Chúng ta có thể rút ra nhiều bài học từ trường hợp công ty BP. Nhưng có lẽ điểm chính yếu là với tư cách là người lớn, chúng ta cần phải luôn cởi mở để thay đổi tư duy và cho phép các tác động bên ngoài thay đổi tư duy chúng ta. Cần phải nuôi dưỡng thói quen liên tục học hỏi; biến nó thành việc mà chúng ta vẫn làm ngay cả “khi không ai nhìn vào”, như nhà sư phạm Theodore Sizer đã nói.
Đúng vậy, ngày nay việc học hỏi suốt cả đời này quan trọng hơn bao giờ hết. Thời xưa có thể người ta chỉ cần hoàn thành các năm học chính quy trong thời thơ ấu hay thời thanh niên, sau đó giữ nguyên tình trạng trong suốt phần đời còn lại. Công việc thay đổi rất chậm, công ty và nhân viên trung thành với nhau, vì vậy cần rất ít hoặc không cần phải học gì thêm. Mấy ai ngờ rằng ngày nay chúng ta đã vượt qua ranh giới giữa một công việc bảo đảm cả đời với một thị trường nghề nghiệp hỗn tạp. Không thể gọi là một nghiệp nếu không học hỏi cả đời cho nghề đó. Các điều kiện làm việc trên toàn cầu thay đổi ở các tốc độ khác nhau. Những gì có thể đều sẽ trở thành tự động hóa. Những ai có thế đón đầu cơ hội sẽ dễ dàng có vị trí tốt hơn; những ai ngủ quên trên chiến thắng với đầu óc lạc hậu sẽ trở nên lỗi thời và - tôi có thể thêm - sẽ không có nghề nghiệp gì.
Tự thay đổi tư duy của chính mình là một công việc khó khăn. Vì bản thân cá nhân đã quen với việc có những người hậu thuẫn thường là bố mẹ, thầy cô, và những người được giao nhiệm vụ chuyển tải tri thức và kỹ năng khác (theo học giả về phát triển Lev Vygotsky đã giới thiệu trong chương 3). Người học tập suốt đời cần phải biết cách quan sát những thay đổi trong các phạm trù liên quan. Việc quan sát đó có thể được thực hiện một phần khi nói chuyện với người khác, một phần khi quan sát họ, nhưng nói chung nó gắn liền với các nghiên cứu có mục đích qua sách vở, qua những trang web liên quan, qua những chương trình của các trường “tiếp tục giáo dục” cho người lớn. Dù làm nghề gì cũng cần phải theo dõi những gì đang diễn ra và những gì người khác đang suy nghĩ trên toàn cầu. Đó là cách để cập nhật nội dung cho tư duy.
Cũng cần phải hiểu cách hoạt động của tư duy bản thân: Những người thay đổi tư duy hiệu quả nhất xây dựng các hình mẫu trí tuệ chính xác cho tư duy của họ. Một số khía cạnh trí tuệ đúng với tất cả mọi người; ví dụ, tất cả chúng ta đều sẽ học nhanh hơn khi sử dụng kiến thức mới thường xuyên và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Nhưng một số khía cạnh trí tuệ khác lại có đặc trưng riêng. Tôi học nhanh nhất khi đọc văn bản và có thể xem đi xem lại vài lần. Người khác lại thích học từ những bài nói ngắn gọn, từ bài giảng, từ các cuộc đối thoại hay tranh luận sôi nổi. Khi đọc một mục trong tờ Scientific American tôi luôn bắt đầu đọc phần chữ trước, thậm chí ngay cả khi xem xét một đồ thị tôi cũng thường đọc lời chú giải trước. Nhưng nhiều người khác lại tiếp cận các ấn bản khoa học theo cách ngược lại: xem hình ảnh, đồ thị, hay bản vẽ trước và chỉ đọc đến phần giải thích khi không hiểu những thứ kia. Tôi tránh các trang web càng nhiều càng tốt, và khi lướt web tôi xem chúng như những văn bản viết và in chúng ra càng nhanh càng tốt. (Ngược lại, tôi sẽ lật tự điển Webster mới hay tự điển tiếng Anh Oxford cũ ngay khi cần). Nhiều người khác lại đám chìm trong các loại hình ảnh, hiếm khi vào đường dẫn đến trang web khác mà họ không muốn xem, và tránh lệnh “in”.
Người nào biết rõ về tư duy của mình - biết làm thế nào để tư duy học tập nhanh nhất - sẽ có thể thay đổi tư duy hiệu quả nhất. Trước đây người lớn chỉ có một vài chọn lựa để học tiếp – chủ yếu là đại học - thì ngày nay có vô số hình thức học tập, những tổ chức giáo dục cho người lớn, “những chuyến cắm trại nâng cao nhận thức” vào cuối tuần hay ngày hè, hay những chi nhánh đào tạo (hoặc thậm chí những trường đại học của các tập đoàn) với quy mô tổ chức lớn đều được triển khai để hỗ trợ cho quá trình thay đổi tư duy. Việc đào tạo trong doanh nghiệp hiện nay chẳng hạn, chiếm ít nhất 100 tỷ đô la một năm.
Các tổ chức giáo dục đến nay vẫn tiếp tục công việc thay đổi tư duy ở số đông; nghĩa là họ tập trung các cá nhân vào một nhóm và tìm chiến lược chung hiệu quả nhất để thay đổi tư duy. Sự sáng tạo ra nhiều công nghệ mới hiệu quả đã thay đổi tình hình hoàn toàn: dù giáo dục cho số đông vẫn chiếm ưu thế, nhưng bây giờ chúng ta đã có thế tự do cá nhân hóa việc dạy dổ và đánh giá ở mức chúng ta muốn. (Tôi đoán rằng phương thức giảng dạy và đánh giá đa dạng sẽ trở thành quy chuẩn trong những thập kỷ sắp tới). Ngược lại, trong tổ chức giới hạn hơn – với các chuyên gia hay với lượng đối tượng đồng nhất - thì động lực hướng dẫn cho từng cá nhân lại giảm sút. Chúng ta sẽ tìm một công thức chung hiệu quả nhất cho cả nhóm, hay nếu có một số chiên lược khác nhau (như khi sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau), chúng ta sẽ trình bày những lựa chọn này cho toàn bộ nhóm.
Tuy nhiên, khi bước vào lĩnh vực tư duy của bản thân, đương nhiên sẽ không cần tìm các giải pháp chung. Ví dụ một người giàu thuê gia sư cho con: nhiệm vụ của người gia sư là bảo đảm đứa trẻ này học những gì nên học, và người gia sư phải thiết lập giáo trình càng phù hợp với trẻ càng tốt. Vì vậy, tương tự, khi làm gia sư cho chính mình, điều quan trọng là phải biết càng nhiều càng tốt về tư duy của mình, về khuynh hướng và thói quen học tập của mình, nắm bắt chúng để tìm “phương pháp sư phạm” và “giáo trình” phù hợp tối ưu với đặc trưng riêng của mình về lĩnh vực mình giỏi hay dở.
Tôi gọi sự thay đổi này là thay đổi tư duy ở phạm vi gần gũi. Trong 2 chương tiếp theo, tôi sẽ xem xét các hình thức thay đổi tư duy gần gũi nhất: các thay đổi diễn ra giữa những người có mối quan hệ gần gũi (chương 8) và những thay đổi trong mối quan hệ gần gũi nhất - đó là tư duy của bản thân (chương 9).