Và đây là câu chuyện cổ tích thứ hai. Ngày xửa ngày xưa, có một cô bé rất thích sô cô la. Nhưng càng thích sô cô la thì cô bé lại càng ăn ít sô cô la. Con biết tại sao không? Ấy là bởi có thời cô bé đã được ăn bao nhiêu sô cô la tùy thích. Hồi đó, cô bé sống trong một căn nhà chan hòa ánh sáng chiếu qua các ô cửa sổ. Nhưng rồi một ngày, cô bé tỉnh giấc trong một căn nhà không còn bầu trời. Từ các cửa sổ trong căn phòng mới, gần như được đặt hết trên trần nhà và được bảo vệ bởi các chấn song như nhà tù, tất cả những gì cô bé có thể nhìn thấy là những bàn chân đi đi lại lại. Cô bé cũng có thể nhìn thấy những con chó, lúc đầu thì thật là hay vì cô bé có thể nhìn thấy cả người con chó, kể cả cái đầu. Nhưng rồi lũ chó ghếch chân lên tè vào song cửa, trong khi mẹ cô bé bật khóc: “Ôi không, không phải thế chứ!” Mẹ cô bé rất hay khóc, nhất là khi bà nhìn vào cái bụng to tướng đang khiến cho cái tạp dề của bà nhô ra, và nói với cái bụng: “Không thể chọn được thời điểm nào tệ hơn thế này!” Lúc đó cha cô bé đang nằm trên giường bắt đầu ho, cơn ho khiến ông có thể chết đi được. Cha cô bé nằm trên giường cả vào ban ngày, mặt ông vàng ệch và mắt sáng quắc. Tất cả đều buồn. Theo như cô bé nhớ, việc không còn sô cô la đến cùng thời điểm với việc cha cô bị ốm và việc chuyển đến ngôi nhà không có bầu trời lẫn niềm vui này. Họ không có tiền.
Để kiếm tiền, mẹ cô bé đến dọn dẹp nhà cửa cho một quý bà xinh đẹp. Đó là một bà dì giàu có và có sở thích mua sắm quần áo. Thậm chí người ta còn nói rằng bà ấy có túi xách riêng hợp với từng bộ váy và có giày riêng hợp với từng cái túi. Nhà bà ấy ở bên bờ sông và toàn bộ bầu trời của thành phố tràn vào qua các ô cửa sổ. Tuy nhiên, quý bà xinh đẹp vẫn không vui. Bà ấy luôn phàn nàn: bởi vì cái mũ trông không ổn, hoặc bởi vì con mèo của bà ấy hắt hơi, hoặc bởi vì người hầu của bà ấy đã về quê một tháng nay mà vẫn chưa có dấu hiệu quay trở lại. Vậy nên mẹ cô bé thế chỗ cho cô hầu vô trách nhiệm đó. Hằng ngày, từ chín giờ sáng đến một giờ chiều, bà bỏ mặc ông chồng ở lại nhà và dẫn theo cô con gái nhỏ, khăng khăng rằng cho cô bé đi hít thở không khí sẽ tốt hơn là ngồi ở nhà cạnh một người có lá phổi đã thủng. Họ đi bộ, rất xa, xuyên qua các con phố bất tận. Trên đường đi, mẹ cô bé lẩm bẩm thành tiếng rằng không biết lần này bà sẽ được nghe những gì về nỗi bất hạnh của quý bà xinh đẹp, và rồi ngay trước khi bấm chuông, bà thì thầm: “Cố lên nào!” Tiếng chuông cửa được đáp lại bằng một giọng uể oải, tiếp theo là tiếng bước chân thậm chí còn uể oải hơn, rồi cánh cửa mở ra trước một chiếc váy dài tới tận gót chân: hôm thì màu trắng, hôm thì màu hồng, có hôm lại màu xanh. Họ chùi chân lên thảm khi bước vào nhà, và bà mẹ đặt cô bé lên một cái ghế đẩu, như thể cô bé là một gói bưu phẩm. Bà dặn cô phải ngồi yên và im lặng, không được làm phiền ai, rồi nhanh chóng vào bếp rửa bát đĩa. Còn quý bà xinh đẹp ngồi duỗi chân trên đi văng, đọc báo và hút một cần thuốc. Hẳn là bà ấy chẳng có việc gì khác để làm. Và cô bé không thể hiểu vì sao bà ấy không tự rửa bát đĩa mà để mẹ cô với cái bụng to vượt mặt phải rửa bát.
Sáng hôm đó quý bà xinh đẹp phàn nàn về vấn đề tiền nong. Bà ấy bắt đầu nói khi mẹ cô bé rửa bát, và tiếp tục nói khi mẹ cô bé lau phòng khách. “Cô thấy không?” bà ấy nhắc lại, “Đó là toàn bộ số tiền ông ta muốn đưa cho ta.” Và khi mẹ cô bé trả lời: “Có số tiền đó thì chắc tôi sẽ tưởng mình là một công nương mất thôi,” thì bà ấy trở nên giận dữ. Bà ấy nói: “Với ta, tiền đó chỉ đủ để đi taxi. Cô không có ý định so sánh bản thân với ta đấy chứ!” Mẹ cô bé đỏ mặt, và lấy cớ lau chùi tấm thảm, bà quỳ xuống sàn nhà, giấu mặt đi. Cô gái nhỏ cảm thấy nghẹn họng. Và khi những giọt nước mắt chan chứa trong mắt cô bé chực nhảy ra thì cô bé bị những vật màu vàng óng ánh dưới nắng thu hút: một hộp pha lê đựng kẹo, bên trong đầy những viên sô cô la. Và không chỉ là những viên sô cô la bình thường: những chiếc kẹo sô cô la đó to gấp hai, gấp ba lần so với những chiếc mà cô bé đã quen ăn từ những ngày xa xưa trong ngồi nhà có bầu trời. Ngay tức khắc, cái cục trong cổ họng cô bé biến mất, thay thế bằng thứ nước có vị sô cô la. Mẹ cô bé nhận ra điều đó. Bà nhìn cô bé với ánh nhìn dữ dằn như muốn răn đe: Con mà hỏi xin bất cứ thứ gì thì liệu thần hồn đấy! Cô bé hiểu và bắt đầu nhìn chằm chằm lên trần nhà một cách đầy phẩm giá. Cô bé cứ nhìn lên trần nhà như thế khi quý bà xinh đẹp ngồi dậy, đi ra phía ban công với vẻ buồn chán, rồi đứng đó vuốt vuốt cổ tay áo. Ban công hướng về một ban công rộng hơn ở tầng hai. Ở ban công tầng hai có hai đứa trẻ con nhà giàu. Cô bé biết điều đó vì đã từng một lần nhìn thấy chúng và hiểu ra rằng chúng giàu có bởi vì chúng xinh đẹp. Chúng cũng có vẻ ngoài xinh đẹp như quý bà xinh đẹp. Vừa xoa cổ tay, quý bà vừa chạy ra phía lan can. Quý bà mỉm cười vui vẻ, vươn người ra gọi chúng: “Bonjour, mes petits pigeons! Ça va, aujourd’hui?”[1]. Rồi lại bảo: “Attendez, attendez! Il y a quelque chose pour vous!”[2]. Bà ấy đi vào nhà, nhấc cái hộp thủy tinh, bỏ nắp ra, và giữ nó một cách duyên dáng, đi ra ban công rồi bắt đầu ném sô cô la xuống. Bà ấy vừa ném kẹo vừa nói: “Sô cô la cho những con bồ câu bé nhỏ của ta!” Vừa cười giòn tan, bà ấy vừa ném xuống hơn nửa chỗ sô cô la, rồi cuối cùng đem cái hộp vào đặt lại trên bàn và lấy thêm một chiếc sô cô la nữa. Thật chậm rãi bà ấy lột vỏ kẹo màu vàng, giữ cái kẹo một lúc, nghĩ ngợi gì đó, rồi ăn nó. Trong khi cô gái nhỏ cứ nhìn theo.
1. Tiếng Pháp, nghĩa là: “Xin chào những con bồ câu bé nhỏ của ta! Hôm nay các bé thế nào?”
2. Tiếng Pháp, nghĩa là: “Đợi nhé, đợi nhé! Ta có cái này cho các bé đấy!”
Kể từ ngày đó, ta không thể ăn sô cô la được nữa. Nếu ăn vào, ta sẽ nôn ra hết. Nhưng ta hy vọng là con sẽ thích sô cô la, con à, bởi vì ta muốn mua cho con thật nhiều sô cô la. Ta muốn phủ sô cô la lên con, cho đến khi cảm giác về sự bất công đã đè nặng lên ta bấy lâu cũng đã được giải thoát. Con sẽ biết đến bất công cũng như bạo lực: đó là một thứ khác mà con cần phải sẵn sàng cho nó. Ta không nói tới sự bất công của việc giết một con gà để ăn nó, giết một con bò để lột da nó, giết một người đàn bà để trừng phạt cô ta: ta muốn nói đến sự bất công chia rẽ người có của và người chẳng có gì. Sự bất công để chất độc này trong miệng, trong khi bà mẹ mang thai lau chùi thảm của một kẻ khác. Làm thế nào để có thể giải quyết vấn đề này? Ta không biết. Tất cả những ai cố gắng, cũng chỉ thành công trong việc thay thế kẻ lau chùi thảm. Bất kể con sinh ra dưới chế độ nào, hệ tư tưởng nào, luôn có ai đó lau chùi thảm của kẻ khác. Luôn có một cô bé bị sỉ nhục bởi nỗi thèm khát sô cô la. Con sẽ không bao giờ tìm được một chế độ hoặc một hệ tư tưởng có thể thay đổi trái tim một con người và xóa bỏ sự tàn ác khỏi nó. Kẻ nào bảo con: chỗ chúng tôi thì khác, con hãy đáp trả hắn: Dối trá! Rồi thách thức hắn hãy chứng tỏ ở chỗ của hắn không có những thứ như bữa ăn của người giàu và bữa ăn của kẻ nghèo, nhà của người giàu và nhà của kẻ nghèo, mùa của người giàu và mùa của kẻ nghèo. Mùa đông là mùa của người giàu. Nếu con giàu, cái lạnh trở thành trò chơi bởi con mua áo lông thú, đốt lò sưởi ấm ngôi nhà của con và con đi trượt tuyết. Ngược lại, nếu con nghèo, cái lạnh trở thành sự nguyền rủa và con học được việc căm ghét thậm chí cả cái đẹp của vùng đất tuyết phủ trắng xóa. Sự bình đằng, cũng như sự tự do, chỉ có ở chỗ con bây giờ. Trong bọc trứng, tất cả chúng ta đều bình đẳng. Nhưng giờ có thực sự là lúc để con biết đến những bất công đó, con – người sống trong một bọc trứng và chẳng phải phục vụ ai?