Ta ngủ không ngon và hay đau vùng bụng dưới: có phải là con không? Ta trằn trọc trở mình trên giường, giấc ngủ trở nên ám ảnh bởi những cơn ác mộng phi lý. Trong một giấc mơ, cha con đang khóc. Ta chưa từng nhìn thấy ông ấy khóc, ta không biết là ông ấy có khả năng đó. Nước mắt ông ấy rơi lã chã xuống bể bơi trong vườn nhà ta và trong bể bơi đầy những dải băng gelatin đùng đục bất tận. Giữa các dải băng sền sệt đó là những quả trứng nhỏ màu đen, chúng kéo dài giống như một cái đuôi: những con nòng nọc. Ta chẳng để ý gì đến cha con. Mối bận tâm của ta là giết chết lũ nòng nọc để chúng không lớn thành ếch và khiến ta thức giấc cả đêm vì những tiếng ộp oạp của chúng. Cách thức rất đơn giản: tất cả những gì ta phải làm là lấy cái que vớt các dải băng lên rồi trải chúng xuống bãi cỏ để nắng hong khô giết chết chúng. Nhưng các dải băng rất trơn và luồn lách, chúng nhanh chóng lật trở lại mặt nước và chìm vào bể chất nhờn: ta không tài nào trải chúng xuống mặt cỏ được. Thế rồi cha con ngừng khóc và bắt đầu giúp ta một tay, và ông ấy chẳng gặp khó khăn gì. Cha con vớt những dải băng bằng một cành cây, chúng không hề trượt khỏi ông ấy; ông ấy chất đống chúng trên bãi cỏ. Bình thản và có phương pháp. Và điều đó khiến ta đau đớn. Bởi ta như thể nhìn thấy hàng chục, hàng trăm đứa trẻ miệng há hốc và khô cong dưới nắng. Choáng váng, ta giằng cành cây khỏi tay ông ấy, gào lên: “Để chúng yên! Anh cũng từng được sinh ra kia mà!”
Trong một cơn ác mộng khác có một con chuột túi. Đó là một con chuột túi cái và từ trước bụng nó nhô ra một thứ mềm mại sống động: một dạng ấu trùng yếu ớt. Nó nhìn quanh ngơ ngác, dường như cố hiểu xem mình đang ở đâu, rồi bắt đầu trèo lên cái thân hình đầy lông lá. Nó bò chậm rãi, vất vả, trơn trượt và liên tục bị tụt xuống, nhưng cuối cùng nó đã tới được cái túi, và bằng một nỗ lực lớn lao cuối cùng nó thả mình rơi vào trong túi rồi thò đầu ra.
Ta nhận thức được rằng đó không phải là con; đó là cách mà phôi thai của con chuột túi được sinh ra bởi nó sớm chui ra khỏi cái nhà tù trong quả trứng rồi hoàn tất sự định hình của mình ngoài tử cung của chuột túi mẹ. Thế nhưng ta trò chuyện với nó như thể nó là con. Ta cảm ơn nó vì nó đã đến và chỉ ra cho ta thấy nó không phải là một vật mà là một con người. Ta nói với nó rằng từ giờ chúng ta không còn là hai kẻ xa lạ, hai người dưng, rồi cười hạnh phúc. Ta cười thành tiếng… Nhưng bà của ta đi tới. Bà đã già và rất buồn. Dường như toàn bộ sức nặng thế giới đã đè lên đôi vai gù của bà. Bà cầm trên đôi tay gầy mòn một con búp bê nhỏ, mắt nhắm nghiền với cái đầu quá khổ. Bà nói: “Ta mệt quá. Ta đang trả giá cho những lần nạo thai. Ta có tám đứa con và tám lần nạo thai. Ta mà giàu thì ta đã có mười sáu đứa con và không phải nạo thai lần nào. Không ai có thể quen với điều đó đâu; mỗi lần đều là lần đầu tiên. Nhưng linh mục không hiểu điều đó.” Con búp bê có kích cỡ bằng cây thánh giá, loại mà người ta bỏ trong túi áo. Bà của ta nâng nó như cây thánh giá và đi vào nhà thờ, ở đó bà quỳ xuống chỗ xưng tội rồi bắt đầu thì thầm điều gì đó. Phía sau song cửa, một giọng nói khắc nghiệt cất lên – giọng của linh mục: “Ngươi đã giết một con người! Ngươi đã giết một con người!” Bà run rẩy vì sợ người khác nghe thấy. Bà cứ van nài: “Xin Cha đừng gào lên, con cầu xin Cha! Người sẽ khiến con bị bắt mất! Con cầu xin Người!” Nhưng linh mục không hề hạ giọng, và bà bỏ chạy. Bà chạy qua các con phố, cảnh sát rượt đằng sau, và thật là thương tâm khi chứng kiến một bà già phải chạy như thế. Ta cảm thấy như mình sắp ngất thay bà, và ta nghĩ: trái tim bà sẽ nổ tung, bà sẽ chết mất. Cảnh sát tóm được bà ngay trước cửa nhà bà. Họ mang con búp bê nhỏ đi và trói tay bà lại. Bà nói một cách tự hào: “Tôi rất tiếc, nhưng tôi sẽ lại làm điều đó lần nữa. Tôi chưa bao giờ tự nguyện làm việc đó nhưng tôi không thể chăm sóc quá nhiều con. Tôi không thể.” Ta bị thức giấc bởi những cơn đau ở bụng dưới.
Ta phải thôi không gặp cô bạn của ta. Những bài diễn thyết của cô ấy khiến ta gặp những cơn ác mộng này. Hôm qua cô ấy mời ta tới ăn tối; chồng cô ấy không có nhà; cô ấy nghĩ đó là dịp tốt để nói chuyện với ta về con, và đó quả là một sự tra tấn. Dường như thực sự có một nhà khoa học, bác sĩ HB. Munson, đồng ý với cô ấy. Người đàn ông này tuyên bố rằng ngay cả bào thai thực ra cũng chỉ là chất trơ, chỉ hơn cây rau một tí và có thể bị một cái thìa hủy diệt. Cùng lắm thì có thể coi đó là “một hệ thống chặt chẽ với những khả năng chưa được hiện thực hóa”. Ngược lại, theo một số nhà sinh vật học, con người bắt đầu từ thời điểm thụ thai bởi trứng được thụ tinh có ADN: Axit Deoxyribo Nucleic bao gồm các protein hình thành nên một cá thể. Bác sĩ Munson đáp trả ngay rằng ngay cả tinh trùng, ngay cả trứng chưa được thụ tinh, cũng chứa ADN. Thế chúng ta có coi tinh trùng và trứng là con người không? Rồi có một nhóm bác sĩ cho rằng bào thai chỉ trở thành con người sau hai mươi tám tuần tuổi, thời điểm mà nó đã có thể sống sót ngoài tử cung người mẹ dù quá trình thai nghén chưa hoàn tất. Một nhóm các nhà nhân chủng học thì cho rằng một đứa trẻ mới sinh ra thậm chí cũng chưa được coi là một con người mà cá thể đó chỉ trở thành người khi được định khuôn theo những tác động văn hóa xã hội. Hai bọn ta gần như đã kết thúc buổi trò chuyện bằng trận cãi vã. Cô bạn ta nghiêng về ý kiến của các nhà nhân chủng học còn ta mau chóng tán đồng ý kiến của các nhà sinh học. Tức giận, cô bạn buộc tội ta theo phe các linh mục: “Cậu đúng là kẻ theo Thiên Chúa giáo, một kẻ Thiên Chúa giáo, Thiên Chúa giáo!” Ta không phải con chiên Thiên Chúa giáo, và cô ấy biết điều đó. Hơn nữa, ta không cho phép các linh mục có quyền can thiệp vào vấn đề này, và cô ấy biết điều đó. Nhưng ta không thể, hoàn toàn không thể, chấp nhận những nguyên tắc tùy tiện của bác sĩ Munson. Ta không thể, hoàn toàn không thể, hiểu được chuyện có ai đó thọc cái que dò vào trong người khác như thể cho uống thuốc xổ để loại bỏ thức ăn khó tiêu. Trừ phi…
Trừ phi cái gì? Phải chăng ta đang phản bội quyết định của mình? Dường như ta đã rất chắc chắn về bản thân, đã dẹp bỏ hoàn toàn mọi hoài nghi, mọi sự không chắc chắn của ta. Tại sao bây giờ những điều đó lại trở lại với ta, dưới tất cả những hình thức ngụy trang này? Có phải bởi cảm giác khó ở khiến đầu óc ta quay cuồng? Có phải bởi những cơn đau bụng như đâm thấu ta? Ta cần phải mạnh mẽ, con à. Ta cần phải có lòng tin vào chính bản thân ta và con. Ta cần phải đưa con đến đích cuối cùng, để con sẽ lớn khôn, trở thành một người không phải là lão linh mục gào thét trong giấc mơ của ta, cũng chẳng phải cô bạn ta hay bác sĩ Munson, cũng không phải viên cảnh sát đã trói tay bà của ta. Người thứ nhất xem con là tài sản của Chúa, người thứ hai xem con là tài sản của người mẹ, người thứ ba xem con là tài sản của Nhà nước. Con không thuộc về Chúa, cũng chẳng thuộc về Nhà nước hoặc thuộc về ta. Con thuộc về chính con và không thuộc về bất cứ ai khác. Suy cho cùng, chính con mới là người đã khởi đầu. Ta đã nhầm khi nghĩ mình đang sắp đặt sự lựa chọn lên con. Bằng việc giữ con lại, ta chỉ chấp hành mệnh lệnh của con giao cho ta khi giọt sự sống của con được kích hoạt. Ta không lựa chọn gì cả; ta chấp hành. Nếu có ai đó là nạn nhân, đó không phải là con, con à: đó là ta. Phải chăng đó là điều con muốn nói với ta khi lao mình vào ta như một con ma cà rồng? Phải chăng đó là điều con muốn nói với ta khi làm cho ta buồn nôn? Ta đang ốm. Cả tuần nay ta không làm việc nổi. Một chân của ta phù lên. Sẽ thật là tệ nếu ta phải từ bỏ chuyến đi ấy, vốn đã được sắp xếp xong xuôi. Và ông chủ của ta có vẻ đã hiểu điều đó. Bằng cái giọng gần như đe dọa, hôm nay ông ta hỏi xem ta “có thể đi được không”, nhấn mạnh thêm là ông ta hy vọng thế. Đó là một nhiệm vụ quan trọng, một nhiệm vụ dành riêng cho ta. Ông ta háo hức với chuyến đi đó và ta cũng thế. Nếu như ta không thể đi… Dĩ nhiên là ta sẽ đi. Chẳng phải bác sĩ đã nói mang thai không phải là bị ốm mà là một trạng thái bình thường, và ta nên làm những gì ta vẫn hay làm đó sao? Con sẽ không phản bội ta.