Có lẽ đó là khi ta đang ngủ sau khi bất tỉnh, hoặc có lẽ là trong cơn mê sảng... Dù gì thì nó cũng đã xảy ra, và ta nhớ rất rõ. Có một căn phòng màu trắng toát, với bảy chiếc ghế dài và một vành móng ngựa. Ta đứng trong vành móng ngựa còn họ ngồi ở những ghế dài, xa cách và không thể với tới. Ở ghế chính giữa là tay bác sĩ đã chăm sóc ta trước chuyến đi. Bên tay phải ông ta là nữ bác sĩ, bên trái là ông sếp của ta. Cạnh ông sếp là cô bạn ta và cạnh cô ấy là cha con. Cạnh nữ bác sĩ là cha mẹ ta. Không còn ai khác. Không có bất cứ đồ vật gì khác, kể cả trên tường lẫn trên sàn nhà. Nhưng ngay lập tức ta nhận ra đó là một phiên toà mà ta là kẻ bị buộc tội và những người này là bồi thẩm đoàn. Ta không thấy hoảng hốt, mà cũng không mất tinh thần. Với vẻ buông xuôi hoàn toàn, ta bắt đầu để ý nghiên cứu bọn họ, từng người một. Cha con khẽ sụt sịt, tay che mặt như cái ngày ông ấy đã đến ngồi bên giường ta. Cha mẹ ta cúi đầu, như thể bị một sức nặng trĩu xuống bởi mệt mỏi kinh khủng hoặc đau khổ tột cùng. Cô bạn ta có vẻ buồn. Không thể xét đoán gì ba người kia. Tay bác sĩ đứng lên bắt đầu đọc một tờ giấy: “Bồi thẩm đoàn này được triệu tập để phán xét bị cáo, hiện đang có mặt tại đây, về tội ác giết người có dự mưu vì đã mong muốn và gây ra cái chết cho đứa con của cô ta thông qua việc sao nhãng, ích kỷ, thiếu sự tôn trọng tối thiểu đối với quyền sống của đứa trẻ.” Rồi ông ta đặt tờ giấy xuống và giải thích cách thức mà phiên toà này sẽ được tiến hành. Mỗi thành viên bồi thẩm đoàn sẽ phát biểu với tư cách nhân chứng và thẩm phán, sau đó tuyên bố rõ ràng lá phiếu của họ: có tội hay vô tội. Phán quyết cuối cùng sẽ theo đa số và, trong trường hợp bị kết tội, sẽ chọn biện pháp trừng phạt. Giờ thì phiên toà có thể bắt đầu. Ông ta là người đầu tiên. Những lời của ông ta thốc vào như cơn gió lạnh buốt.
“Đứa trẻ không phải là cái răng sâu. Người ta không thể đơn giản nhổ nó đi rồi vứt nó vào thùng rác cùng với bông gạc bẩn. Đứa trẻ là một con người, và sự sống của con người là một chuỗi liên tục kể từ giây phút được thụ thai cho đến lúc chết. Một số người trong quý vị sẽ đặt dấu hỏi cho chính khái niệm về chuỗi liên tục. Quý vị sẽ nói rằng tại thời điểm thụ thai, nó không tồn tại như một con người. Nó tồn tại chỉ như một tế bào có thể nhân lên nhiều lần nhưng không đại diện cho sự sống. Hay sự sống của nó không hơn gì một cái cây mà có bị chặt thì cũng chẳng phải là tội ác, hay một con muỗi vằn mà nếu có đập nát bét thì cũng không phải là tội ác. Với tư cách là một nhà khoa học, tôi xin nói ngay rằng cái cây thì không trở thành con người, con muỗi cũng vậy. Tất cả những yếu tố hình thành nên con người, từ cơ thể đến tính cách của con người đó, tất cả những thành tố cấu tạo nên một cá nhân, từ máu cho đến trí não, đều tập trung trong tế bào đó. Chúng còn hơn rất nhiều so với một kế hoạch hay một lời hứa: nếu có thể kiểm tra xem xét chúng bằng một kính hiển vi có khả năng nhìn xuyên qua những gì có thể thấy, chúng ta sẽ quỳ gối xuống và tất cả đều sẽ tin vào Chúa. Vì thế, dù dường như nghe có vẻ nghịch lý, tôi cảm thấy mình buộc phải dùng từ ‘kẻ sát nhân’. Và để tôi nói thêm: nếu nhân tính phụ thuộc khối lượng, giết người phụ thuộc vào số lượng, chúng ta sẽ phải kết luận rằng giết một người nặng một trăm cân nghiêm trọng hơn giết một người nặng năm mươi cân. Tôi yêu cầu đồng nghiệp ngồi bên phải tôi đây đừng có cười. Tôi không phán xét giả thuyết của cô ta, nhưng không thể không bàn tới cách cô ta hành nghề y học: trên bục luận tội kia đáng ra không chỉ có một người đàn bà, mà là hai người đàn bà.” Rồi ông ta nhìn nữ bác sĩ với ánh mắt nghiêm khắc. Trước cái nhìn sắc như chẻ tre của ông ta, cô ấy bình thản hút thuốc, và điều đó an ủi ta như dòng nước ấm. Nhưng cái giọng lạnh như băng lại tiếp tục.
“Nhưng chúng ta không ở đây để phán xét về cái chết của một tế bào. Chúng ta ở đây để phán xét về cái chết của một đứa trẻ đã được ít nhất là ba tháng trước khi sinh. Ai, cái gì đã gây ra cái chết của nó? Những bối cảnh tự nhiên mà chúng ta không biết? Ai đó đã thoát không bị bắt? Hay là người đàn bà mà quý vị thấy đứng trên bục kia? Tôi có thể đưa ra các bằng chứng chứng minh với quý vị chính người đàn bà đứng trên bục kia là kẻ đã gây ra cái chết của nó. Không phải ngẫu nhiên mà tôi đã nghi ngờ cô ta ngay từ đầu. Tôi có đủ kinh nghiệm để nhận ra kẻ giết trẻ con, dù cô ta có đeo mặt nạ đi chăng nữa. Chính cô ta đã đeo mặt nạ khi nói rằng cô ta muốn giữ đứa bé. Đó là lời nói dối với chính bản thân cô ta, trước khi dối người khác. Ví dụ, tôi đã sốc vì tính ngang ngạnh rắn như thép của cô ta. Cái ngày mà tôi chúc mừng cô ta về kết quả kiểm tra dương tính, cô ta trả lời tỉnh queo rằng mình đã biết rồi. Tôi cũng sốc vì những phản ứng thù địch của cô ta khi được yêu cầu nằm yên trên giường sau khi đã bị những cơn co bóp tử cung. Cô ta trả lời không thể đáp ứng sự xa xỉ đó được, hai tuần là thời gian tối đa mà cô ta có thể cho phép. Tôi đã phải nài ép, giận dữ khuyên răn cô ta. Và điều đó khiến tôi tin là cô ta không hề muốn chấp nhận nghĩa vụ của một người mẹ, rằng việc làm mẹ của cô ta không phải là việc làm có trách nhiệm. Hơn thế, cô ta gọi điện cho tôi nhắc đi nhắc lại rằng cô ta khoẻ, rằng không có lý do gì để bắt cô ta phải nằm trên giường, chống đối rằng cô ta có công có việc và phải ngồi dậy. Sáng hôm sau gặp lại, tôi thấy cô ta trông khổ sở. Chính trong lần thăm bệnh đó, mối nghi ngờ của tôi càng tăng lên, tôi đã thấy là người đàn bà này đang âm mưu giết người. Không có lý do gì về mặt giải phẫu hay thể chất giải thích vì sao việc mang thai của cô ta lại đau đớn đến thế: những cơn co rút chỉ có thể là về mặt tâm lý, tức là do ý chủ quan. Tôi hỏi cô ta. Cô ta thừa nhận cộc lốc rằng có nhiều mối lo. Cô ta cũng ám chỉ một số phiền muộn mà tôi cũng chẳng cố tìm hiểu vì rõ ràng là phiền muộn của cô ta gắn với việc mang thai. Cuối cùng, tôi đã hỏi cô ta có thực sự muốn đứa bé không, giải thích rằng đôi khi ý nghĩ cũng có thể giết người: cô ta cần phải chuyển lo lắng thành sự tĩnh tâm. Thế mà cô ta giận sôi lên, nói rằng thế khác nào bảo cô ta thay đổi màu mắt của mình. Vài ngày sau, cô ta quay lại. Cô ta đã trở lại nhịp sống bình thường và mọi việc trở nên xấu đi. Tôi cho cô ta vào viện, giữ được cô ta bất động trong một tuần, giữ cho thần kinh của cô ta nằm dưới sự kiểm soát bằng việc sử dụng thuốc.
Và giờ thì chúng ta đến với tội ác, thưa quý bà quý ông. Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề đó, cho phép tôi hỏi rằng: giả sử một trong số quý vị ốm thập tử nhất sinh và cần một liều thuốc đặc biệt. Liều thuốc đó là trong tầm tay. Sự cứu vớt nằm trong cử chỉ đơn giản của ai đó đưa thuốc cho quý vị. Quý vị sẽ định nghĩa thế nào kẻ mà thay vì đưa thuốc cho quý vị thì lại đổ nó đi, hoặc thế bằng thuốc độc? Mất trí? Ác tâm? Không sẵn lòng cứu vớt? Không, như thế chưa đủ. Tôi gọi đó là kẻ giết người. Thưa bồi thẩm đoàn, không nghi ngờ gì là đứa trẻ bị ốm và thứ thuốc trong tầm tay là việc nằm bất động. Nhưng người đàn bà này không chỉ không sử dụng phương thuốc đó, cô ta tiếp thêm liều thuốc độc chính là hành trình có thể dễ dàng gây tổn hại hơn đến cái thai. Hàng tiếng đồng hồ đi máy bay, lái ô tô trên những con đường xóc nẩy, ngắt quãng, tất cả tự một mình cô ta. Tôi đã van nài cô ta. Tôi giải thích cho cô ta rằng tại thời điêm đó đứa con của cô ta không còn là sự nhân lên của các tế bào mà thực sự đã là một đứa bé. Tôi cảnh báo rằng cô ta sẽ giết đứa bé mất. Cô ta phản đối với thái độ khắc nghiệt tàn nhẫn. Cô ta ký vào tờ giấy rằng cô ta chịu mọi trách nhiệm. Cô ta đi. Cô ta giết nó. Dĩ nhiên, nếu chúng ta đứng trước một toà án theo pháp luật, tôi sẽ khó mà kết tội cô ta. Không hề có que dò phá thai, thuốc, hay phẫu thuật phá thai. Theo luật, người đàn bà này sẽ được miễn tội bởi không có hành động phá thai. Nhưng chúng ta là bồi thẩm đoàn của sự sống, thưa quý bà quý ông, và nhân danh sự sống tôi xin nói với quý vị rằng hành vi của cô ta còn tệ hơn những que dò, thuốc phá thai, hay phẫu thuật. Bởi vì cô ta là kẻ đạo đức giả, hèn nhát, và không gặp phải rủi ro pháp lý nào.
Tôi sẽ rất vui mừng ghi nhận những tình tiết giảm nhẹ và miễn tội phần nào cho cô ta. Nhưng tôi không thấy ở đâu và bằng cách nào. Chẳng hạn, liệu cô ta có ở trong tình trạng kinh tế nghèo khó, túng quẫn, khiến cô ta không thể nuôi nấng đứa trẻ? Hoàn toàn không. Chính cô ta công nhận điều đó. Cô ta phải bảo vệ danh dự của mình bởi xã hội nơi cô ta sống sẽ xử tử cô ta vì sinh ra một đứa trẻ bất hợp pháp? Cũng không. Cô ta thuộc về một thiết chế văn hoá không chỉ không chối bỏ cô ta, mà thậm chí sẽ còn coi cô ta là anh hùng; và dù thế nào chăng nữa thì cô ta cũng đâu có tin vào các luật lệ của xã hội. Cô ta chối bỏ Chúa Trời, quê quán, gia đình, hôn nhân, những nguyên tắc chung sống xã hội. Tội ác của cô ta không có tình tiết giảm nhẹ nào, bởi cô ta đã thực hiện tội ác nhân danh một thứ tự do vô lối: thứ tự do cá nhân ích kỷ không đếm xỉa đến người khác và các quyền của họ. Tôi vừa sử dụng từ quyền. Tôi làm thế để chặn trước cái từ cái chết không đau đớn. Tôi cũng làm thế để các vị không trả lời rằng, bằng việc để cho đứa bé chết, cô ta đang thực hiện quyền của cô ta: quyền tránh cho cộng đồng khỏi gánh nặng là một cá thể đau ốm, do đó khiếm khuyết. Không phải chúng ta là người có quyền quyết định một cách vô căn cứ ai đó sẽ có khiếm khuyết hay không. Homer bị mù loà và Leopardi bị gù lưng[1]. Nếu những người Sparta ném họ từ trên đỉnh núi, nếu các bà mẹ của họ chán ngán việc bồng bế họ, hẳn nhân loại hôm nay sẽ nghèo nàn hơn rất nhiều. Tôi không cho rằng một vận động viên Olympic thì đáng giá hơn một nhà thơ bị què hay mù loà. Về sự hy sinh của việc canh giữ trong tử cung cái bào thai của một vận động viên Olympic hay một nhà thơ bị què, tôi xin lưu ý quý vị rằng, dù muốn hay không, đó là cách mà loài người phát triển. Và phán quyết của tôi là: Có tội!”
[1] Homer: nhà thơ Hy Lạp cổ đại, tác giả Illiad và Odyssey; Leopardi: nhà thơ lớn thời kỳ lãng mạn của Ý.
༺༒༻
Ta tê dại trước phán quyết đó. Ta nhắm mắt lại nên đã không thấy nữ bác sĩ khi cô ấy đứng dậy nói. Khi ta nhìn lên, cô ấy đã bắt đầu:
“Đồng nghiệp của tôi đã quên nói thêm rằng với mỗi Homer lại có một Hitler được sinh ra, rằng mỗi sự thụ thai là một thách thức đầy rẫy những khả năng chói loá và kinh hoàng. Tôi không biết liệu đứa trẻ này sẽ trở thành một Homer hay một Hitler: khi chết, nó chỉ còn là một khả năng không được nhận biết. Nhưng tôi biết người phụ nữ này là ai: một thực thể không được phép huỷ hoại. Giữa một khả năng không thể biết và một thực thể không được phép huỷ hoại, tôi chọn cái thứ hai. Đồng nghiệp của tôi có vẻ bị ám ảnh bởi sự sùng bái sự sống. Nhưng anh ta dành sự sùng bái đó cho kẻ sắp xuất hiện, chứ không phải cho người đã tồn tại. Tôn sùng sự sống chẳng là gì khác ngoài sự hùng biện. Ngay cả cái nhận xét đứa-trẻ-không-phải-là-cái-răng-sâu cũng chẳng là gì ngoài một lập luận thông minh. Tôi chắc hẳn đồng nghiệp của mình đã từng đi qua chiến tranh, đã xả súng và giết chóc, quên rằng ngay cả ở tuổi hai mươi thì người ta cũng không phải là cái răng sâu. Tôi không biết hình thức giết trẻ em nào lại tệ hơn chiến tranh: chiến tranh là sự giết chóc trẻ em hàng loạt. Thế mà anh ta lại chấp nhận điều đó, nhân danh những sùng bái tin tưởng nào ai biết được, và không áp dụng thuyết chuỗi sống liên tục của anh ta với việc đó. Thậm chí với tư cách là một nhà khoa học, tôi không thể coi trọng chuỗi liên tục của anh ta: nếu thế, tôi sẽ phải đau buồn mỗi lần có một quả trứng chết đi không được thụ thai, mỗi lần hai trăm triệu tinh trùng thất bại không đến xuyên qua được cái màng. Tệ hơn, tôi sẽ phải đau buồn thậm chí ngay cả khi nó đã được thụ tinh, nghĩ tới một triệu chín trăm chín mươi chín ngàn chín trăm chín mươi chín tinh trùng đã chết, bị đánh bại bởi một tinh trùng duy nhất đã xuyên thủng cái màng. Chúng cũng đều là tạo vật của Chúa. Chúng đều sống và chứa những yếu tố sẽ tạo thành một cá thể. Đồng nghiệp của tôi chưa từng quan sát chúng dưới kính hiển vi? Anh ta chưa từng thấy chúng bơi lội với những cái đuôi như một đàn nòng nọc? Anh ta chưa từng thấy chúng di chuyển khó khăn và chiến đấu trong một vùng nhầy nhờ nhờ, quẫy những cái đầu của chúng một cách tuyệt vọng, biết rằng thất bại là chết? Đó là một cảnh tượng đau đớn. Bằng việc bỏ qua điều đó, đồng nghiệp của tôi đã không rộng lượng gì với chính phe nam giới của mình. Tôi chẳng muốn suy diễn dẫn tới những mỉa mai dễ dàng đó, nhưng bởi vì anh ta quá tin vào sự sống, làm sao anh có thể để cho hàng triệu triệu tinh trùng chết đi mà không làm gì? Không sẵn lòng cứu vớt hay là tội ác? Rõ ràng đó là tội ác: cả anh ta lẽ ra cũng phải đứng trong cái vành kia. Nếu anh ta không ở đó, không đứng vào ngay lập tức, nghĩa là anh ta đã dối chúng ta, rằng tính bản thiện của anh ta chỉ bị phật lòng bởi những kẻ nói rằng vấn đề không nằm ở việc sinh ra một số lượng lớn các cá thể, mà nằm ở chỗ giám thiểu hết mức sự tồn tại bất hạnh của những con người đã được sinh ra.
Tuy thế, tôi sẵn sàng bỏ qua ám chỉ của đồng nghiệp về sự đồng loã của tôi. Cùng lắm là tôi có thể bị buộc tội vì chẩn đoán sai, và thậm chí ngay cả một bồi thẩm đoàn về sự sống cũng không thể buộc tội về nhận định sai lầm. Nói cho cùng cũng không hẳn là thế: đó chỉ đơn giản là một nhận định, cái mà tôi không hối tiếc. Mang thai không phải là sự trừng phạt mà tự nhiên giáng xuống để bắt người ta trả giá cho phút thăng hoa. Đó là sự nhiệm mầu cần được diễn ra theo một cách không gò bó như điều được ban cho cây cối và loài cá. Nếu nó không tiếp diễn được theo cách thông thường, anh không thể đòi hỏi người phụ nữ nằm bẹp trên giường trong nhiều tháng như bị bại liệt. Nói cách khác, anh không thể đòi hỏi cô ta từ bỏ mọi hoạt động, nhân cách của cô ta, sự tự do của cô ta. Anh có yêu cầu điều đó ở người đàn ông, kẻ cũng hưởng thụ sự thăng hoa, có khi còn nhiều hơn cô ta? Rõ ràng là đồng nghiệp của tôi không chấp nhận cho phụ nữ cái quyền mà anh ta thừa nhận ở đàn ông: quyền đối xử với cơ thể của chính mình. Rõ ràng anh ta xem người đàn ông là con ong được phép bay từ hoa này sang hoa khác, người phụ nữ là hệ thống sinh dục chỉ để sinh sản. Điều nảy xảy ra với nhiều người trong nghề của chúng ta: các bác sĩ sản khoa ưa thích các bệnh nhân là những con ngựa nái béo tốt, bình thản, không thấy vấn đề gì với tự do cá nhân. Nhưng chúng ta không ở đây để phán xét các bác sĩ. Chúng ta ở đây để phán xét một phụ nữ bị buộc tội giết người có dự mưu, thực hiện bằng ý nghĩ, thay vì bằng các dụng cụ. Tôi phản đối sự buộc tội này trên những cơ sở cụ thể. Cái ngày mà tôi chẩn đoán là việc mang thai vẫn bình thường, tôi đã thấy cô ấy trông nhẹ nhõm đến thế nào. Cái ngày mà tôi nhận thấy bào thai đã chết, tôi thấy cô ấy đau khổ đến thế nào.
Tôi nói bào thai chứ không phải đứa trẻ: Khoa học cho phép tôi đưa ra sự phân biệt đó. Chúng ta đều biết rằng một bào thai chỉ trở thành đứa trẻ ở thời điểm có thể phát triển và tồn tại độc lập, và thời điểm đó xảy ra vào tháng thứ chín; trong một số trường hợp ngoại lệ, là tháng thứ bảy. Nhưng kể cả nếu thừa nhận nó không còn là bào thai mà đã là một đứa trẻ: tội ác vẫn sẽ không tồn tại. Đồng nghiệp thân mến của tôi, người phụ nữ này không muốn có cái chết của đứa trẻ; cô ấy khao khát cuộc sống của chính mình. Và không may là trong vài trường hợp, cuộc sống của ta là cái chết của kẻ khác, cuộc sống của kẻ khác là cái chết của ta. Chúng ta bắn vào những kẻ bắn vào chúng ta. Pháp luật gọi đó là phòng vệ chính đáng. Nếu người phụ nữ này mong muốn một cách vô thức cái chết của đứa trẻ, cô ấy làm thế để phòng vệ chính đáng. Vì thế, cô ấy không có tội.”
༺༒༻
Rồi cha con đứng dậy, ông ấy không còn khóc nữa. Nhưng ngay khi vừa mở miệng nói, cằm ông ấy run lên và nước mắt lại trào ra. Một lần nữa ông ấy lấy tay che mắt và đổ xuống ghế. “Vậy anh không thiết nói gì sao?” tay bác sĩ cáu kỉnh nói. Cha con khẽ lắc đầu, nhẹ gần như không thể nhận thấy, như thể câu trả lời là không. “Nhưng anh không thể từ bỏ lá phiếu của mình,” người kia khăng khăng. Cha con càng sụt sịt. “Xin cho biết lá phiếu của anh!” Cha con hỉ mũi không nói gì. “Có tội hay không có tội?” Cha con thở dài rồi lẩm bẩm: “Có tội.” Lúc đó một việc kinh khủng đã xảy ra: cô bạn ta quay ra nhổ vào mặt ông ấy. Và trong khi ông ấy ngồi đó chùi mặt, tái xanh, thì cô ấy hét lên: “Đồ hèn! Đồ hèn đạo đức giả! Mi là kẻ đã gọi cho cô ấy chỉ để bảo cô ấy rũ bỏ nó. Mi là kẻ đã trốn biệt hai tháng như một kẻ đào ngũ. Mi đến thăm cô ấy chỉ bởi vì ta đã cầu xin mi đến. Các người luôn như thế phải không? Các người sợ hãi, bỏ chúng tôi lại một mình, rồi nếu có quay lại, thì chỉ là nhân danh làm cha. Làm cha thì mất gì kia chứ! Một cái bụng to béo, kỳ cục, quấn tã? Cơn đau đẻ, sự tra tấn của việc bú mớm? Thành quả của việc làm cha như một món xúp đã nấu xong đặt trước mặt, một cái áo sơ mi đã là sẵn đặt trên giường. Các người có làm gì trừ việc cho nó một cái họ nếu lập gia đình, mà nếu chuồn mất thì đến cái họ cũng không mất. Đàn bà chịu mọi trách nhiệm, mọi đau khổ và sỉ nhục. Các người gọi đàn bà là con điếm nếu họ làm tình. Không có từ tương đương dành cho giống đực trong từ điển, nếu dùng từ đó sẽ là mắc lỗi ngữ pháp. Đã hàng ngàn năm nay, các người áp đặt từ vựng của các người, giáo huấn của các người lên chúng tôi, áp chế chúng tôi. Đã hàng ngàn năm nay, các người lợi dụng cơ thể của chúng tôi mà không trả lại chúng tôi cái gì. Đã hàng ngàn năm nay, các người áp đặt sự im lặng lên chúng tôi và giao phó cho chúng tôi nhiệm vụ làm mẹ. Các người tìm kiếm ở mỗi người đàn bà một bà mẹ. Các người đòi hỏi mỗi người đàn bà trở thành bà mẹ của mình: thậm chí kể cả con gái các người. Các người nói rằng chúng tôi không có được cơ bắp của các người và rồi bóc lột sức lao động của chúng tôi, thậm chí chỉ là để có đôi giày sáng bóng. Các người nói rằng chúng tôi không có được trí não của các người và rồi các người bóc lột trí thông minh của chúng tôi, thậm chí chỉ là để quản lý tiền lương cho các người. Suốt đời là trẻ con, cho đến lúc già các người vẫn tiếp tục là một đứa trẻ, cần cho ăn, cần tắm sạch, cần phục vụ, cần lời khuyên, cần an ủi, cần bảo vệ bởi tính yếu đuối và thói quen lười biếng của các người. Ta khinh thường các người. Ta khinh thường chính mình vì đã không thể làm gì mà không có các người, vì đã không gào vào mặt các người thường xuyên hơn: chúng tôi ngán phải làm mẹ các người rồi. Chúng tôi ngán cái từ này, cái từ mà các người đã thần thánh hoá vì lợi ích của chính mình, vì sự ích kỷ của chính mình. Tôi phải nhổ vào ông nữa, bác sĩ ạ. Tất cả những gì ông thấy ở một người đàn bà là một cái tử cung và hai buồng trứng, không bao giờ là bộ não. Ông nhìn thấy một người đàn bà mang bầu và nghĩ: ‘Đầu tiên cô ta có phút vui vẻ và giờ thì đến chỗ ta.’ Ông chưa bao giờ có phút vui vẻ sao, bác sĩ? Ông chưa từng quên việc sùng bái sự sống? Ông bảo vệ điều đó ở cấp tế bào giỏi đến mức người ta có thể nói ông ghen tị với cái mà đồng nghiệp của ông gọi là sự nhiệm mầu của thời kỳ mang thai. Nhưng không, tôi nghi ngờ điều đó. Sự nhiệm mầu đó với ông sẽ là sự hy sinh. Là một người đàn ông, ông không thể đối mặt với điều đó. Bác sĩ ạ, tại đây chúng ta không đưa một người đàn bà ra toà xét xử: chúng ta đưa tất cả đàn bà ra toà. Và vì thế tôi có quyền vặn lại, rằng: mang thai không phải là nghĩa vụ đạo đức. Nó thậm chí không phải là thực tế sinh học. Đó là sự lựa chọn có ý thức. Người đàn bà này đã lựa chọn một cách có ý thức và cô ấy không muốn giết hại ai. Chính ông là người đã muốn giết cô ấy, bác sĩ ạ, bằng việc không cho cô ấy thậm chí là sử dụng trí tuệ của chính mình. Đó là lý do mà ông mới chính là người phải đứng trên bục kia, và không phải là vì đã không hỗ trợ hàng triệu tinh trùng ngu ngốc, mà là can tội giết đàn bà có dự mưu. Sau khi đã trình bày tất cả, hẳn không nói cũng rõ, tôi tuyên bố người đàn bà kia không có tội.”
༺༒༻
Rồi ông sếp của ta đứng lên với vẻ mặt bối rối giả tạo. Ông ta nói mình không biết nêu ý kiến thế nào vì cảm thấy là người ngoài cuộc trong bồi thẩm đoàn này. Những người khác liên hệ với bị cáo bởi những mối ràng buộc nghề nghiệp hoặc tình cảm có liên quan đến đứa trẻ; còn ông ta thì chỉ là chủ sử dụng lao động. Vì thế, ông ta chỉ có thể vui mừng trước thực tế là mọi việc đã diễn ra theo cách nó diễn ra: cho dù có tỏ ra cao thượng, ông ta vẫn luôn cho rằng mang thai là một sự cản trở. Hay tệ hơn, một tai ương sẽ ngốn của ông ta cả đống tiền. Chỉ cần nghĩ về số lương mà cô ta sẽ được trả, theo quy định hết sức vô lý và đáng chê trách, cả trong những tháng mà cô ta không làm gì. Ồ, phải, đứa trẻ sáng suốt, sáng suốt hơn cả mẹ nó. Trước hết, bằng việc chết đi, nó đã bảo vệ tên tuổi của công ty. Công chúng sẽ nghĩ gì khi thấy một nhân viên của ông ta không lấy chồng mà lại có một đứa con mới đẻ trên tay? Ông ta không lấy làm xấu hổ mà thừa nhận điều này: nếu người phụ nữ chấp nhận thì ông ta đã giúp cô ta rũ bỏ đứa trẻ được sinh ra không đúng lúc. Nhưng ông ta không chỉ là doanh nhân, ông ta là đàn ông. Và hai hội thẩm viên trước ông ta, hai hội thẩm viên nam giới, dĩ nhiên, đã khiến ông ta nghĩ lại. Vị bác sĩ là qua logic và đạo lý, còn cha đứa trẻ là qua nỗi phiền muộn. Suy nghĩ kỹ thì ông ta không thể không đồng thuận với biện luận của người thứ nhất và sự đau buồn của người thứ hai. Đứa trẻ thuộc về người cha và người mẹ một cách bình đẳng; nếu tội ác đã được thực hiện, đó phải là một tội ác của hai người, bởi vì nó tiêu diệt sự sống của một đứa trẻ, đồng thời làm tan nát cuộc sống của một người đàn ông trưởng thành. Dĩ nhiên, cần quyết định xem tội ác đã xảy ra hay chưa: nhưng liệu còn có thể nghi ngờ điều đó? Có còn cần lời chứng nào đanh thép hơn lời khai của vị bác sĩ? Bác sĩ đã quá nương nhẹ khi nói về sự ích kỷ chung chung. Ông ta, chủ sử dụng lao động, có thể tiết lộ mục đích và lý do cụ thể: bị cáo đã sợ rằng chuyến đi đó sẽ được giao cho một đồng nghiệp kình địch. Đó là lý do khiến cô ta bật dậy khỏi giường và lên đường, không quan tâm gì đến sự sống mà cô ta mang trong bụng. Không có bất cứ lòng nhân từ nào cả. Hãy cứ để đồng minh của cô ta tiếp tục phỉ nhổ, tiếp tục lăng mạ. Ông ta cho rằng bị cáo có tội.
༺༒༻
Rồi mắt ta tìm kiếm cha mẹ ta. Trong im lặng, ta khẩn nài họ, bởi họ là hy vọng cuối cùng cứu rỗi ta. Họ đáp lại ta với cái nhìn vô hồn. Họ có vẻ kiệt quệ, già đi rất nhiều so với lúc phiên toà bắt đầu. Đầu họ nhô ra như thể cái cổ không thể đỡ nổi sức nặng, người họ run rẩy như thể bị lạnh, và mọi thứ ở họ tỏ ra một vẻ chán chường sầu thảm đẩy xa họ khỏi những người khác và quấn họ lại với nhau trong một nỗi tuyệt vọng thuần tuý. Trong nỗi tuyệt vọng đó, với ánh mắt vẫn vô hồn, họ xin phép được ngồi nói. Họ được cho phép, và ta thấy họ trao đổi: ta đoán chắc là để quyết định xem ai sẽ phải nói trước. Cha ta là người nói trước: “Tôi có hai nỗi đau. Nỗi đau đầu tiên là khi biết đứa trẻ tồn tại, và nỗi đau thứ hai là khi biết nó không còn tồn tại nữa. Tôi hy vọng sẽ được miễn thứ khỏi nỗi đau thứ ba: nhìn thấy đứa con gái bị kết tội. Tôi không biết mọi việc xảy ra thế nào. Không ai trong quý vị biết. Không ai có thể biết, bởi vì không ai có thể xâm nhập tâm hồn kẻ khác. Nhưng đây là con gái tôi, và với một người cha thì con cái ông ấy không có tội. Không bao giờ.” Rồi mẹ ta lên tiếng. Bà nói: “Nó là đứa con bé nhỏ của tôi. Nó mãi là đứa con bé nhỏ của tôi. Và con gái nhỏ của tôi không thể làm điều gì xấu xa. Khi nó viết thư cho tôi nói là nó đang mang thai đứa trẻ, tôi đã viết lại là: ‘Nếu con đã quyết định điều đó, thì có nghĩa đó là điều đúng đắn.’ Nếu nó có viết cho tôi rằng nó không muốn có đứa bé, tôi cũng sẽ trả lời tương tự. Chúng tôi không có quyền phán xét. Các vị cũng vậy. Các vị không có quyền buộc tội hay bào chữa cho nó, bởi vì các vị không ở trong trái tim hay trí óc nó. Không lời chứng của ai trong số các vị có giá trị. Chỉ có một nhân chứng ở đây có thể giải thích điều gì đã xảy ra. Và nhân chứng đó là đứa trẻ, người không thể...” Tới đó những người khác ngắt lời bà, đồng thanh hô: “Đứa trẻ, đứa trẻ!” Và ta bám chặt lấy các chấn song của vành móng ngựa, hét lên: “Không phải đứa trẻ! Không phải đứa trẻ!” Và chính trong khi ta đang hét lên như thế...