổi một đề tài dù khóa học đã kết thúc, thì người đó đã ảnh hưởng đến tư duy của tôi một cách căn bản.
Tôi sẽ tập trung vào những thay đổi tư duy diễn ra một cách có ý thức, tức là kết quả của những yếu tố có thể xác định được (chứ không phải là của sự sai khiến, lôi kéo tinh vi). Tôi chỉ khảo sát những người muốn tạo ra sự thay đổi tư duy và làm điều đó một cách thẳng thắn và minh bạch. Các trường hợp ví dụ của tôi bao gồm những nhà lãnh đạo chính trị như Thủ tướng Margaret Thatcher, người thay đổi hướng đi của Vương quốc Anh những năm 1980; những nhà lãnh đạo doanh nghiệp như John Browne, bây giờ là Lord Browne, người đã thay đổi hoạt động của tập đoàn dầu khí khổng lồ BP của Anh thập kỷ 90 (thế kỷ XX); nhà sinh vật học Charles Darwin, người đã chuyển hóa cách suy nghĩ của các nhà khoa học (và cả những người ngoài giới chuyên môn) về nguồn gốc con người; gián điệp Whittaker Chambers, người đã có những thay đổi dữ dội trong tư tưởng, làm biến đổi bức tranh chính trị của Mỹ đầu những năm 1950; và những người ít nổi tiếng hơn như các giáo viên, thành viên trong gia đình, đồng nghiệp, nhà trị liệu, và những người yêu nhau, họ thay đổi tư duy của những người xung quanh mình.
Trọng tâm chủ yếu của tôi là những đối tượng thay đổi tư duy thành công, nhưng tôi cũng xét đến những trường hợp thất bại của các nhà lãnh đạo chính trị, lãnh đạo doanh nghiệp, giới trí thức và những người muốn thay đổi tư duy khác. Cũng xin nói rằng, tôi sẽ không bàn đến những thay đổi vì bị ép buộc, hay là kết quả của sự lừa đảo hoặc mánh khóe. Tôi sẽ giới thiệu 7 nhân tố - từ lý luận cho đến sự phản đối - có tác động riêng lẻ hoặc cùng nhau để tạo nên những thay đổi tư duy có ý nghĩa; và cách chúng tác động trong các trường hợp cụ thể khác nhau. Tất nhiên tôi cũng biết rằng thay đổi không phải lúc nào cũng diễn ra bởi ý định của những người tạo ra sự thay đổi hay bởi ước nguyện của những người có tư duy đã được thay đổi; một số tác động sẽ mang tính gián tiếp, khó thấy, dài hạn, không định trước, hay thậm chí ngoan cố.
Thường nghệ sĩ là những người tiên phong trong việc khai phá các lĩnh vực mà sau này được các học gia tìm hiểu một cách thiết thực hơn. Quả vậy, tiểu thuyết gia kiêm nhà văn tiểu luận Nicholson Baker đưa ra một ví dụ rất hay về thay đổi tư duy và - thú vị hơn - ông lý giải một cách trực giác về quá trình thay đổi tư duy đó[1]. Baker nhớ lại một chuyến xe buýt ông đi từ New York City đến vùng nông thôn Rochester. Có hai việc cùng diễn ra trên chuyến xe này đã khiến Baker suy ngẫm về quá trình thay đổi tư duy.
Đầu tiên, tại một trạm trên đường đi, người lái xe buýt tìm thấy một chiếc giày lạc. Ông hỏi chiếc giày là của ai. Khi không có hành khách nào lên tiếng, người lái xe đã ném chiếc giày vào một thùng rác gần đó. Tại trạm sau của chuyến đi, một hành khách trông vẻ tội nghiệp đã hỏi người lái xe liệu có thấy chiếc giày nào không. Người lái xe cho người khách biết rằng ông hỏi quá muộn và chiếc giày đã bị vứt đi ở khu vực lân cận vùng Binghamton.
Baker so sánh việc quyết định ném chiếc giày với một quyết định diễn ra chậm hơn nhiều - thực chất, là sự thay đổi tư duy của chính ông. Trong cùng chuyến đi, nhà văn bắt đầu mơ tưởng về cách trang trí căn hộ của mình. Cụ thể, ông nghĩ về cách trang trí giàu sức tưởng tượng cho các chỗ ngồi: ông sẽ mua và lắp đặt những hàng xe nâng màu vàng và máy đào màu cam trong căn hộ. Khách đến nhà có thể ngồi lên dây chăng giữa các khung nâng của xe nâng hoặc có thể ngồi trong những gàu xúc của máy đào. Trong lúc Baker đang tính xem sàn nhà ông có thể chịu được trọng lượng bao nhiêu cái xe nâng thì người khách không may kia hỏi tìm chiếc giày của mình trong vô vọng.
Baker nghĩ lại về những gì diễn ra trong 5 năm kể từ khi ông bắt đầu hình dung về cách trang trí khác thường này: “Tôi thấy rằng, tôi đã thay đổi cách suy nghĩ của mình dù không nhận biết điều đó. Tôi không còn muốn sống trong một căn hộ được trang trí với những chiếc xe nâng và máy đào. Đâu đó tôi đã vứt bỏ sở thích này một cách dứt khoát như việc người lái xe buýt ném chiếc giày phải của người đàn ông lạ lùng đáng thương [chữ in nghiêng của Baker]. Mặc dù trong quá trình thay đổi diễn ra, tôi không trải nghiệm một thời khắc phân vân hay nghi ngờ nào về máy đào cả”[2].
Baker tiếp tục suy ngẫm về bản chất kỳ lạ của những thay đổi tư duy diễn ra dần dần - những thay đổi dạng như sự chia xa của 2 người bạn, sự thay đổi về thị hiếu thẩm mỹ, sự biến đổi trong nhận thức hay niềm tin về chính trị. Ông thấy rằng sự thay đổi tư duy đa số là kết quả của một quá trình diễn ra chậm và hầu như không xác định được, chứ không hẳn là vì bất kỳ luận điểm hay sự nhận thức bất chợt nào. Hơn nữa, chúng ta thường chỉ nhắc đến sự sáng suốt đột nhiên sau khi sự kiện đã trở thành những câu chuyện chúng ta kể với bản thân và với người khác để giải thích cho sự thay đổi của mình. Ông kết luận sự suy ngẫm của mình mang đặc điểm của loại thay đổi tư duy mà tôi đang tìm hiểu: “Tôi không cần câu chuyện của người giáo viên sợ-nhưng-quý, hay cuốn sách có tác động sấm sét, hay những năm học miệt mài nhưng cuối cùng lại suy sụp hão huyền, hay vòng kìm kẹp của sự ăn năn: Tôi muốn mỗi sự thay đổi tư duy với tính chân thực, xương xẩu, phi lý, rắc rối, với tất cả những luồng trí tuệ đầy màu sắc vẫn còn dải buộc bay phấp phới trong gió”[3].
Từ góc nhìn về một hiện tượng, Baker đã nắm bắt rõ ràng trải nghiệm mà tất cả chúng ta đều có với hai loại thay đổi tư duy khác nhau: một loại là dạng quyết định có vẻ đột ngột, như việc ném chiếc giày ra ngoài cửa sổ; loại kia là dạng quyết định có được một cách dần dần, thậm chí có lẽ còn không thể nhận ra qua một thời gian dài, giống như việc một người thay đổi khẩu vị vậy. Tôi tin rằng Baker đã đúng trong việc khẳng định rằng những thay đổi có ý thức dù diễn ra một cách đột ngột thường vẫn ẩn giấu quá trình tinh tế hơn, những cái được tích tụ qua một thời gian dài. Tuy nhiên, trường hợp thay đổi tư duy cá nhân chỉ là một phân cấp: Trong nhiều trường hợp, các đối tượng khác - như người lãnh đạo, giáo viên, các nhân vật truyền thông - đóng một vai trò quyết định trong việc thay đổi tư duy, dù là đột ngột hay nổi bật.
Cần phải có lời giải thích cho tất cả những hình thức thay đổi tư duy này. Các nhà khoa học xã hội có thể và nên giải nghĩa những điều khó hiểu đối với tiểu thuyết gia hay nhưng người tác động đến ông. Trong cuốn sách này, tôi xác định (1) các tác nhân và tác lực khác nhau dẫn đến sự thay đổi tư duy, (2) các công cụ được sử dụng, và (3) 7 yếu tố quyết định thành công của thay đổi tư duy. Đồng thời tôi muốn thể hiện tính hiệu quả của cách giải thích dựa trên ý thức của tôi, so với những cách lý giải khác dựa trên các yếu tố sinh học, hay các yếu tố văn hóa lịch sử.
Trước khi chúng ta tìm hiểu về đối tượng và công cụ cụ thể tạo ra sự thay đổi tư duy, cho phép tôi nói rõ ý khi đề cập đến những điều diễn ra trong “tư duy”. Mặc dù cả tôi và Baker đều nói về thay đổi tư duy, nhưng rõ ràng cái tôi đang viết (và có thể cũng là cái ông đang viết) cuối cùng đều liên quan đến những thay đổi về hành vi. Những thay đổi diễn ra “bên trong tư duy” có thể là mối quan tâm của giới học thuật, nhưng nếu chúng không tạo ra những thay đổi hành vi trong hiện tại hay tương lai, thì chúng không phải là đối tượng được quan tâm ở đây.
Vậy, tại sao không đơn giản là chỉ nói về hành vi? Tại sao phải mang tư duy vào thảo luận? Vì vấn đề mấu chốt của thay đổi tư duy là sản sinh ra sự chuyển biến “những biểu hiện trí tuệ” của một cá nhân - là cách nhận thức, đặt tên, duy trì và tiếp cận thông tin riêng biệt của mỗi người, ở đây, chúng ta sẽ đi thẳng vào lịch sử tâm lý học - một cách suy nghĩ về tư duy con người, cho phép chúng ta trả lời câu hỏi: Cần phải làm gì để thay đổi tư duy?
❀ ❀ ❀
[1] “Change of Mind” của Nicholson Baker, trong The Size of Thoughts: Essays and Other Lumber, ấn bản Nicholson Baker (New York: Random House, 1982/1996), tr. 5-9. Tôi xin cảm ơn Alex Chisholm về đoạn trích này.
[2] “Change of Mind” của Nicholson Baker, trong The Size of Thoughts: Essays and Other Lumber, ấn bản Nicholson Baker (New York: Random House, 1982/1996), tr. 5.
[3] “Change of Mind” của Nicholson Baker, trong The Size of Thoughts: Essays and Other Lumber, ấn bản Nicholson Baker (New York: Random House, 1982/1996), tr. 9.