Trong lĩnh vực khiêu vũ, âm nhạc, văn chương, phim ảnh, hay trong hội họa và điêu khắc tinh túy, những người sáng tạo nghệ thuật sẽ thay đổi tư duy chủ yếu thông qua giới thiệu các ý tưởng, kỹ năng và ứng dụng mới. Họ hiếm khi sử dụng các lý thuyết, ý kiến và khái niệm như những nhà khoa học hay nhà tư tưởng, cũng như không sử dụng các câu chuyện như những người lãnh đạo quốc gia hay các nhóm đồng nhất, để tạo ra sự thay đổi tư tưởng trên một quy mô lớn. Tương tự, thay vì sử dụng năng khiếu ngôn ngữ, các nghệ sĩ lại dùng nhiều hình thức thể hiện trí tuệ khác nhau thông qua các hệ thống hình tượng truyền thống và đổi mới đa dạng: nhà sáng tác nhạc thì có năng khiếu âm thanh, họa sĩ thì có năng khiếu về không gian, nghệ sĩ múa có năng khiếu vận động,... Có thể đạt được điểm quyết định thay đổi khi các nghệ sĩ đồng môn thay đổi cách sáng tác và các khán giả thay đổi thị hiếu thẩm mỹ.
Đầu thế kỷ XX nhìn chung được xem là bước ngoặt trong lĩnh vực nghệ thuật, dẫn đến một sự thay đối lớn về cách suy nghĩ và cảm xúc. Chủ nghĩa kinh điển mà chúng ta thấy trong thế kỷ XVII và XVIII - thể hiện qua các vở kịch của William Shakespeare và Jean-Baptiste Moliere, các tác phẩm âm nhạc của Franz Joseph Haydn và Wolfgang Amadeus Mozart, các bức họa của Thomas Gainsborough và Nicolas Poussin - đã tạo nên chủ nghĩa lãng mạn trong thế kỷ XIX - qua các tiểu thuyết của Victor Hugo và chị em nhà Bronte, qua âm nhạc của Hector Berlioz và Richard Wagner, qua các bức họa của Eugene Delacroix và J.M.W.Turner. Nhưng đến thế kỷ XX, tinh thần lãng mạn đã dần suy giảm; các đột phá khoa học và công nghệ, cũng như những đổi thay trong làn gió chính trị đã báo hiệu sự bắt đầu của một thời đại mới.
Trong mỗi loại hình nghệ thuật có vài nhân vật nổi bật tiên phong đi theo chủ nghĩa hiện dại. Trong âm nhạc cổ điển, nhạc sĩ người Nga Igor Stravinsky và nhạc sĩ người Áo Arnold Schoenberg đã thách thức khóa nhạc và tạo ra các cách ghi nhạc mới xuất sắc thống trị trong sáng tác nhạc cổ điển qua hàng thập kỷ. Trong hội họa, Pablo Picasso (từng làm việc với Georges Braque) đã phá vỡ chủ nghĩa hiện thực và trường phái ấn tượng từng thống trị qua nhiều thế kỷ, và tạo ra các tác phẩm lập thể xuất chúng từ nhiều mảng màu. Picasso cũng đặt nền móng cho nghệ thuật trừu tượng triệt để kết hợp với “trường phái New York” những năm 1950. Trong văn chương, những người có sức ảnh hưởng to lớn bao gồm nhà thơ T.S.Eliot, tiểu thuyết gia Marcel Proust, Virginia Woolf, và James Joyce, cùng nhà biên kịch Bertolt Brecht và Luigi Pirandello. Với nghệ thuật múa, (có thể nói) nghệ sĩ múa tiên phong người Mỹ Ruth St. Denis đã đạp đổ những rào cản, và sau đó các hình thái mới được tạo ra bởi người bảo trợ St. Denis, Martha Graham (và đối thủ của Graham là Doris Humphrey), cũng như bởi Merce Cunningham, George Balanchine, Paul Taylor, Pina Bausch, và những nghệ sĩ múa và biên đạo múa hàng đầu khác.
Đối với các nghệ sĩ này, ý tưởng không thể mô tả bằng lời - hay, như đã nêu, bằng các khái niệm, câu chuyện hay lý thuyết. Họ sử dụng những phương tiện hay các hình thức tương ứng để truyền đạt cho mọi người hiểu cái nhìn của cá nhân họ qua cách sử dụng ánh sáng và màu sác, âm thanh và nhịp điệu, hình ảnh ẩn dụ và vần thơ, những dịch chuyển cơ thể và biểu lộ nét mặt. Các ý tưởng của Darwin hay Einstein, Gilligan hay Harris, có thể được người khác diễn giải và mô tả qua sách vở. Còn tư tưởng của Picasso, Schoenberg, Woolf, và Graham chỉ có thể nắm bắt được bởi những người hiểu biết bản chất của các phương tiện hay các hệ thống hình tượng - nghĩa là các loại hình nghệ thuật - mà các vĩ nhân này sử dụng, qua đó họ có thể hiểu được giá trị đột phá mà các nghệ sĩ này tạo nên.
Vậy các nghệ sĩ có tư tưởng sâu rộng đó thay đổi tư duy bằng cách nào? Họ không hề đưa ra ý kiến hay tuyên bố gì để mọi người có thể bày tỏ đồng ý hay phản đối – trừ trường hợp sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ. Vì vậy, yếu tố lý luận và nghiên cứu đặc biệt không cần thiết. Hầu hết các nghệ sĩ cũng không có sẵn những nguồn lực lớn, và chỉ một vài người trong số họ (như Picasso hay Hemingway) là có phản ứng với các biến cố trên thế giới (như cuộc nội chiến Tây Ban Nha chẳng hạn).
Tôi cho rằng các nghệ sĩ bậc thầy thay đổi tư duy của chúng ta theo 3 cách. Thứ nhất, họ mở rộng ý niệm của chúng ta về những gì đã có trong thế giới nghệ thuật. Trước Picasso, không mấy ai cho rằng nghệ thuật vĩ đại có thể được tạo ra từ các mảnh ghép theo phong cách lập thể, chứ chưa nói đến những tạo hình hình dáng đơn thuần. Tương tự, ngay cả những người khao khát yêu âm nhạc nhất của thế kỷ XIX cũng không thể tiêu hóa được các đoạn nhạc không theo thang âm và nghe rất chói tai trong tác phẩm Rite of spring của Stravinsky hay tác phẩm Pierrot Lunaire của Schoenberg (bậc tiền bối tài năng nhất của họ, nhà soạn nhạc Claude Debussy, cũng không hiểu nổi các tác phẩm không chính thống đầu thế kỷ XX này). Có thể nói rằng những cá nhân này phát triển các kỹ năng mới trong một lĩnh vực và đòi hỏi các đối tượng khán giả của họ cũng phát triển đồng bộ những kỹ năng giác quan bổ sung. Thứ hai, các nghệ sĩ thay đổi tư duy bằng cách khai thác những chủ đề chưa từng có trong nghệ thuật: Cunningham và Balanchine biểu diễn chỉ với hình dáng cơ thể đơn thuần, độc lập với cốt truyện vở kịch, trong khi Woolf và Joyce khám phá dòng chảy của ý thức con người. Thứ ba, các nghệ sĩ giúp chúng ta hiểu, thực ra giúp chúng ta xác định, tinh thần của một thời đại. Có thể là hơi quá nếu nói rằng thời hiện đại được tạo ra bởi các bức họa như bức Les Desmoiseỉỉes d’Avignon của Picasso, bởi các tiểu thuyết như cuốn Ulysses của Joyce, hay bởi các sáng tác như bản Les Noces của Stravinsky, nhưng có thể những hiểu biết của chúng ta về thời đại của các nghệ sĩ này sẽ rất nghèo nàn nếu thiếu đi các chủ đề và hình thức được thể hiện trong các tác phầm mang tính lịch sử đó.
Theo tôi, các nghệ sĩ tiên phong đó chủ yếu dựa vào 3 yếu tố đòn bẩy: mô tả ý tưởng theo nhiều cách khác nhau, tính chất cộng hưởng, và sự chống đối. Vì bản chất nghề nghiệp, các nghệ sĩ luôn sử dụng một loại phương tiện, và điều đó đòi hỏi rất nhiều hình thức sử dụng khác nhau. Picasso đã từng nói vui rằng hội họa là một loại khoa học, trong đó các bức họa là những thí nghiệm. Không khó để sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật mang tính cách tân, nhưng không dễ để tạo ra một tác phẩm hay hàng loạt tác phẩm có thể cộng hưởng với những khán thính giả am hiểu, và sau đó là với đại bộ phận công chúng. Quả vậy, thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều nghệ sĩ tuy thành công trong giới chuyên môn tinh tế nhất (còn gọi là succes d’estime - thành quả được đánh giá cao trong giới phê bình hơn là công chúng) nhưng không tạo được sự cộng hưởng với các khán thính giả nói chung. Nói theo cách của chúng tôi là sự phản kháng đối với các tác phẩm cách tân này quá lớn. Để đạt được sự chấp nhận của công chúng, người nghệ sĩ bằng cách nào đó phải trung hòa sự phản đối – giống như trường hợp người kể chuyện tài năng cố gắng làm suy yếu những câu chuyện đối lập phổ biến.
Tất cả các thành quả đột phá mà chúng ta đã xem xét đến nay - trong nghệ thuật, trong nghiên cứu học thuật, hay trong khoa học – đều là những chiến thắng gian khổ từ vô số các thất bại trong sáng tạo. Chúng ta tưởng nhớ và vinh danh một số ít các nhà khoa học và nghệ sĩ có thành quả trường tồn với thời gian và tạo nên nhận thức của chúng ta. Chúng ta quên đi hàng ngàn người chỉ tạo được tác động nhỏ, những đóng góp cũng như tên tuổi bị mất hút trong lịch sử, chưa kể vô số những người đã góp phần xây dựng các kim tự tháp cổ Ai Cập, hay các nhà thờ thời Trung cổ ở châu Âu. (Để lấy lòng T.S.Eliot, một nhà văn thân cận đã có lần tuyên bố một cách thương hại rằng: “Ôi, những nhà biên tập. Họ chỉ là những nhà văn thất bại”. Eliot trả lời: “Đúng thế, hầu hết nhà văn nào cũng vậy”). Ngoài ra, như nhà tâm lý học Dean Keith Si-monton cho biết những người sáng tạo được vinh danh nhất không chỉ có nhiều tác phẩm hơn những người đồng môn, mà cũng có nhiều thất bại hơn; ý kiến cho rằng các tác phẩm của cùng một bậc thầy đều xuất sắc như nhau là một sai lầm lớn[1]. Những ai có liên quan đến một loại hình nghệ thuật nào đó sẽ có khái niệm về các chuẩn mực của loại hình nghệ thuật đó, về những thứ họ thích hay không thích, về cách suy nghĩ về thời đại và con nguời. Nhiều tác phẩm mới được tạo ra tương đồng với các khái niệm chung này. Chúng ta có thể hài lòng về những tác phẩm đó nhưng - như câu chuyên được lặp lại - chúng không thể gây sửng sốt cho chúng ta. Mà chỉ như các chương trình truyền hình hay phim ảnh điển hình chúng làm chúng ta cảm thấy thích thú lúc đó nhưng nhanh chóng phai mờ trong ý thức và để lại rất ít hoặc không còn dấu vết gì trong trí nhớ của chúng ta. Những tác phẩm khác biệt quá cơ bản so với chuẩn mực có thể không thu hút được khán giả hoặc thậm chí chả được ai nghe hay nhìn đến. (Ngày nay, phải thừa nhận rằng có vẻ chỉ những tác phẩm tách khỏi nền móng củ mới thu hút được chú ý, nhưng nói chung sự chú ý đó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Không gì đáng chán bằng chỉ đơn thuần đổi mới liên tục).
Tôi tin rằng không chỉ mình tôi còn nhớ về những trải nghiệm nghệ thuật đầy xúc động có tác động thay đổi tư duy. Biết đến chủ nghĩa hiện đại từ những năm đại học, nhận thức về nghệ thuật của tôi được định hình bởi các nghệ sĩ tôi đã nhắc tới ở trên: đặc biệt là Stravinsky, Picasso, Eliot, và Graham. Những thay đổi sở thích lớn như vậy không diễn ra thường xuyên trong một đời người – trừ trường hợp những người chuyên kiến tạo thị hiếu hoặc chuyên phá bỏ các giá trị chính thống. Tôi vẫn còn nhớ các trải nghiệm nghệ thuật gần đây cũng góp phần mở rộng tư tưởng của tôi; chẳng hạn như đọc truyện ngắn của Raymond Carver và thơ của Adam Zagajewski, xem phim của Ingmar Bergman, thưởng thức tranh của Mark Rothko, hay thăm những không gian nghệ thuật của James Turrell. Mỗi nhà sáng tạo sử dụng một loại hình biểu tượng, biến đổi các hình thức thể hiện cho phù hợp với loại hình đó. Chắc chắn những trải nghiệm nghệ thuật, với hình thức thể hiện đặc trưng riêng của mỗi loại, đã thay đổi tư tưởng của tôi, và tôi cũng rất lạc quan tin tưởng rằng nhận thức của mình vẫn sẽ thay đổi khi tiếp xúc với các tác phẩm hay những người sáng tác có sức ảnh hưởng tương tự. Các thành tựu sáng tạo này sẽ tiếp tục tác động đến cách làm việc của những nghệ sĩ khác, cũng như đến đặc trưng thị hiếu của riêng tôi.
Những người lãnh đạo gián tiếp có thể thay đổi tư duy nhờ vào nhiều yếu tố đòn bẩy khác nhau. Nhưng trong số đó, sự phản kháng (resistances) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quyết định có chấp nhận hay không một lý thuyết hoặc một tác phẩm sáng tạo.
❀ ❀ ❀
[1] Greatness của Dean Keith Simonton (New York: Guilford, 1994).