Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 207 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY THAY ĐỔI TƯ DUY

❊ ❊ ❊

Quay trở lại với khía cạnh tích cực hơn trong vấn đề thay đổi tư duy. Mọi người đều thay đổi tư duy và đặc biệt khi còn trẻ, hiện tượng này xảy ra thường xuyên hơn. Đó là nhờ sự hỗ trợ của thiên hướng tự nhiên chấp nhận một ý kiến nào đó, vì vậy những quan điểm mang tính tương đối trở nên phổ biến trong giới trưởng thành. Chúng ta cũng bị buộc phải thay đổi tư duy khi nảy sinh mâu thuẫn với quan điểm chung của một nhóm người mới quyền lực và giàu có. Nếu một người lớn lên từ gia đình hay cộng đồng có truyền thống bảo thủ, người đó sẽ có xu hướng bị sốc khi học lên trung học hay cao đẳng nơi thiên hướng tình cảm phổ biến là ôn hòa hay tự do. Nhiều nghiên cứu đã ghi lại việc chuyển sang cánh hữu khi giới trẻ vào trường đại học; chắc chắn phần nào là do tác động ảnh hưởng của bè bạn xung quanh. Xu hướng ngược lại thường bắt đầu 10 hay 20 năm sau khi những cá nhân này tham gia vào những môi trường có lợi nhuận và cần có nguồn thu để trang trải cho nhà cửa, học phí cho con, và những kế hoạch về hưu cho bản thân.

Những nhà hành vi học đã khiến chúng ta nghĩ rằng động cơ mạnh nhất tạo nên sự biến đổi trong hành vi là kết hợp thưởng phạt. Rõ ràng luận điểm này có vấn đề. Tôi vẫn thường châm biếm với tư cách là một phụ huynh rằng nếu làm gì cũng thất bại, tôi sẽ trở thành nhà hành vi học. Nếu có phần thưởng rõ ràng đề truyền miệng một quan điểm nào đó, đa số mọi người sẽ bắt đầu tìm hiểu và ít nhất một số cũng trở nên tin vào điều đó. Tuy vậy, nếu chủ yếu dựa vào những hình thức khuyến khích khác nhau thì đó chỉ là những thay đổi bề mặt; chúng có thể bị lật ngược lại một cách nhanh chóng và dễ dàng như khi xuất hiện. Tôi cho rằng đó là vì “người đào tạo” chỉ chú trọng đến những hành vi bên ngoài - cái một người có thể nói hoặc làm tại một thời điểm nhất định - chứ không phải là hệ thống niềm tin bên trong.

Một lần nữa, ở đây lý luận nhận thức lại chứng tỏ khả năng giải thích của mình. Hành vi học xem xét cách phản ứng và cố tìm ra những hệ thống trải nghiệm nào có thể biến đổi cách phản ứng đó theo chiều hướng mong muốn. Nhận thức học thì lại cố gắng tìm hiểu biểu hiện trí tuệ hiện tại xem nó bao gồm cái gì, độ sâu của nó thế nào. Tiếp đến, thách thức của nhận thức học là phải xác định những trải nghiệm, cách nhìn hay luận điểm nào có xu hướng thách thức biểu hiện trí tuệ đó nhất, chỉ ra những nhược điểm để có thể làm mai một nó. Người giáo viên có lý luận nhận thức sẽ xây dựng những trải nghiệm giúp khám phá ra một khái niệm hòan thiện hơn, một câu chuyện mang tính thúc đẩy hơn, một lý thuyết vững mạnh, một thực hành hiệu quả hơn, và cuối cùng là một biểu hiện trí tuệ ở cấp cao hơn.

Giũa mức độ phức tạp của các lý thuyết cạnh tranh có một sự giằng co thú vị. Một mặt, chúng ta có sự dễ dãi trong nhận thức: chúng ta cảm thấy dễ dàng và thoải mái khi tiếp nhận những lời giải thích thắng thế, đặc biệt là khi chúng gọn gàng và đơn giản. “những gã to lớn” có mọi thứ, vì thế về phe họ là hợp lý. Mặt khác, chúng ta lại có ước vọng mạnh mẽ muốn tìm hiểu sự vật rõ hơn, muốn có sự kiểm soát thành thạo đối với những sự vật đó. Vì lẽ đó, khi tiếp xúc với sự giải thích phức tạp hơn một chút so với mức độ hiện tại của mình, trẻ em có xu hướng dễ nắm bắt hơn. Chẳng hạn, nghiên cứu về quá trình phát triển đạo đức cho thấy những cá nhân ở trạng thái phức tạp X sẽ có xu hướng bị thuyết phục bởi những luận điểm có mức độ phức tạp X + 1. Do đó, những người trẻ ở mức “sức mạnh = lẽ phải” sẽ cảm thấy thuyết phục trước luận điểm cho rằng một người thông minh hay có lương tâm có thể giá trị hơn một người có cơ bắp. Nếu mức độ phức tạp cao hơn, +2 hay +3 chẳng hạn, thì bọn trẻ lại không thể tiêu hóa được luận điếm đó vá đơn gian là phớt lờ đi (những lý lẽ về các khái niệm phức tạp như “công bằng phân bổ” hay “chuẩn mực đạo đức phải theo” sẽ rơi vào tai điếc của những đứa trẻ 10 tuổi). Tuy nhiên, nếu lý lẽ ở mức quá đơn giản, bọn trẻ nói chung lại không xem trọng lý lẽ đó. Ví dụ, khi nghe ràng “Điều đó đúng vì tao bảo là đúng”, một đứa trẻ tinh vi hơn sẽ đáp lại “Ồ, đó là một lý lẽ ngu xuẩn”, hay “Chỉ có con nít mới nói vậy”.[1]

Làm thế nào để thay đổi tư duy của trẻ em hiệu quả nhất đã từng là mối quan tâm đặc biệt của nhà tâm lý học phát triển đứng thứ 3 thế kỷ XX, Lev Semyonovich Vygotsky[2]. Vygotsky cho rằng trong bất kỳ quá trình giáo dục nào, việc đầu tiên phải là xác định - qua các bài kiểm tra hay bài tập - về năng lực hiện tại của trẻ. Nhưng ông cũng nêu rõ hai cá nhân có cùng “điểm số” trong cùng công cụ đánh giá có thể có khả năng đạt mức độ tinh vi khác nhau đáng kể. Ví dụ: giả sử có hai đứa trẻ 5 tuổi luôn thua trong trò chơi tic-tac-toe. Mỗi đứa sẽ có một quá trình tiến bộ riêng - chẳng hạn như có những chiến lược khác nhau tùy theo trường hợp được đi trước hay đi sau. Đứa trẻ A nắm bắt ngay lập tức và bắt đầu đánh bại đối phương thường xuyên; đứa trẻ B không có hoặc ít cố gắng nắm bắt cách chơi, và không có tiến bộ nào. Theo phân tích của Vygotsky, đứa trẻ A có “khu vực tiềm năng (hay cận tiềm nâng) phát triển” lớn hơn, và sự can thiệp từ giáo dục sẽ có hiệu quả hơn. Nói nôm na, kết quả bài tập ở một thời điểm nào đó không có sự khác biệt giữa A hay B, nhưng A có tiềm năng nhận thức cao hơn.

Vygotsky còn đóng góp một khái niệm hữu ích khác trong nghiên cứu về thay đổi tư duy. Với kết quả bài tập quá tệ, đứa trẻ sẽ được hỗ trợ một lượng kiến thức giàn giáo: nghĩa là cung cấp kiến thức một cách quy củ vừa đủ trợ giúp đứa trẻ đó tiến bộ một cách đáng kể. Tiếp tục ví dụ về trò chơi tic-tac-toe, người lớn có thể dụng giàn giáo cho trẻ bằng cách gợi ý nó phải cố gắng dự đoán bước đi của đối thủ trước khi đi một nước nào đó, hay cần phải có chiến lược khác khi đối phương đánh X ở góc thay vì ở giữa bàn cờ. Sau đó, tiếp tục củng cố lời khuyên này bằng cách chỉ ra kết quả khi trẻ làm theo lời gợi ý, so sánh với những trường hợp khi trẻ không nghe lời. Chất liệu giàn giáo sẽ có hiệu quả khi trẻ tận dụng được sự hỗ trợ của người lớn như vậy. Tuy nhiên, cũng giống như trong xây dựng, không nên duy trì giàn giáo quá lâu. Qua vậy, một khi đã được “sử dụng” xong, giàn giáo nên được nhanh chóng dỡ bỏ. Theo lý thuyết của Vygotsky, những kiến thức giàn giáo thành công khi được “tiếp thu”: đầu tiên, tiếp nhận từ bên ngoài, thường là từ người lớn hơn hoặc người có hiểu biết hơn, và sau cùng được xử lý qua những “cuộc đối thoại” bên trong tư duy.

Những thay đổi tư duy bất chợt - như trường hợp của Saul người Do Thái đã chuyển sang đạo Cơ đốc trong chuyến hành trình đến Damascus - có thể xảy ra một cách đột ngột, sâu sắc và vĩnh viễn; chúng đột nhập vào phần cốt lõi của người nào đó và xâm chiếm họ. Tuy nhiên, mặt khác, chúng ta nên biết rằng những báo cáo về các thay đổi tư duy sâu sắc như vậy thường vượt quá những gì thật sự diễn ra. Nhiều người từng bị dụ dỗ với đức tin mới, được “tái sinh” chẳng hạn, đã trở lại với đức tin ban đầu chỉ trong vòng vài ngày hay vài tháng. Và chúng ta cũng nên nhớ rằng, theo Nicholson Baker, những thay đổi tư duy quan trọng có thể diễn ra từ từ một cách bí mật, vì thế chúng ta chỉ có thể nhận biết về những thay đổi này sau khi chúng đã hợp nhất lại. Những trải nghiệm bên ngoài là có thật, nhưng chúng chỉ là một trong những hình thức thể hiện những thay đổi quan trọng trong tư duy.

❀ ❀ ❀

[1] “The development of morality” của Elliot Turiel, trong Handbook of child psychology, tập 3, ấn bản W. Damon (New York: Wiley, 1997), tr. 863-932.

[2] Thought and language của Lev Semonovich Vygotsky (Cambridge: Har-vard University Press, 1978).

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.