Là một tay chơi không định hướng hay tham vọng gì trong những năm còn trẻ, George W. Bush tuy nhiên lại có các bước tiến ổn định trong kinh doanh và chính trị trong suốt những năm 1990, rồi nhanh chóng ngồi vào ghế Tổng thống. Sau khi người cha bị thất bại vào tay Bill Clinton trong đợt tái củ nâm 1992, Bush con đã quyết chí không phạm sai lầm như cha - không chỉ trong đợt tranh cử mà cả trong thời gian làm Tổng thống nếu được bầu. Sau khi cuộc bầu cử khép lại một cách bất thường với hậu quả căng thẳng và nhiều vết tích trong cả nước, Bush đã tuyên thệ nhậm chức vào tháng 1 năm 2001.
Ngay cả những người ủng hộ thân cận nhất của Bush cũng phải thừa nhận rằng ông chỉ tốt mã cho chức vị Tống thống hơn là có thực tài cho các quyết định khó khăn - và đặc biệt là những quyết định mang tính chất quốc tế mà chắc chắn ông sẽ phải đối mặt. Trong các cuộc phỏng vấn và hội nghị báo chí, Bush tỏ ra không thông thạo về nhiều vấn đề. Phản hồi về cuộc gặp Bush tháng 6 năm 2001, Đại diện bang New York Peter King nói: “Ông ấy vẫn đang làm quen với vị trí mới. Ông ấy có hai hoặc ba điều trong đầu để nói và chỉ vậy thôi”. Nghị sĩ bang Florida Bob Graham cũng có ý kiến tương tự: “Ông ấy chưa thật sự vào cuộc. Có vẻ ông chỉ có khả năng tập trung vào những việc ông xác định là ưu tiên và bỏ qua những việc khác. Đối với một số người điều này chứng tỏ ông thiếu sự quan tâm”[1]. Và một đảng viên Cộng hòa tích cực, Nghị sĩ bang Nebraska Chuck Nagel nhận xét rằng “Bush nhận chức mà không có bề dày kinh nghiệm về chính sách ngoại giao... và ngay lập tức điều đó đưa ông vào ngõ cụt”[2].
Được hỏi về những mục tiêu đối nội, Bush không có gì nổi bật để nói; đa số ông chỉ đề cập đến việc cần thiết phải hạ thuế và giảm chi phí chính phụ trong mặt trận đối nội. Ông nổi tiếng về việc đã cải tiến điều kiện giáo dục cho thanh thiếu niên kém may mắn ở Texas và phấn đấu đạt những thành quả tương tự trên phạm vi cả nước. Về mặt đối ngoại, ông quy tụ các cố vấn đã từng phục vụ cho cha ông. Phê phán các chính sách ngoại giao không nhất quán của Clinton, nhóm Bush đã đưa ra chính sách đối ngoại êm dịu: quân đội mạnh, tránh xa các vụ lộn xộn ở những vùng không quan trọng đối với an ninh nước Mỹ, xem nhẹ việc “xây dựng đất nước”, và một chính sách thực dụng, trong đó hạ thấp nhân quyền, thay vào đó gia tăng mối quan hệ với Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và châu Âu để nắm chặt các lợi ích kinh tế của bản thân. Rạn nứt lớn nhất giữa chính quyền hai đảng nằm ở chính sách ngoại giao quá đơn phương của Bush: Bush tỏ ra không thích hợp tác với các nước khác và xem thường hiệp định Kyoto về việc sử dụng nâng lượng cũng như hiệp ước chống đạn đạo với Liên bang Nga. Suốt mùa xuân và mùa hạ năm 2001, hầu hết các phân tích - dù ủng hộ hay chỉ trích - cũng đồng quan điểm với mô tả ở trên của tôi, tuy có thể sử dụng động từ hay tính từ ở các mức độ khác nhau.
Bức tranh toàn cảnh này thay đổi hoàn toàn trong thời kỳ hậu 11/9/2001. cái ngày kinh khủng khi bọn khủng bố Al-Qaeda lái máy bay phản lực đâm vào tòa tháp đôi của khu Trung tâm thương mại thế giới ở Manhattan và vào Lầu năm góc ở bên ngoài Washington. Nói chung, chúng ta nghĩ người trẻ sẽ dễ dàng thay đổi và người già sẽ thích giữ lối cũ. Vào tháng 9 năm 2001, Bush đã 55 tuổi - tính toán cách gì (chứ không chỉ cách tính của tôi) thì cũng già chứ không trẻ. Dù tỏ ra có những bước trưởng thành đáng kể từ tuổi 20 và 30, nhưng Bush không có chiều hướng nắm bắt các chi tiết hay suy nghĩ về những xu hướng quốc tế lớn. Ông cũng không tỏ ra có nhiều tiềm năng thay đổi tư duy về các chính sách quan trọng - người ta có cảm giác rằng ông hài lòng nghe theo những lời khuyên của ban bệ nội bộ phe mình và nếu nghi ngờ ông sẽ nhờ tới tài cố vấn của người cha vốn ôn hòa và có kiến thúc.
Vậy mà trong thời gian sau buổi sáng ngày 11/9, giới quan sát thấy rõ ràng Bush đã thay đổi. Khi quay trở lại Nhà Trắng sau ngày hôm đó, Bush có một sứ mệnh mới và xác thực: Ông là Tống thống nước Mỹ, người sẽ làm bất cứ điều gì để nhổ tận rễ bè lũ khủng bố và không để những việc tương tự tái diễn. Ông nói với các cộng sự ngày hôm đó: “Chúng ta phải chiến đấu. Đó là lý do chúng ta được trả lương, các bạn”[3]. Ông rất tập trung và quyết tâm. Ông trở nên thông thạo hơn rất nhiều về chính sách ngoại giao, ông phát triển quan hệ cá nhân với các nhà lãnh đạo mà tên tuổi ông chỉ biết tới cho đến lúc đó. Những người chỉ trích ông đã đảo ngược các đánh giá trước đây. Nghĩ sĩ Graham nói “Tôi rất ấn tượng về mức độ nắm bắt các chi tiết của ông”, Đại diện King thì nói “Nếu ông ấy biết mình đang nói gì, tận dụng thời gian, tỏ rõ sự quan tâm và sẵn sàng chiến đấu vì điều đó thì chúng ta dễ dàng đứng về phía ông ấy hơn”; và Nghị sĩ Hagel thì cho rằng Bush “đã bắt đầu tìm ra con đường của mình”[4]. Từ chủ trương đơn phương trở thành chủ trương đa phương, từ chính sách cô lập trở thành chính sách quốc tế. Người lãnh đạo từng không muốn bị lôi kéo vào công việc của nước khác đã trở nên sẵn sàng tham chiến ở Afghanistan, Ấn Độ, Pakistan, và Trung Đông, duy trì quân đội ở vùng Balkans, và đáng chú ý nhất là tiến hành chiến tranh trên toàn Iraq. Bush cũng thay đổi quan điểm về các vấn đề ông đã có thành tích trước kia: ví dụ như cần có một sự cải tổ toàn bộ, và nên thiết lập một vị trí tầm nội các chuyên viên phụ trách về an ninh nội địa.
Bush dành toàn bộ sức lực để xây dựng những liên minh quốc tế giống như liên minh chiến tranh Vùng vịnh thời cha ông 10 năm trước; xúc tiến thành công chiến tranh đánh đuổi lực lượng Taliban ra khỏi Afghanistan; tiếp tục truy đuổi Al Qaeda với tất cả những phương tiện tài chính, quân đội, và điều tra hiện có; dẫn dắt cuộc chiến đa quốc gia chống Iraq - dù cuối cùng ông bị một số nước lớn và đa số dân chúng trên thế giới chống đối; và rồi chuyển sang Liên hợp quốc trong những ngày tháng nguy hiểm sau chiến tranh. Không còn chịu im lặng theo chủ trương đơn phương, Bush cố gắng duy trì quan hệ chặt chẽ với lãnh đạo các quốc gia sẵn sàng tham gia vào tấn cống khủng bố và cô lập cái ông gọi là “trục quỷ dữ” - gồm những nước như Iran, Iraq, Syria, và Bắc Triều Tiên, vì cho rằng các nước này đang tăng tốc về chiến tranh sinh học hay hạt nhân, và đang hậu thuẫn hoặc chứa chấp bọn khủng bố lưu vong. Tất cả các báo cáo đều cho rằng Bush đã có quan điểm mục đích mới, một nền tảng kiến thức chưa rõ ràng trước đây; thay vì chỉ đơn giản lên chiến dịch để thắng cử, bây giờ ông đã tìm cách sử dụng nhiều đòn bẩy nhà nước nhằm đạt được những mục tiêu chính sách cụ thể. Như một nhà quan sát đã nói “Sự kiện thể hiện mục đích chứ không phải tư tưởng. Giống như Bill Clinton khi nhậm chức với trọng tâm chú ý đến đối nội, ông Bush đã hứa sẽ hạn chế và giảm mối quan hệ bên ngoài. Tuy vậy tác động lớn nhất trong năm là sự mở rộng to lớn quan hệ đối ngoại của Mỹ. Chúng tôi đã gửi nhiều đội quân và nhiều nhóm bí mật đến các quốc gia mới, bắt tay với nhiều đồng minh mới, đặt cơ sở quân sự ở nhiều khu vực mới, và tham gia vào nhiều xung đột mới”[5]. Người khác nói: “Bây giờ rõ ràng Tổng thống Bush, người từng theo chủ nghĩa biệt lập, đã có chương trình tái lập lại thế giới, cạnh tranh với những chính sách của Harry Truman và Woodrow Wilson về mặt tham vọng, phạm vi và lý tưởng”[6].
Có người thay đổi tư duy vì họ muốn, cũng có người bị buộc phải thay đổi. Không có gì là thiếu tôn trọng tổng thống Bush nếu nói rằng sự thay đổi tư duy của ông không phải là chủ ý của bản thân ông. Nói theo câu cách ngôn cũ của Shakespeare “George Bush không sinh ra để làm một người thay đổi tư duy; mà sự thay đổi tư duy đã chọn ông”. Điều không thể dự đoán được là Bush đã thay đổi.
Đương nhiên chúng ta không thể biết điều gì đang diễn ra trong đầu Bush. Ông không phải là người có bản chất nội quan, và dù ớ mức độ nào ông cũng không thích chia sẻ nội quan của mình cho các nhà báo thông thường, chưa nói đến những nhà tâm lý học không mấy liên quan. Tuy vậy, tôi có thể tuyên bố chắc chắn rằng Bush hẳn đã có rất nhiều cuộc đối thoại không chỉ với người khác mà còn với bản thân. Tống thống nước Mỹ, một quốc gia có quyền lực nhất trong trí nhớ của nhân loại, có một vị trí rất khác với bất kỳ người nào. Ông có thể thoải mái xin ý kiến của bất kỳ ai ông thích. Nhưng cuối cùng, và đặc biệt khi có nhiều ý kiến khác biệt nhau, thì trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về ông.
Một người có thể chứng tỏ cho người khác thấy mình đã thay đổi tư duy trong khi bản thân lại cảm thấy mình vẫn không thay đổi gì. Cần phải có niềm tin nhất quán và sự tự tin rằng mình đạt được sự nhất quán đó, thì mới có được sự kiên định có ý thức, và điều này đặc biệt đúng với trường hợp người của công chúng. Các chính trị gia Mỹ phải tuyên thệ sẽ công khai những thay đổi trong tư duy, vì sợ bị cho rằng yếu đuối hay không nhất quán. Như David Brooks nhận xét “Bush sẽ làm bất cứ điều gì để chiến thắng, và những nghị sĩ trong bộ máy của ông có khả năng nhìn nhận chân thật về sai lầm của mình. Nhưng bạn sẽ không bao giờ thấy họ công khai thừa nhận chúng”[7]. Dù vậy, ít nhất tôi cũng cho rằng Bush đã thay đổi quan điểm về mục tiêu làm tổng thống của mình. Tôi cũng suy luận rằng Bush đã thay đổi tư duy về sử mệnh của đời ông; về mối quan hệ của Mỹ với các nước khác; về sự cần thiết phải tham gia vào nhiều nơi khó khăn trên thế giới, bao gồm cả những nơi ông không biết đến nhiều và cơ hội thành công của ông rất mong manh; về tầm quan trọng của việc trao đổi sứ mệnh quốc gia với người dân cũng như với nước ngoài; về những hiểm nguy từ bọn khủng bố; về sự đồng thuận cần thiết giữa hai đảng trên các vấn đề then chốt; và về tầm quan trọng của thể chế nhà nước vững mạnh, có thể hợp nhất một cách khôn ngoan từ lực lượng an ninh đối nội tới cho đến các cơ quan tình báo và nhập cư cũ. Quả vậy, như tờ Business Week đưa tin “Trong vòng 12 tháng qua, nước Mỹ đã cho thấy sự gia tăng chi phí chính phủ cho quốc phòng trong một năm lớn nhất, chiếm 1% GDP kể từ năm 1982. Đã có nhiều luật lệ hơn, nhiều giám sát pháp luật hơn, và nhiều can thiệp của chính phủ hơn bất kỳ lúc nào kể từ cuối những năm 70”[8]. Thật khó tưởng tượng các xu hướng này sẽ ra sao nếu Bush không thay đổi quan điểm về các vấn đề then chốt.
Du có những hạn chế gì, từ nhỏ George W. Bush đã có vẻ giỏi giang về cái tôi gọi là năng khiếu giao tiếp - một phần công cụ trí tuệ của chúng ta liên quan đến việc hiểu biết và động viên người khác. Ông thích những người khác, và ông cảm thấy tự hào khi biết họ ở trường, có thể ông chỉ là một học sinh bình thường nhưng ông đã nổi bật với kỹ năng kết bạn và học hỏi người khác. (Đúng vậy, tôi suy luận rằng những khó khăn bẩm sinh về việc học đọc và các kỹ năng ngôn ngữ khác có lê đã thúc đẩy cậu Bush trẻ, thích đàn đúm, trau dồi những kỹ năng cá nhân). Ông tiếp tục mài giữa các kỹ năng này trong suốt thời sinh viên, thời học kinh doanh, thời ăn chơi, trong toàn bộ quá trình tham gia vào các doanh nghiệp, và thu được thành công ở các mức độ khác nhau. Ngay cả những người cảm thấy Bush không có gì ấn tượng về trí tuệ cũng thích ông về mặt cá nhân và họ rất ấn tượng với kỹ năng hòa hợp và làm cho người khác cảm thấy thoái mái của ông. Giống như những người giỏi giao tiếp khác (bao gồm hầu hết các tổng thống Mỹ), Bush cũng có niềm tin vào khả năng hòa đồng với các nhà lãnh đạo nước ngoài và thuyết phục họ hợp tác với nhau. Như ông nói về vấn đề này “Rất nhiều nhà lãnh đạo đến đây để ngồi xuống và nói chuyện. Tôi nghĩ điều quan trọng là nhìn thẳng vào mắt tôi. Nhiều vị lãnh đạo cũng có khả năng vốn có giống tôi, theo tôi, đó là khả năng đọc được người khác”[9].
Tất cả những điều này để nói rằng năng khiếu giao tiếp của Bush đã giứp ông làm việc rất hiệu quả nhiều năm qua trong các mỏi trường khác nhau. Nhưng tôi nghĩ rằng sau sự kiện 11/9, ông bắt đầu đào sâu khả năng xem xét nội tâm - một sự thay đổi tư duy rất cần thiết vì ông đang làm việc trong lĩnh vực chính trị và quân sự mới mẻ. Rất khó hiểu được và viết về năng khiếu nội tâm. Mấu chốt của loại thông minh này đòi hỏi các yếu tố sau: kiến thức sâu sắc về bản thân, biết mình là ai, có ưu nhược gì, có mục tiêu gì và cách tốt nhất để đạt những mục tiêu đó, cách đạt được thành công, cách học hỏi tù những phản ứng trước các sự kiện, bất kể kết quả là thế nào - nói tóm lại, phải có biểu hiện trí tuệ chính xác hợp lý về bản thân, đơn lẻ một mình hay khi với người khác, và có khả năng quan sát để nếu cần thay đổi biếu hiện trí tuệ đó. Mặc dù chỉ quan sát từ bên ngoài và không đồng tình với nhiều chính sách của Bush, tôi vẫn nói rằng Bush đã cho thấy một sự phát triển ấn tượng về năng khiếu nội tâm trong những năm ông nắm giữ chức vụ cao.
Trong chương vừa rồi tôi đã tập trung vào các thay đổi diễn ra theo ý muốn của người thân cận - một cộng sự trong công việc, một người bạn, bố mẹ, đồng môn, nhà trị liệu, hay người yêu. Chúng ta có thể thay đổi tư duy của những người chúng ta thân thiết và họ cũng có thể thay đổi tư duy chúng ta. Tuy nhiên, dù là nguyên nhân nào hay cái gì xúi giục, chúng ta cuối cùng vẫn phải chịu trách nhiệm về sự thay đổi tư duy của chính mình. Khi có sự thay đổi tư duy mạnh mẽ như vậy, khả năng nhận biết những gì đang diễn ra trong đầu mình là tối quan trọng.
Tôi cho rằng Bush tuy không phải là người nội tâm thiên bẩm, nhưng ông biết rõ về tư duy và khả năng thay đổi của mình theo cách mà chính ông hay bất kỳ ai cũng không thể đoán đượe trước khi sự kiện phũ phàng ngày 11/9/2001 xảy ra. Ông đã thay đổi rất nhiều nội dung trong tư duy của mình: niềm tin vào hệ thống thế giới và một số hình thức thu thập thông tin, kết hợp chúng lại với nhau, và đưa ra quyết định. Bush là ví dụ thú vị về trường hợp biến cố có thể thúc đầy một quá trình “thay đổi”. Như đã viết vào cuối năm 2003, tôi nghĩ rằng các biến cố sau thời tống thống của ông sẽ vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến những khuôn khổ và hình thức tư duy của ông.
Có lẽ tư duy thay đổi sâu sắc nhất trong các lĩnh vực có ý nghĩa nhất của mọi người - những lĩnh vực có giá trị cao như chính trị, học thuật, và tôn giáo. Khi xác định cái gì thay đổi và cái gì không trong các phạm trù liên quan này, chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc về cách biến đối tư duy của các cá nhân. Chúng ta hãy chuyển sang một ví dụ khác cũng từ chính trị, trong đó 3 trong sớ các R của chúng tôi - lý lẽ (reason), cộng hưởng (resonance) và biến cố trên thế giới (real world events) - đã đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi sâu sắc tư duy của một người.
❀ ❀ ❀
[1] Cả hai đều được trích trong “Growing on the job” của Steve Thomma, Miami Herald, ngày 12/12/2001.
[2] Trích trong “From change of mind. Bush gains major turning point” của David Shribman, Boston Globe, ngày 7/6/2002, A38.
[3] “This is our life now” của Howard Fineman và Martha Brant, Newsweek, tháng 12/2001, tr. 22.
[4] “Growing on the job” của Thomma.
[5] Carnegie endowment policy brief của Jessica Matthews, 2002.
[6] “Bush agenda seeks to remake world without much help” của Alan Murray, Wall Street Journal, ngày 5/6/2003, A4. Cũng xem trong “Middle East mediator: Big new test of Bush” của David Sanger, New York Times, ngày 5/6/2003, A14; “Whose side is Bush on?” của Richard Norton Smith, New York Times, ngày 7/5/2003, A29.
[7] “Whatever it takes” của David Brooks, New York Times, ngày 9/9/2003, A31.
[8] Business Week, ngày 16/9/2002.
[9] “This is our life now” của Fineman và Brant.