Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 207 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
SỰ THAY ĐỔI ĐỨC TIN CỦA DAMASCUS, LUTHER, VÀ NHỮNG NGƯỜI THEO THUYẾT CHÍNH THỐNG

❊ ❊ ❊

Có lẽ sự thay đổi tư duy nổi tiếng nhất trong mọi thời đại là của Rabbi Saul ở Tarsus thế kỷ đầu sau Công nguyên. Là kẻ ngược đãi những người Cơ đốc giáo và vì vậy ông dấn thân vào chuyến du hành đến Damascus để đàn áp giáo phái mới và rắc rối này, khi đó Saul tạm thời bị mù. Ông nghe giọng nói rền như sấm “Tại sao ngươi ngược đãi ta?”. Khi đến Damascus, Saul (bây giờ là Paul) mắt đã sáng trở lại và cải đạo theo Cơ đốc giáo. Ông nghiên cứu về cuộc đời của Chúa và trở thành người dẫn đầu - hay một tông đồ - của đạo Cơ đốc giáo: ông tập trung vào công tác truyền giáo, xây dựng nhà thờ, thiết lập nên học thuyết, và viết những thứ truyền giáo giảng giải về đức tin. Paul đã nhận thấy sai lầm của con đường ông đi, trải qua một cuộc cải đạo sâu sắc, và có thể sử dụng các trải nghiệm cá nhân để làm cơ sở giao tiếp với người khác nhằm thuyết phục họ thay đổi lòng trung thành tôn giáo. Theo ngôn ngữ của chúng tôi, có thể nói rằng một sự kiện thật trong thế giới của Paul đã châm ngòi cho sự thay đổi tư tưởng sâu sắc này của ông - một sự thay đổi cộng hưởng với chính ông và cuối cùng là cộng hưởng với hàng triệu người khác.

Thay đổi đức tin là những trải nghiêm cá nhân mãnh liệt. Nói chung chúng ta đi theo tín ngưỡng của cha mẹ, và phạm vi tín ngưỡng của một người là sản phẩm kết hợp giữa tín ngưỡng của gia đình cùng với thiên hướng trở thành một “tín đồ”[1], theo lời của Eric Hoffer, của bản thân người đó. Sẽ có ít động cơ thay đổi tôn giáo khi tất cả những người xung quanh cũng có cùng tôn giáo, khi vấn đề đức tin có vai trò tương tự đối với những người đồng lứa, và khi trong đời người chỉ có các biến cố tương đối êm đềm.

Sự thay đổi tư duy trong lĩnh vực tôn giáo, như sự thay đổi của Martin Luther đầu thời kỳ hiện đại, vì thế có tầm quan trọng rất lớn. Luther là một thầy tu người Đức tận tụy, theo phong cách của lý tưởng tuổi trẻ, ông cố gắng sống theo những lời giáo huấn của đức tin Thiên chúa giáo có sẵn. Nhưng Luther phát hiện xung quanh ông có những dấu hiệu cho thấy bản thân Nhà thờ cũng có nhiều sai phạm. Các linh mục chỉ quan tâm đến việc tâng bốc chính mình, chứ không giúp người nghèo và những người trung thành. Rome là trung tâm của quyền lực và mưu mô chứ không phải là thánh địa của tâm linh. Những người Thiên chúa giáo bình thường cảm thấy muốn xa lánh vì ngôn ngữ tách biệt, vì những việc làm giảm đức tin, vì sự lười nhác của giới tăng lũ, và vì sự mua bán bừa bãi đặc quyền và sự chuộc tội. Luther cảm thấy linh hồn mình được cứu rỗi khi trở về với Kinh thánh và với những thông điệp của Chúa về đức tin và tình yêu. Ông không phải là người dị giáo đầu tiên lên tiếng về sự bất mãn và, trong vòng vài năm, đã biến thành hành động. Nhưng ông nổi bật vì đã công khai rời bỏ Nhà thờ, tấn công Giáo hoàng, và tìm cách thiết lập một nhà thờ cải cách ở Đức. Sự chống đối của ông là thành công chưa từng có trước đây, và trong vòng vài thập kỷ hàng triệu người Cơ đốc giáo đã đi theo nhà thờ cải cách của ông. Giống như Saul, những biến cố diễn ra trên thế giới đã thúc đẩy Luther và ông đã có thể mô tả sự giác ngộ (revelation) của ông - lại một chữ “re” nữa - theo cách có sự cộng hưởng với những người Cơ đốc bình thường trong thế kỷ XVI và các thế kỷ tiếp theo.

Trong tất cả thay đổi về tư tưởng tôn giáo, thì những thay đổi lớn nhất ngày nay liên quan đến chủ nghĩa chính thống. Đương nhiên, mỗi tôn giáo đều có các luồng tư tưởng chính thống, nhưng các tư tưởng thu hút được nhiều sự chú ý nhất trong nước Mỹ đương đại là những nhánh chính thống của Đạo tin lành. Những người theo thuyết chính thống của Đạo cơ đốc trung thành với kinh thánh. Không ngừng nghiên cứu về các văn bản kinh thánh, những tông đồ này cho rằng có thể hiểu những gì đã xảy ra trong quá khứ để sống một cuộc đời tốt đẹp hôm nay và để dự đoán các sự kiện tương lai. Những người theo tư tưởng chính thống sống trong các cộng đồng gắn bó chặt chẽ, nơi họ hỗ trợ lẫn nhau trong việc giải thích các sự kiện, phát triển các luận điểm chống lại những người ngoại đạo, và nỗ lực hết sức để tránh những cám dỗ của thế giới hiện đại và trần tục.

Từ những nghiên cứu khoa học xã hội, chúng tôi biết rõ về những người theo chủ nghĩa chính thống cũng như biết về lý do các cá nhân đó rời bỏ giáo phái này[2]. Rất nhiều, nếu không nói là đa số những người cài đạo đều xuất thân từ những gia đình không hạnh phúc: các nhân tố chung thường là gia đình tan vỡ, có nền tảng cơ bản là lạm dụng và bạo lực, và sự không chắc chắn về nhân thân của cha mẹ. Như nhà xã hội học Chana Willman đã mô tá “khoảng thời gian 2 năm trước khi cải đạo, đa số những người cải đạo đều chìm trong tuyệt vọng, trống rỗng, và sự ghẻ lạnh từ những người khác; họ nghi ngờ về giá trị bản thân, sợ hãi bị ruồng bỏ và không thể kiềm chế giận dữ”[3]. Những người chuẩn bị cải đạo thường gặp nhiều khó khăn, bị suy sụp bởi các biến cố, và cảm thấy bản thân đang chống lại các quan điểm và tư tưởng của những người xung quanh. giữa tuyệt vọng, những người này gặp được một cộng đồng ấm áp, sẵn sàng đón nhận, và ủng hộ. Không hề bị chất vấn gì, linh hồn lạc lối được cộng đồng đón nhận và cảm thấy là một phần không thể thiếu của cộng đồng này. Đáp lại, cuối cùng họ phải làm một việc: chấp nhận những giáo huấn chính yếu của giáo phái mà không phàn nàn gì. Hãy xem lời chứng của một người đã từng theo trào lưu chính thống David Coffin:

Điều quan trọng là các thanh viên Cơ đốc giảo chính thống sẽ đi tới đầu đường xó chợ, các quán rượu rác rưởi, hay các gia đình với cơn ác mộng kinh khủng và đưa ra sự chọn lựa sống sót với những quy định nghiêm ngặt, những quan điểm nhìn đời “trắng đen” rõ ràng, và cũng cấp một cộng đồng hậu thuẫn, tình hằng hữu, và sự tương tác đã được thiết lập sẵn. Liệu từ đâu có thể có một người hoàn toàn xa lạ bước ra để chia sẻ thức ăn cho bữa ăn tối, cất cao giọng hát, bất tay và ôm mọi người? Trái ngược với một cuộc đời uống rượu vô độ và nhận đồng lương từ công việc mà người lao động chính trong gia đình chán ghét, Đạo Cơ đốc chính thống đưa cho người đó có hội có phẩm giá, danh dự và phúc lành.[4]

Có thể mô ta tư duy của người theo trào lưu chính thống như sau: Một tông đồ tự nguyện quyết định mình sẽ không bao giờ thay đổi tư tưởng một chút nào. Tất cả những nỗ lực trong cộng đồng chính thống đều nhằm đến gia tầng hệ thống đức tin hiện tại và loại bỏ những ý niệm đi chệch với giáo lý. Thậm chí có thể những người theo trào lưu chính thống đã tự nguyện dập tắt trí tưởng tượng của mình: vì như quyết định của Chambers về việc đọc các cuốn sách chống cộng đã nhắc nhở chúng ta, một khi người ta có thể tưởng tượng rằng các sự kiện hay các đức tin có thể khác nhau, thì họ đang mạo hiểm có tư tưởng dị giáo. David Hartman, triết gia về tôn giáo của Israel, đã cho rằng “Một khuôn khổ cứng như đá không tạo ra tư duy phê phán... ở đâu chỉ có một chân lý duy nhất tự tung hoành thì ở đó không có thách thức nào và không một tia sáng tạo nào có thể được tạo ra”[5].

Rất khó có thể thoát khỏi môi trường bít bùng như vậy. Tuy nhiên, một phần lớn của giáo phái - có lẽ đến một nửa những người lớn lên trong cộng đồng chính thống - đã từ bỏ cách suy nghĩ đó. Nói chung, những người rời bỏ đạo là những người trưởng thành. Không giống trẻ em bị buộc phải ở trong thực tiễn cụ thể xung quanh, những người trưởng thành có thể suy ngẫm về các hệ thống giải thích khác nhau, dựa vào chính trị, khoa học, hay tôn giáo, và nhiều người trong sô họ đã nhận ra rằng cái họ cho là Sách phúc âm chỉ là một trong nhiều cách giái thích thế giới. Ngoài ra, tư tưởng chính thống đã chia cắt họ với các trải nghiệm sống động, sôi nổi và ý nghĩa nhất cũng như với những người đồng lứa sắc sảo nhất.

Hầu như tất cá chúng ta đều cần những đức tin nền tảng. Nhưng mức độ vững chắc của các đức tin này và mức độ sẵn sàng xem xét thay đổi của chúng ta rất khác nhau. Rõ ràng có lời kêu gọi chia sè cùng một hệ thống các đức tin mạnh mẽ; nhưng đặc biệt trong xã hội đa nguyên, cái giá của việc tách bản thân khỏi những tư tưởng khác là quá hiển hiện. Khi đó trong cuộc đấu tranh vì đức tin, chúng ta chứng kiến những lực kéo máu thuẫn của lý lẽ, sự chống đối, sự cộng hưởng và thực tiễn của trải nghiệm hàng ngày. Có thể, việc xác định chính xác cuộc sống mong muôn sẽ có tác động to lớn đến quyết định có chọn và trung thành với một khuôn khổ tư duy chính thống hay không.

❀ ❀ ❀

[1] The true believer của Eric Hoffer (New York: Harper 1951).

[2] Bible believers: Fundamentalists in the modern world của Nancy Ammerman (New Brunswick, NJ: Rutgers University Press, 1987); Leaving the fold: Testimonies of former fundamentalists của Ellen Babinski (Amherts, NY: Prometheus Books, 1995);American evangelicism: Conservative religion and the quandary of modernity của James D. Hunter (New Brunswick, NJ: Rutgers University Press, 1983); The transformed self: The psychology of relegious conversion của Chandra Ullman (New York: Plenum, 1989).

[3] Transformed self của Ullman, tr. 19.

[4] Trích trong Leavmg the fold của Babinski, tr. 84.

[5] Trích trong “Cuckoo in Caiorina” của Thomas Friedman, New York Times, ngày 28/8/2002, A19.

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.