Những dạng thông minh dựa trên phân tích biểu tượng

Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 207 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HÌNH THỨC CỦA Ý NGHĨ: TRÍ THÔNG MINH ĐA DẠNG

❊ ❊ ❊

Có quan điểm trong ngành tâm lý học cho rằng tư duy chỉ có một ngôn ngữ duy nhất - ngôn ngữ này thậm chí còn có tên gọi, mentalese (ngôn ngữ trí tuệ). Những người đề xướng ra loại ngôn ngữ này tin rằng tất cả những ý nghĩ, những tính toán trí tuệ đều diễn ra thông qua loại ngôn ngữ duy nhất này, giống như ngôn ngữ tự nhiên vậy. Nếu đặc tính này đúng, thì tất cả những suy nghĩ của chúng ta nói chung sẽ diễn ra dưới dạng ngôn ngữ đang được sử dụng ở đây. Nói một cách hư cấu: nếu biết được các ý nghĩ diễn ra trong não bộ như thế nào, chúng ta sẽ thấy các neuron nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Bantu[1].

Thách thức rõ ràng nhất của thuyết ngôn ngữ trí tuệ là sự tồn tại của hình ảnh, đặc biệt là hình ảnh thị giác. Hầu hết chúng ta đều có nguồn hình ảnh trí tuệ thị giác rất phong phú, và đa số chúng ta, kể cả nhà tư tưởng đáng kính Albert Einstein, đều cho rằng quá trình suy nghĩ quan trọng diễn ra bằng hình ảnh: nói theo cách của Einstein là “loại hình ảnh của thị giác, cơ bắp và thể xác”[2]. Tôi có thể thiếu hình ảnh thị giác nhưng bù lại tôi có rất nhiều hình ảnh từ thính giác. Đương nhiên tôi không thể sánh với nghệ sĩ dương cầm quá cố Arthur Rubinstein, người được cho là có thể lắng nghe nhạc từ máy hát trong trí tưởng tượng và thậm chí còn nghe tiếng xột xoạt đều đều! Nhưng tôi có thể dễ dàng nhớ đến một giai điệu hay thậm chí cả một bản nhạc giao hưởng trong trí óc mình. Nếu có hình ảnh trí tuệ, bạn có thể định vị được những neuron đã đề cập ở cuối đoạn trước.

Những người ủng hộ thuyết ngôn ngữ trí tuệ không thể phủ nhận sự tồn tại của hình ảnh: đúng vậy, sẽ là quá ngu xuẩn khi phủ nhận bằng chứng nội quan của chính họ, đó là chưa nói đến nội quan của toàn bộ loài người. Phản ứng của họ là xác nhận hình ảnh có tồn tại nhưng chúng chỉ là những hiện tượng phụ - không thực sự đòi hỏi phải suy nghĩ; nhiều nhất chúng chỉ có chức năng che đậy một quá trình suy ngẫm trí tuệ duy nhất bên trong. Rất có thể một số vấn đề nào đó được giải quyết thông qua hình ảnh nhưng thực chất là dựa vào những hoạt động logic bên trong. Là người tìm hiểu sâu sắc về nghệ thuật, tôi không thể tán đồng quan điểm cho rằng “hình ảnh chỉ là hiện tượng phụ”. Không thể nói rằng Wolfgang Amadeus Mozart với tác phẩm số 626 trong danh sách Koechel, Martha Graham với hàng chục vũ điệu, hay Pablo Picasso với hàng ngàn bức họa và tranh vẽ đều sử dụng cùng một nhóm những hoạt động logic giống như của nhà vật lý hay nhà toán học. Và nếu một người ủng hộ ngôn ngữ trí tuệ vẫn ngoan cố rằng “à, những nghệ sĩ đó không thực sự suy nghĩ”, tôi sẽ phản bác rằng người kém văn hóa đó không hiểu biết gì về quá trình nghệ thuật.

Nếu ngôn ngữ không phải là câu trả lời, vậy hình thức của ý nghĩ gì? Một manh mối là chúng ta suy nghĩ bằng những phương thức giác quan khác nhau. Chúng ta tiếp nhận thông tin từ mắt, tai, tay, mũi, miệng, mà nôm na có thể gọi là những thông tin thị giác, xúc giác hay vị giác. Tuy nhiên, tôi tin rằng suy nghĩ thực sự diễn ra theo một số hình thái “truyền tai” khác nhau, cũng dựa vào các cơ quan giác quan nhưng vượt chức năng chuyên biệt của chúng ở những mặt quan trọng.

Ý tưởng này đến với tôi như thế nào? Và ý tưởng đó - bao gồm một tập hợp những khái niệm mới, và sau này là một lý thuyết mới - đã ảnh hưởng đến nhận thức về thay đổi tư duy của tôi như thế nào? Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đầu tiên của tôi với Geschwind, tiếp đến là 3 năm nghiên cứu sau tiến sĩ với ông cùng đồng nghiệp của ông, và những năm theo đuổi nghiên cứu đã dần làm mai một niềm tin của tôi vào quan điểm đơn thể về tư duy, nhận thức, và trí thông minh con người. Trong những phân tích thực hiện phần lớn vào cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tôi đã phát triển một quan điểm mới gọi là thuyết trí thông minh đa dạng[3]. Lý thuyết này thực ra là lời phản đối quan điểm tiêu chuẩn “hình chuông” về trí thông minh[4], gồm những điều sau:

Trí thông minh là một chủ thể đơn.

Con người sinh ra với một mức độ thông minh nhất định.

Rất khó biến đổi mức độ thông minh này - vì nó đã được quy định “trong gien”.

Các nhà tâm lý học có thể xác định mức độ thông minh qua những bài kiểm tra về IQ (chỉ số thông minh) hoặc những loại công cụ tương tự.

Vì một số lý do, quan điểm này đã không còn sức thuyết phục tôi. Tôi đã nghiên cứu nhiều loại cá thể khác nhau, ở nhiều điều kiện khác nhau; tôi cũng đã dạy nhiều người, từ mẫu giáo cho đến đại học, với các chủ đề từ nhân loại học cho đến piano. Không quá phụ thuộc vào những công cụ kiểm tra tâm lý, thay vào đó, tôi phát triển quan điểm thông minh dựa trên nhiều mảng kiến thức khác nhau. Tôi tìm hiểu về những bằng chứng từ ngành nhân chủng học - đã được đánh giá và bổ sung trong nhiều nền văn hóa khác nhau qua các kỷ nguyên khác nhau; về quá trình tiến hóa - những đặc điểm tiến hóa qua nhiều thiên niên kỷ của nhiều giống loài khác nhau; và nghiên cứu về “sự khác biệt giữa các cá thể” - những trường hợp bất thường cụ thể như những người mắc chứng tự kỷ, những người phi thường, hay trẻ em thiểu năng. Có lẽ quan trọng nhất, tôi đã xem xét những kết luận từ nghiên cứu về não bộ - những gì chúng ta biết về sự phát triển và đột quỵ của não bộ, cũng như cách các khu vực vỏ não khác nhau tác động đến những tính toán trí tuệ khác nhau.

Kết quả của việc tìm hiểu kiến thức liên ngành này giúp tôi có được định nghĩa của trí thông minh và danh sách tạm thời những dạng thông minh. Tôi định nghĩa trí thông minh là một loại tiềm năng tâm sinh lý xử lý những hình thức thông tin riêng biệt theo một số phương thức nhất định. Con người đã tiến hóa nhiều khả năng xử lý thông tin đa dạng - mà tôi gọi là “các dạng thông minh” - giúp giải quyết các vấn đề hay định hình các sản phẩm. Để được xem là “thông minh”, những sản phẩm và giải pháp này phải có giá trị đối với ít nhất một nền văn hóa hay cộng đồng.

Tiêu chí “đánh giá” vừa nêu là rất quan trọng. Trí thông minh không giống nhau ở mọi lúc mọi nơi, tôi nhận ra con người xem trọng các kỹ năng và năng lực khác nhau tại những thời điểm khác nhau trong các trường hợp khác nhau. Thực vậy, những phát minh như báo chí hay máy vi tính có thể làm thay đổi tương đối triệt để những năng lực được xem là quan trọng (hoặc không còn quan trọng nữa) trong một nền văn hóa. Tương tự, các cá nhân cũng không “thông minh” hay “ngu ngốc” như nhau trong mọi trường hợp; mà đúng hơn họ có những dạng thông minh khác nhau được nuôi dưỡng hoặc bị xem thường một cách khác nhau trong những trường hợp khác nhau. Nói theo luận điểm đã nêu, mỗi dạng thông minh là một hình thức biểu hiện trí tuệ riêng biệt.

Quá nhiều định nghĩa sách vở. Nói một cách dân dã, chúng ta có thể xem mỗi người - hay tư duy/não bộ - là một tập nhiều máy tính. Khi máy tính được nhập thông tin ở một định dạng phù hợp thì nó sẽ làm việc của mình, và công việc đó là sử dụng một dạng thông minh cụ thể.

Vậy trí thông minh đa dạng liên quan đến thay đổi tư duy như thế nào? Ở mức cơ bản nhất, thay đổi tư duy kéo theo thay đổi trong biểu hiện trí tuệ. Nếu tôi thay đổi suy nghĩ của bạn về trí thông minh, nghĩa là tôi đang thay đổi những hình ảnh, khái niệm, và lý thuyết mà bạn đã từng quen nghĩ về trí thông minh. Theo đó, khi đưa ra luận điểm, nếu bạn tác động đến càng nhiều dạng thông minh, thì càng dễ thay đổi tư duy hơn, và càng thay đổi được nhiều tư duy hơn.

Dù không nhận ra, nhưng lúc đó, bằng việc phát triển khái niệm về trí thông minh đa dạng, tôi đã thực hiện một loại thay đổi tư duy tham vọng nhất mà tôi từng làm. Nói cách khác là tôi đã cố thay đổi tư duy của đồng nghiệp trong ngành tâm lý học - và sau cùng là của công chúng nói chung - về bản chất của trí thông minh. Tôi biện luận rằng (1) trí thông minh là đa thể; nó định hình sự việc và giải quyết vấn đề, và (2) nó không được định nghĩa dựa trên cơ sở thứ hạng hay qua bài kiểm tra, mà dựa trên những gì được đánh giá ở từng thời điểm lịch sử cụ thể trong ngữ cảnh văn hóa cụ thể. Dù hài lòng vì lý thuyết này có tác động nhất định, nhưng phải nói rằng tôi đã vấp phải vô số khó khăn trong việc thay đổi suy nghĩ của người khác về định nghĩa trí thông minh (khái niệm), cách nó hoạt động (lý thuyết), và làm thế nào để đánh giá nó (kỹ năng). Thậm chí tôi có thể kể cho bạn nhiều câu chuyện về các hình thức phản đối đa dạng trong quá trình thay đổi tư duy này!

Sau khi đã cung cấp một vài kiến thức nền tảng, bây giờ tôi sẽ đi chi tiết hơn về trí thông minh. Những người đã đọc các tác phẩm trước của tôi chắc đã làm quen với các dạng thông minh khác nhau, cùng với những tiêu chí về tiến hóa, thần kinh học, tâm lý học, và nhân chủng học mà tôi dùng để xác định và chứng thực những dạng thông minh đó. Tuy nhiên, với những người chưa biết đến chúng, tôi xin liệt kê tóm tắt dưới đây các dạng thông minh cùng với một số ví dụ trong các lĩnh vực kinh doanh cụ thể. Xin nói thêm rằng các trường hợp được rút ra từ mọi mục tiêu theo đuổi của con người.

Để liệt kê các dạng thông minh, tôi xin bắt đầu với 2 loại đặc thù đã được nhắc đến ở trên: ngôn ngữlogic toán học. Những dạng thông minh này đặc biệt quan trọng đối với việc học tập ở các trường học hiện nay - bao gồm như nghe giảng, đọc, viết, và tính toán - và đóng vai trò quyết định trong các bài kiểm tra đánh giá tiềm năng trí tuệ và nhận thức con người - những bài kiểm tra dạng như cân bằng phương trình hay giải một bài toán đại số gồm 4 phương trình.

DẠNG THÔNG MINH VỀ NGÔN NGỮ. Nói chung, thông minh về ngôn ngữ thể hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ nói và viết. Cũng như tất cả các loại khác, dạng thông minh này có những “phân nhánh”, hay các thể loại khác nhau: chẳng hạn như thông minh về ngoại ngữ, hay thông minh về sáng tác văn học, giúp thành công trong việc chuyển tải những ý tưởng phức tạp trong các câu văn trau chuốt thích hợp. Trong thế giới kinh doanh, có hai khía cạnh thông minh ngôn ngữ được đánh giá rất cao. Một khía cạnh thể hiện ở những người có tài nói chuyện, người có thể thu được thông tin hữu ích thông qua kỹ năng đặt câu hỏi và thảo luận với người khác; còn khía cạnh kia thể hiện ở những người giỏi hùng biện, ngươi có thể thuyết phục người khác đi theo một đường lối nào đó thông qua sử dụng các câu chuyện, bài diễn thuyết hay những lời hô hào. Người nào có thể tổng hợp các khả năng về ngôn ngữ, chúng ta sẽ thấy người đó có xu hướng thành công trong một số ngành nghề - thậm chí còn “không gặp khó khăn nào”.

DẠNG THÔNG MINH VỀ LOGIC TOÁN HỌC. Bây giờ chúng ta hãy xem một dạng thông minh bổ sung, logic toán học. Dạng thông minh này được chia làm hai loại năng lực như tên gọi. Trí thông minh logic rõ ràng là rất quan trọng với bất kỳ người quản lý nào cần phải xác định cái gì đã xảy ra, và cái gì có thể xảy ra trong các hoàn cảnh khác nhau. (Với những trường hợp không rõ ràng, có lẽ cần phải quay trở lại với “phương thức” hay “logic mờ” - hoặc với cách ước tính 80/20!). Liên quan nhưng tách biệt, thông minh toán học là năng lực vận hành dễ dàng trong thế giới các con số: như tính toán những vấn đề tài chính hay tiền bạc, dự trù lỗ lãi, quyết định cách đầu tư tốt nhất cho một món hời bất ngờ, vân vân...

Một số doanh nhân thật sự nổi bật về năng lực logic hoặc logic toán học của họ. Hãy xem hai trường hợp nổi tiếng trong thế giới xe hơi. Alfred P. Sloan tiếp nhận tập đoàn to lớn nhưng ì ạch General Motors đầu những năm 1920 và đã có công biến nó thành tập đoàn thành công nhất thế giới. Kỳ công nhờ khả năng “logic” của ông là gì? Ông đã tạo ra một tổ chức với những hệ thống quyền lực chính xác trong toàn bộ các hoạt động chung, kết hợp những chi nhánh hoạt động khác nhau, nhưng vẫn cho phép mỗi bộ phận duy trì những hoạt động hiệu quả trước kia[5].

Trong những năm 1950, thế hệ sau, Robert McNamara đã tập hợp một nhóm người trẻ thành công tại Công ty Ford Motor; nhóm này đã tạo ra một hệ thống quản lý và sắp xếp sản phẩm, cho phép Ford lấy lại thị phần lớn trong thị trường xe hơi tại Mỹ. Chiến thắng của McNamara liên quan đến việc kết hợp rất nhiều phân tích logic và tính toán. Theo quan điểm “một trí thông minh chung” như đã bình luận ở trên, mọi người cho rằng với tài năng này, McNamara có thể dễ dàng chuyển sang làm việc ở một tổ chức hành chính lớn đang cần được hợp lý hóa và tái tổ chức - đó là Bộ Quốc phòng Mỹ.

Là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dưới thời Tổng thống Kenedy và Tổng thống Johnson, McNamara thực sự thành công trong việc chỉnh đốn và tái cấu trúc hợp lý tổ chức đồ sộ này. Tuy nhiên, năng khiếu về logic toán học của ông lại không phù hợp với những vấn đề khác như văn hóa, lịch sử và chiến lược trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương. (Nhà báo David Halberstam đã khác họa trí tuệ này một cách mỉa mai khi đặt tên cho nghiên cứu của mình về bè lũ McNamara là “Những người giỏi nhất và sáng chói nhất”[6]). Để giữ uy tín, McNamara dần dần thay đổi suy nghĩ về cách tiếp cận “IQ” trong chính sách ngoại giao; những năm gần đây ông đã dành nhiều thời gian để chuộc lại lỗi lầm do thói kiêu căng “logic toán học” của ông và các cộng sự gây nên trong những năm “leo thang” của Chiến tranh Việt Nam.

Tôi rút ra suy nghĩ như sau. Thậm chí những người chỉ tập trung vào hai loại thông minh phổ biến (tổng hợp thành “đường cong hình chuông”), cũng có thể thấy được còn rất nhiều các năng lực chuyên biệt khác. Chắc chắn có một số người nổi bật cả về năng khiếu ngôn ngữ lẫn logic toán học – chẳng hạn như J. Robert Oppenheimer, nhà vật lý học dẫn đầu Dự án Manhattan trong Thế chiến thứ II, hay John Maynard Keynes, nhà kinh tế học kiêm nhà văn xuất sắc. Nhưng phổ biến là những trường hợp giỏi chuyên về ngôn ngữ (như nhà thơ hay nhà hùng biện đúng nghĩa) hoặc về toán học (như nhà quản lý quỹ kinh doanh tài năng) hay về logic (như chuyên gia lên kế hoạch)[7]. Có câu chuyện về người thu ngân ở quầy “dưới 12 mặt hàng” của siêu thị Star Market tại Cambridge, Massachusetts như sau: Nhận thấy một sinh viên đang cố đi qua với hàng chục sản phẩm, người phụ nữ này mỉa mai: “Vậy ra cô đi học ở MIT (Học viện Công nghệ Massachusetts) mà không biết đọc - hay cô học ở Harvard mà không biết đếm?”.

Mục đích của lý thuyết về trí thông minh đa dạng không phải là để đào sâu hơn vào các dạng thông minh đã được biết đến. Thử thách thú vị của lý thuyết này là xác định những dạng thông minh bị bỏ sót - nói theo thuật ngữ của chúng tôi là những hình thức khác của biểu hiện trí tuệ.

Những dạng thông minh “không kinh điển”

Tôi tin rằng con người sở hữu ít nhất là 6 hoặc 7 dạng thông minh mà chúng ta có thể nhận biết; nghĩa là còn có nhiều hơn 6 hình thức biểu hiện trí tuệ khác. Tương tự thông minh ngôn ngữ và logic toán học, những loại này cũng được phân nhánh. Trong số những dạng thông minh “không kinh điển” đó, có loại sẽ phù hợp cho các lĩnh vực kinh doanh hơn những loại khác. Tuy vậy, dù ít hay nhiều, mỗi loại đều xứng đáng được xem xét dưới ánh sáng nhận thức.

DẠNG THÔNG MINH VỀ ÂM NHẠC. Năng khiếu về âm nhạc - hay khả năng cảm nhận và sáng tác âm nhạc - có nhiều điểm tương đồng với năng khiếu về ngôn ngữ. Có thể xác định các phân nhánh như: khả năng cảm nhận giai điệu và hòa âm; khả năng nhạy cảm với nhịp điệu; khả năng nhận biết những âm sắc và khóa nhạc khác nhau; và nói một cách văn hóa là năng lực hiểu được cấu trúc của các tác phẩm âm nhạc (từ đoạn nhạc jazz ngắn đơn giản cho đến bản sonata cổ điển có cấu trúc đặc biệt chặt chẽ). Đương nhiên những người trong giới nghệ thuật giải trí dành vị trí cao quý cho năng khiếu âm nhạc (cũng như các loại hình nghệ thuật khác nói chung). Nhưng khả năng này ít được đánh giá cao trong các loại hình tiếp cận công chúng, từ quảng cáo trên tivi cho đến bộ phim dài tập, hay từ các hội nghị cho đến sự kiện điền kinh, hay các buổi lễ tôn giáo.

Nhiều vấn đề nhìn bên ngoài có vẻ thuộc về các hệ thống biểu tượng khác nhưng thực ra vẫn có tố chất âm nhạc ẩn chứa bên trong. Tôi viết sách, sử dụng từ ngữ và đôi khi cả hình ảnh đồ thị, những cách kết hợp ngôn ngữ và đồ thị dựa trên những nguyên tắc tổ chức mà, ít nhất trong trường hợp của tôi, có nguồn gốc rõ ràng từ cấu trúc âm nhạc. Có lẽ là vì âm nhạc là hình thức ít bộc lộ ngữ nghĩa nhất trong đa số các hệ thống biểu tượng: nó không chuyển tải những ý nghĩa rời rạc đơn lẻ. Thay vào đó, âm nhạc một mặt có những kết cấu tổ chức (hay cú pháp) thuần túy và mặt khác, thể hiện những hình thức và trạng thái của cuộc sống tình cảm chúng ta. Có một câu nói đáng nhớ của nhà văn thế kỷ XIX người Anh Walter Pater: “tất cả nghệ thuật đều luôn khao khát có được phẩm chất của âm nhạc”.

Mới đây, kết hợp với Rosamund Stone Zander, nhạc trưởng Benjamin Zander đã chỉ ra điểm tương đồng thú vị giữa lãnh đạo và âm nhạc. Theo ông, việc quản lý và phát triển một tổ chức lớn cũng dựa trên những nguyên tắc được sử dụng trong chỉ huy một dàn nhạc giao hưởng. Chúng ta nên chú ý đến tính chất âm nhạc vốn có trong kế hoạch, tổ chức và giao tiếp hiệu quả trong kinh doanh[8].

DẠNG THÔNG MINH VỀ KHÔNG GIAN. Hình thức thứ 4 của biểu hiện trí tuệ là trí thông minh về không gian: là năng lực hình thành những biểu hiện hay hình ảnh không gian trong tư duy của một người, từ đó có hành động thích hợp tương ứng. Có loại năng khiếu về không gian được sử dụng trong những không gian rộng lớn - như dạng hoạt động của phi công lái máy bay, của nhà khoa học về tên lửa, của thủy thủ. Một dạng bổ sung khác liên quan đến không gian hạn chế hơn - như những hoạt động được triển khai bởi các đấu thủ cờ vua, nghệ sĩ điêu khắc, họa sĩ, người thiết kế dụng cụ, đồ chơi, hay thiết bị tivi. Đối với năng khiếu về âm nhạc, trí thông minh về không gian cũng có mối liên hệ được đánh giá cao; để trình bày hay sáng tác tác phẩm, nhiều người nhận thức và làm việc với những chủ thể đã chọn trong một hình thái không gian.

Mỗi dạng thông minh đều có liên quan đến những loại chất liệu khác nhau. Có người tiếp cận hầu hết các nội dung bằng cách “không gian hóa chúng”. Từ đó họ có thể nghĩ về một vở kịch, một bài hát, một kế hoạch bán hàng, hay một sơ đồ quản lý khi chúng được thể hiện trong hình thái không gian (hay đồ thị); hơn nữa, họ còn có thể tạo ra một hệ thống dấu hiệu không gian để biểu hiện vở kịch, bài hát hay kế hoạch nêu trên. (chẳng hạn, tôi nghĩ về các đồng nghiệp tâm lý học của tôi, những người vẽ ra một thí nghiệm như là những đường đi mới trong địa chất). Một khi đã tạo ra hình thức không gian cho một chủ thể - ví dụ như một sơ đồ tổ chức minh họa những vị trí quyền lực của công ty vừa mới sáp nhập - thì có thể tiếp tục phát triển hình thức thể hiện mới này, chuyển hóa nó, và gán cho nó những ý nghĩa khác nhau. Lúc đó, chúng ta có một “ngữ nghĩa” được thể hiện qua hình thái không gian.

Chúng ta có thể thấy sự hiện diện của năng khiếu về không gian trong thế giới kinh doanh theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trước hết, chúng ta có thể xác định những người làm việc trực tiếp trong thế giới không gian - như ngành hàng không, kiến trúc, thiết kế, và có lẽ cả “không gian ảo” nữa. Tiếp đến, chúng ta còn có thể kể đến những công việc hay sáng tạo cần sử dụng những nguyên tắc không gian, tuy những lĩnh vực này không mấy liên quan đến không gian bầu trời. Trong khi có người lập kế hoạch bằng cách “suy nghĩ” dựa trên hình thức phân tích lôgic hay âm nhạc, nhiều người khác lại có thể diễn đạt nội dung trí tuệ của mình bằng hình thức không gian hữu hình. Phần mềm “Mac”, một loại ứng dụng chủ yếu dùng hình ảnh minh họa của tạp chí Scientific American, đã tỏ rõ ưu thế sử dụng những hình thức không gian (ngược với phần mềm “PC” là sử dụng văn bản).

DẠNG THÔNG MINH VỀ VẬN ĐỘNG CƠ THỂ. Có vài điểm tương đồng với năng khiếu về không gian, năng khiếu vẽ vận động cơ thế là năng lực giải quyết các vấn đề hay tạo ra các sản phẩm thông qua sử dụng toàn bộ cơ thể, hay từng bộ phận cơ thể, ví dụ như tay, miệng. Chắc hẳn loại năng khiếu này là tối quan trọng đối với con người tiền sử, lúc đó được gọi là khả năng sử dụng “công cụ” hay “cơ thể”. Đế sống sót khi đi săn, đánh bắt, hái lượm, trồng trọt; để có thể tạo ra quần áo, xây dựng nơi ở, chuẩn bị thức ăn, và tự bảo vệ mình trước kẻ thù, ông cha ta đã dựa vào những kỹ năng của cơ thể.

Có thể phân biệt 2 loại thông minh về vận động cơ thể. Nghệ nhân, thợ thủ công, nghệ sĩ, bác sĩ phẫu thuật, hay vận động viên là những người sử dụng cơ thể trực tiếp để thực hiện công việc. Loại bổ sung bao gồm những người sử dụng hình ảnh cơ thể để thể hiện một cách ẩn dụ những khái niệm của mình về nhiều chủ đề. Trong giới thương nhân hay bán hàng, cũng có những người từng là vận động viên tài năng. Cựu vận động viên bóng rổ nay là Thượng nghị sĩ Mỹ Bill Bradley nói rằng: “Nếu tôi chơi bóng rổ với ai trong vòng 1 giờ, tôi sẽ biết tất cả những gì tôi cần biết về người đó”[9]. Các doanh nghiệp tự ví mình như những nhóm vận động viên; họ khái niệm hóa những mối quan hệ của họ với các công ty khác, hay với đối thủ, bằng những thuật ngữ mượn từ sân bóng rổ hay bóng đá. Nhiều sáng kiến đã dựa rất nhiều vào hình ảnh cơ thể - ví dụ các ứng dụng mang tính trực giác như ‘con chuột’ máy tính hay những thứ khác trong thế giới ảo. Năng khiếu vận động cơ thể cũng không thể thiếu trong lĩnh vực trí thức. Như đã nói ở phần trước, người tài giỏi như Albert Einstein cũng thừa nhận rằng ông không thể hiện suy nghĩ bằng từ ngữ: thay vào đó, ông khẳng định: “những chủ thể trí tuệ cấu thành nên suy nghĩ bao gồm các dấu hiệu và hình ảnh tương đối rõ ràng nào đó, có thể được ‘tùy ý’ tái sản xuất và kết hợp... Những chủ thể đó, trong trường hợp của tôi, là những loại có liên quan đến thị giác và cơ thể”[10].

Đúng ra, mỗi loại thông minh liên quan đến sự phát triển của nhiều kỹ năng. Tuy nhiên, cũng như chúng ta nghĩ đến ngôn ngữ trong các câu chuyện, hay nghĩ về logic trong các lý thuyết, chúng ta sẽ nghĩ đến năng khiếu vận động cơ thể đối với những biểu hiện trí tuệ là kỹ năng. Đó là vì kỹ năng luôn liên quan đến việc sử dụng cơ thể, cho dù vai trò của cơ thể trong việc biểu diễn một điệu nhảy sẽ rõ ràng hơn so với nói, viết, hay giải phương trình. Những nghiên cứu về các ngành nghề trong nhiều lĩnh vực đã ghi nhận mức độ đòi hỏi thành thạo những kỹ năng cao hơn trong việc sử dụng và phối hợp thông tin. Có thể dễ dàng thấy được những kỹ năng này trong các trường hợp thể chất hữu hình (như các vận động viên hay họa sĩ), nhưng đa số chúng đã trở thành những kỹ năng được tiếp thu tự nhiên. Chẳng hạn, trong khi một nhạc sĩ mới vào nghề chỉ có thể tập một bản nhạc bằng một loại nhạc cụ thì một nhạc sĩ có kỹ năng có thể chơi hoàn thiện nhiều bản nhạc mà chỉ cần đọc bàn phổ hay “chơi bản nhạc” trong đầu. Do đó, dần dần người ta ít nói năng khiếu về vận động cơ thể.

DẠNG THÔNG MINH VỀ TỰ NHIÊN. Chỉ sau khi xuất bản cuốn sách đầu tiên về thuyết thông minh, tôi mới nhận thức về loại hình thứ 6 mà tôi gọi là “trí thông minh về tự nhiên”[11]. Khả năng thông minh về tự nhiên bao gồm những năng lực phân biệt có logic trong thế giới tự nhiên: giữa loại cây này với loại cây kia; giữa loại động vật này với loại kia; giữa các loại mây, hình dáng các hòn đá, đặc điểm của thủy triều, vân vân... Cũng như năng khiếu về cơ thể, loại năng khiếu này chắc chắn mang tính quan trọng sống còn trong quá khứ loài người. Ông bà chúng ta sẽ không thể sống sót nếu không biết phân biệt cây độc với cây lợi, động vật có thể ăn được hay phải tránh xa, hoặc vùng đất, nước, núi có lợi hay nguy hiểm. Ngày nay, vẫn còn những vùng trên địa cầu mà sự sống sót của con người phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng hiểu biết về tự nhiên. Ngay cả trong thế giới hậu công nghiệp, những người hoạt động trong lĩnh vực chế biến thức ăn, xây dựng nhà của, bảo vệ môi trường, hay các mỏ quặng quý, đều phải dựa vào năng lực về tự nhiên của họ.

Phạm vi ảnh hưởng của năng khiếu về tự nhiên đến xã hội tiêu dùng của chúng ta tuy không được nhận thức rõ ràng nhưng chắc chắn là hệ quả từ thời xa xưa. Khả năng phân biệt đôi giày hay cái áo len với những thứ khác, phân biệt các nhãn hiệu xe hơi, máy bay, xe đạp, xe gắn máy, hay những thứ tương tự, đều dựa vào năng lực xác định kiểu dáng được sử dụng trong những kỷ nguyên xưa để phân biệt các loại thằn lằn, cây cối, hay các loại đá khác nhau.

Điều này thể hiện một vấn đề quan trọng về các dạng thông minh của con người. Mỗi loại thông minh tiến hóa qua một thời gian dài nhằm giúp con người tồn tại và tái sản xuất trong những môi trường sinh thái cụ thể - đáng kể nhất là vùng hoang mạc Sahara châu Phi, nơi loài người đã phát triển trong vài triệu năm qua. Một dạng thông minh nhất định có thể sẽ không phát triển nếu ít được sử dụng trong hoàn cảnh hiện tại. Tuy vậy, là những sinh vật cơ hội, các cư dân thành thị tuy chưa từng thấy trang trại hay khu rừng nào vẫn có thể dựa vào, thậm chí còn khai thác, năng lực về tự nhiên của họ trong các vai trò người bán, người mua, hay những người mua hàng chỉ xem mà không mua.

Phải thừa nhận là rất khó xác định ranh giới các loại thông minh; ở mức độ nào đó những khái niệm mô tả này dựa trên yếu tố mỹ quan hơn là đánh giá khoa học. Tôi xin chia sẻ ý kiến cá nhân như sau. Một mặt, năng khiếu về tự nhiên có vẻ chỉ liên quan đến việc sử dụng giác quan: như mắt tinh, tai thính, khéo tay, v.v... Điều này đương nhiên là đúng, nhưng chưa đủ; dù bị mất đi một hay nhiều cơ quan giác quan thì con người vẫn có thể có sự phân biệt hiệu quả, như nhà tự nhiên học lỗi lạc bị mù Geermat Vermij chẳng hạn. Theo nghĩa đó, trí thông minh về tự nhiên - như các loại thông minh khác - mang tính chất “siêu giác quan”. Mặt khác, loại thông minh này cũng dựa trên cơ sở vận dụng trí thông minh logic toán học để phân loại. Nhưng nói vậy vẫn chưa đủ. Chúng ta phân biệt 2 chủ thể trước khi phân loại chúng, đúng vậy, bất kỳ cơ chế phân loại sinh học nào cũng phải dựa vào các chỉ tiêu nhận thức trước. Theo kinh nghiệm, chuỗi hoạt động có thể diễn ra như sau: đầu tiên, chúng ta nhận thực vật thể thông qua một hay nhiều giác quan; tiếp đến, chúng ta sử dụng trí thông minh về tự nhiên để đưa ra những phân biệt có logic; cuối cùng, chúng ta phân loại (và có lẽ còn tái phân loại) tùy theo những tiêu chí logic riêng biệt. Quá trình này có lẽ cũng đúng với tôi khi vận dụng năng lực thông minh về tự nhiên để phát triển lý thuyết về trí thông minh đa dạng cách đây vài thập kỷ.

Quay lại với thế giới kinh doanh, tôi cho rằng những ai làm việc với bất kỳ loại sản phẩm hữu hình nào cũng cần biết vận dụng khả năng thông minh về tự nhiên. Năng lực phân biệt là tối quan trọng nếu chúng ta không muốn gộp chung tất cả các loại xe hơi, hay thậm chí tất cả các loại xe. Trí thông minh về tự nhiên rất cần thiết cho dù chúng ta mua nguyên vật liệu, hay lấy chúng từ đất, dù là xây dựng chiến dịch để quảng cáo chúng, hay sử dụng trong công việc hàng ngay, trong việc vặt nội trợ, hay chỉ để chơi. Thế giới gần đây đã trở nên đầy rẫy những “cú click”, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta có thể hoàn toàn loại bỏ “gạch” và “cây”. Nếu mất đi trí thông minh về tự nhiên, chúng ta sẽ trở nên hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực phân biệt các chủng loại trên thế giới của người khác.

Những dạng thông minh cá nhân

Đến đây, nói chung, mỗi loại thông minh mà tôi đã nêu đều rơi vào một trong hai nhóm. Một nhóm chủ yếu liên quan đến các chủ thể vật chất, như dạng thông minh về không gian, cơ thể, và tự nhiên. Nhóm kia chủ yếu liên quan đến hình tượng hoặc chuỗi hình tượng, như dạng thông minh về ngôn ngữ, âm nhạc, hay logic toán học. Cả hai nhóm đều gắn liền với các khái niệm, các câu chuyện, lý thuyết và kỹ năng. Chúng ta hay kết hợp nhóm “dựa vào chủ thể” với các kỹ năng, và nhóm “dựa vào hình tượng” với các khái niệm, câu chuyện, và lý thuyết.

Nhóm thứ 3, gần đây rất được quan tâm, liên quan đến khả năng hiểu biết con người. Người ta sử dụng năng khiếu giao tiếp để phân biệt mọi người, xác định động cơ của họ, để làm việc hiệu quả với họ, và nếu cần thiết, điều khiển họ. Bổ sung vào đó là dạng thông minh về nội tâm, với tính chất hướng nội. Người thông minh về nội tâm là người biết sử dụng bản thân hiệu quả: họ có thể xác định tình cảm, mục tiêu, sự sợ hãi, ưu khuyết điểm của bản thân; và tối ưu nhất là có thể sử dụng những hiểu biết đó để đưa ra những quyết định sáng suốt trong cuộc đời.

Trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI hiện nay, tôi không cần phải nhấn mạnh nhiều về tầm quan trọng của năng khiếu giao tiếp. Hầu hết các loại hình kinh doanh đều đòi hỏi phải làm việc với người khác, và những ai có hiểu biết sâu sắc về con người - nói chung cũng như nói riêng - sẽ có lợi thế nổi bật. Dù là nhân viên marketing, nhân viên bán hàng, hay quan hệ công chúng, dù là lãnh đạo hay nhân viên, độ nhạy cảm với người khác đều là một tài sản quan trọng. Khái niệm về khả năng xử lý cảm xúc của Daniel Goleman ngày càng phổ biến, cho thấy mọi người đã nhận thức được tầm quan trọng của khả năng nhạy cảm với người khác[12].

Tuy nhiên, khả năng nhạy cảm đó không chỉ là một khái niệm lý luận. Trong số các khía cạnh khác nhau của năng khiếu giao tiếp cá nhân có sự nhạy bén về tính khí hay cá tính con người, khả năng dự đoán phản ứng của người khác, kỹ năng Lãnh đạo hay phục tùng một cách hiệu quả, và khả năng điều đình dàn xếp. Càng tìm hiểu sâu hơn về các dạng thông minh cá nhân, chúng ta càng khám phá ra nhiều khía cạnh mới. Quả vậy, hiện nay chúng ta đã có thể biết đến 6 loại lãnh đạo khác nhau[13], 4 phương thức thương lượng[14], và 34 cá tính dành cho những người hoạt động trong lĩnh vực nhân sự cần quan tâm[15].

Bổ sung cho kiến thức về người khác là kiến thức về bản thân: chúng ta tự biết về mình khi thể hiện sự khác biệt trong quá trình tìm hiểu về người khác; chính sự khác biệt nhằm tự thể hiện bản thân này sẽ giúp chúng ta thâm nhập vào suy nghĩ của người khác. Du vậy, cốt lõi của năng khiếu về nội tâm rất khác so với năng lực hiểu và giao tiếp với người khác. Trung tâm của năng lực này là khả năng phân biệt những cảm xúc, nhu cầu, lo âu, đặc tính khả năng của riêng một người, kết hợp chúng một cách có ý nghĩa và hữu ích nhằm đạt được những mục tiêu cá nhân khác nhau. Trong khi các dạng thông minh khác thể hiện vai trò trong các khu vực kinh doanh cụ thể, thì khả năng về nội tâm là một chiều đánh giá cá nhân “một cách toàn diện”. Trong số các Tổng thống Mỹ, những người như Abraham Lincoln có vẻ biết rất rõ về mình, trong khi những người khác như Ronald Reagan lại không có thiên hướng về nội quan. “Kiến thức về bản thân” của nhiều nhà điều hành, doanh nhân, hay nhà đầu tư, có thể được phát triển, hay bị kìm hãm, suy giảm ở các mức độ khác nhau, và họ sử dụng kiến thức đó để tạo ra những môi trường làm việc thích hợp cho bản thân và người khác theo những cách khác nhau[16].

Không dễ đánh giá khả năng thông minh về nội tâm. Tại sao? Thứ nhất, vì người này khác người kia (đó là lý do tại sao chúng ta cần những dạng thông minh cá nhân) và do đó tiêu chuẩn đánh giá người này không thể áp dụng cho người khác. Thứ hai, trí thông minh về nội tâm là vấn đề chủ quan tinh tế; chúng ta không thể bộc lộ hay thể hiện mức độ tự hiểu mình cho người khác, cũng như mức độ chính xác của kiến thức về bản thân đó.

Trong chủ đề thay đổi tư duy, không thể không nhắc đến tầm quan trọng của suy nghĩ nội tâm. Ngày nay, trong thế giới công nghiệp và hậu công nghiệp đa số chúng ta đều quyết định sống ở đâu, theo đuổi công việc gì, hay làm gì chỉ khi chúng ta cảm thấy bất mãn, bị giảm biên chế hay đơn giản là bị đuổi việc. Những người có sự hiểu biết sâu sắc về ưu điểm cũng như nhu cầu của bản thân sẽ có ưu thế hơn so với những người có kiến thức hạn chế hoặc sai lầm về bản thân. Tôi xin mạnh tay cho những trường hợp có hiểu biết chính xác về bản thân ít nhất 15 cho đến 25 điểm IQ - và như vậy là rất nhiều!

Dạng thông minh hiện sinh

Gần đây, tôi đang suy ngẫm liệu có loại thông minh thứ 9 gọi là thông minh hiện sinh không. Ý tưởng này bắt đầu vì có nhiều đồng nghiệp cho rằng có một loại “thông minh tôn giáo” hay “tinh thần”, và không ít người tuyên bố một cách sai lầm rằng “Howard Gardner tin vào sự tồn tại của một dạng thông minh siêu nhiên như vậy”. Sau khi xem xét nhiều đặc điểm khác nhau của tính chất tinh thần, tôi đi đến kết luận rằng nó chưa đáp ứng được tiêu chí của một dạng thông minh riêng biệt[17]. Nhưng một phần của tinh thần - suy nghĩ hiện sinh - có thể đáp ứng các tiêu chí đó. Trí thông minh hiện sinh thể hiện khả năng con người đưa ra và suy ngẫm về những câu hỏi lớn nhất: “Chúng ta là ai? Tại sao chúng ta ở đây? Cái gì sắp xảy ra với chúng ta? Tại sao chúng ta chết? Rốt cuộc, tất cả những chuyện này là gì?”. Trên khắp thế giới, từ người lớn đến trẻ em đều đưa ra những câu hỏi đó, và nhiều “hệ thống biểu tượng” về tôn giáo, nghệ thuật, triết học và thần thoại đã được dựng lên nhằm đưa ra những câu trả lời thỏa mãn (hay ít nhất là những hình thức thuyết phục) cho các câu hỏi này.

Dạng suy nghĩ như vậy khá phù hợp với các tiêu chí về tâm sinh lý của một loại thông minh (xem ghi chú số 1). Chẳng hạn, suy nghĩ hiện sinh có một tiến trình phát triển; những hệ thống biểu tượng khác nhau trên khắp hành tinh thể hiện những câu hỏi và mối quan tâm hiện sinh đáng chú ý; và trong thời kỳ đầu một số cá nhân nổi bật đã đưa ra những thiên kiến cho các câu hỏi lớn như vậy. Tôi còn do dự chưa khẳng định đây là dạng “thông minh thứ 9” đầy đủ vì chúng tôi vẫn chưa có bằng chứng thuyết phục về việc “ý nghĩ hiện sinh” dựa vào trung tâm thần kinh não chuyên biệt hay nó có một lịch sử tiến hóa nổi bật hay không (mặc dù một số nhà bình luận đã đưa ra suy đoán thú vị về “điểm Chúa” bên dưới thùy não thái dương[18]. Và vì vậy ứng cử gần đây nhất về “khả năng thông minh” vẫn ở dạng treo; nhớ đến một bộ phim cổ điển của Federico Fellini, tôi gọi đó là dạng thông minh “thứ 8 1/2”.

Ý thức hiện sinh tuy chưa phải là một dạng thông minh đầy đủ những có vị trí rất đáng kể trong kinh doanh. Đa số chúng ta nghĩ kinh doanh là trần tục, thực tế, hàng ngày; những chủ đề về sinh tồn, tôn giáo, và tinh thần vẫn không được đề cập cho đến khi có ngày Sabbath thích hợp. Tuy nhiên, có nhiều sản phẩm kinh doanh, dù là trực tiếp hay gián tiếp, đề cập đến những vấn đề lớn hơn về sinh tồn, xác định nguồn gốc và niềm tin. Tôi có thể kể đến vô số các sách, đĩa, phim, và các chương trình tivi liên quan đến lĩnh vực tinh thần - từ thiên thần cho đến ác quỷ; hay có thể kể đến vô số các tổ chức, cơ quan, hay các trải nghiệm (kể cả trò chơi ở công viên giải trí!) phục vụ cho tinh thần con người; hay những ví dụ khác trong lĩnh vực tôn giáo, dù thuộc tổ chức tôn giáo trung tâm hay khu vực lân cận, dù là truyền thống hay xu hướng mới thịnh hành. “Hiện sinh” là một vấn đề lớn.

Tuy nhiên, ý thức hiện sinh không chỉ thể hiện qua các sản phẩm. Nó còn là một khía cạnh trong công việc dù có thể không phải ai cũng nhận thức được; nếu mọi người không tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống công việc, họ sẽ cảm thấy bất mãn và kết cục là làm việc không hiệu quả, thậm chí có thể còn tệ hơn. Chắc chắn vấn đề tìm tòi ý nghĩa công việc không chỉ quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh, mà còn là một nhu cầu mạnh mẽ trong mọi ngành nghề[19]. Vì lẽ đó, tôi tin rằng chúng ta có thể tìm thấy các dạng thông minh trong hầu hết mọi nghề nghiệp. Ví dụ, một nhạc sĩ đương nhiên phải có năng khiếu âm nhạc, nhưng để trình diễn hiệu quả trước công chúng, người đó cần dựa rất nhiều vào khả năng vận động cơ thể, không gian, trí thông minh cá nhân, và có lẽ đặc biệt là trí thông minh hiện sinh. Đáng chú ý cũng là trường hợp những người thành công trong cùng một vai trò văn hóa nhưng sử dụng nhiều dạng thông minh khác nhau. Nhà toán học và vật lý học Stephen Wolfram nhận xét về các cách suy nghĩ khác nhau trong lĩnh vực toán học:

Trong giới tiếp xúc với toán học cao cấp, những người khác nhau thường có cách suy nghĩ khác nhau một cách kỳ lạ. Một số suy nghĩ một cách hình tượng, sử dụng ngôn ngữ cho kiến thức đại số hay những thứ khác. Một số lại suy nghĩ theo hướng cảm quan nhiều hơn, sử dụng trải nghiệm cơ học hay những ghi nhớ thị giác. Những người khác có vẻ lại suy nghĩ theo cách trừu tượng, có khi ngầm so sánh với một bản hòa âm. Và cũng có người – kể cả những nhà toán học thuần túy nhất - hàng ngày có thể suy nghĩ rành mạch thông qua những giới hạn trừu tượng trong hình học[20].

❀ ❀ ❀

[1] Xem thêm trong Ngôn ngữ của ý nghĩ - The language of thought của Jerry A. Fodor (New York: Thomas Crowell, 1975).

[2] Albert Einstein, trích trong Quá trình sáng tạo - The Creative process của Brewster Ghiselin (New York: Mentor, 1952), tr.43.

[3] Frames of mind: The theory of multiple intelligences (New York: Basic Books, 1983/1993); Multiple intelligences: The theory inpractice (New York: Basic Books, 1993); Intelligence reframed: Multiple intelligences for the twenty-first century của Howard Gardner (New York: Basic Books, 1999).

[4] Xem kỹ hơn về quan điểm truyền thống trong “The theory of intelligence and the psychophysiology of cognition” của Hans J. Eysenck, Advances in research on intelligence, ấn bản R. J. Sternberg (Hillsdale, NJ: Lawrence Erlbaum, 1986); The bell curve của Richard J. Herrnstein và Charles Mur- ray (New York: Free Press, 1994); The “g” factor: The Science of mental ability của Arthur Jensen (Westport, CT: Praeger, 1998).

[5] Leading minds của Howard Gardner (New York: Basic Books, 1995), 137; My years at General Motors của Alfred P. Sloan (Garden City, NJ: Doubleday, 1972).

[6] The best and the brightest của David Halberstam (New York: Random House, 1972).

[7] “Varieties of gittedness” của Julian Stanley (bài diễn thuyết tại Cuộc họp thường niên của Hiệp hội nghiên cứu giáo dục Mỹ, San Francisco, Tháng 4 1995).

[8] The art of possibility: Transforming professional and personal life của Rosamund Stone Zander và Benjamin Zander (Boston: Harvard Business School Press, 2000).

[9] Tôi không thể xác minh lời trích dẫn này, nhưng nếu muốn so sánh, xin xem Life on the run của Bill Bradley, (New York: Quadrangle, 1976), 87, 170.

[10] Albert Einstein, trích trong The Creative Process của Brewster Ghiselin (New York: Mentor, 1952), tr. 43.

[11] Intelligence reframed của Howard Gardner.

[12] Emotionalintelligence của Daniel Goleman (NewYork: Bantam, 1995); Working with emotional intelligence của Daniel Goleman (New York: Bantam Books, 1998).

[13] Primal leadership: The hidden driver of great performance của Daniel Goleman, Richard Boyatzis, và Annie McKee (Boston: Harvard Business School Press, 2002).

[14] Getting to Yes của Roger Fisher và William Ury (Boston: Houghton Mifflin, 1981).

[15] Now, discover your strengths của M. Buckingham vá D.O.Clitton (New York: Free Press, 2001).

[16] “Managing oneself” của Peter Drucker, trong Harvard Business Review, tháng 3-4, 1999, tr. 65-74.

[17] Xem Intelligence reframed của Howard Gardner, chương 4 và 5, để có những lý do dẫn đến kết luận này. 8 tiêu chí, được nêu chi tiết trong chương 4, Frames of Mind của Howard Gardner, như sau: (1) Tồn tại một hệ thống biểu tượng riêng biệt; (2) có bằng chứng về biểu hiện chuyên biệt trong não bộ; (3) có lịch sử tiến hóa riêng biệt; (4) có kiểu phát triển riêng biệt; (5) có hoạt động tâm lý cốt lõi xác định được; (6) tồn tại một lượng dân số thiếu hay nổi bật về một năng lực nào đó; (7) có kết quả trong hệ thống kiểm tra tinh thần về trí thông minh; và (8) có những nhiệm vụ chuyển đổi hoặc thiếu chuyền đổi chéo của một dạng thông minh riêng biệt. Thêm một tiêu chí nữa, đôi khi được tinh đến, là sự tồn tại của những vai trò làm nổi bật trí thông minh trong những nền văn hóa khác nhau.

[18] Xem “Religion and the brain” của Sharon Begley, Newsweek, ngày 7/5/2001, từ trang 50 trở đi.

[19] Good work: When excellence and ethics meet của Howard Gardner, Mihaly Csikszentmihalyi, và William Damon (New York: Basic Books, 2001).

[20] A new kind of science của Stephen Wolfram (Champaign, IL: Wolfram Media, 2002), 1177.

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.