Ta không rõ đây có phải là truyện cổ tích hay không, nhưng dù gì ta vẫn kể cho con nghe. Ngày xửa ngày xưa, có một cô gái luôn tin tưởng vào ngày mai. Quả thật, ai ai cũng dạy cô tin tưởng vào ngày mai, cam đoan với cô rằng ngày mai sẽ tốt đẹp hơn. Linh mục cam đoan với cô khi tuôn ra những hứa hẹn trong nhà thờ và tuyên bố về Vương quốc Thiên đường. Trường học cam đoan với cô khi dạy cô rằng nhân loại luôn tiến lên phía trước: con người đã từng sống trong hang hốc, rồi trong những ngôi nhà không có lò sưởi, rồi những trong những ngôi nhà có hệ thống sưởi trung tâm. Cha cô cam đoan với cô bằng những ví dụ trong lịch sử, nói rằng những kẻ hung tàn luôn bị hạ bệ. Cô gái mất niềm tin ở vị linh mục khá sớm. Ngày mai của ông ta là cái chết, và cô gái chẳng quan tâm tới việc sau khi chết sẽ được sống trong một khách sạn sang trọng có tên là Vương quốc Thiên đường. Cô mất niềm tin ở trường học sau đó ít lâu, vào mùa đông, khi chân tay cô phát cước và sưng tấy. Chắc chắn rồi, thật là một điều vĩ đại khi con người tiến bộ chuyển từ hang hốc sang hệ thống sưởi trung tâm, nhưng nhà cô không có lò sưởi. Tuy vậy, cô tiếp tục mù quáng tin vào lời cha mình nói. Cha cô là người đàn ông dũng cảm và can trường. Trong suốt hai mươi năm, ông đã chiến đấu với những kẻ ngạo nghễ mặc đồ đen, và mỗi khi chúng đập vào sọ ông thì ông trả lời, đầy dũng cảm và can trường: “Ngày mai sẽ đến.” Những năm đó có chiến tranh và những kẻ ngạo nghễ mặc đồ đen đó có vẻ đang chiến thắng. Nhưng cha cô vẫn lắc đầu và nói, đầy dũng cảm và can trường: “Ngày mai sẽ đến.”
Cô gái tin vào người cha bởi điều cô đã thấy trong một đêm tháng Bảy. Đêm đó, những kẻ ngạo nghễ mặc đồ đen đã bị quét sạch và dường như chiến tranh đã đi qua, mở đường cho ngày mai. Nhưng tháng Chín đến và những kẻ ngạo nghễ quay trở lại, cùng với những kẻ ngạo nghễ khác nói tiếng Đức: cuộc chiến khốc liệt gấp đôi. Cô gái cảm thấy như mình bị phản bội. Cô hỏi cha, cha cô đã thuyết phục cô rằng ngày mai không còn xa nữa bởi họ không còn đơn độc: những người bạn đang đến, cả một đội quân của những người bạn được gọi là đồng minh. Ngày tiếp theo, thành phố của cô gái bị những người bạn được gọi là đồng minh dội bom, và một quả bom nổ ngay trước nhà cô. Cô gái trở nên hoang mang. Nếu là bạn bè, sao họ lại giội bom nhà cô? Cha cô trả lời rằng đáng tiếc là họ phải làm như vậy, nhưng chuyện đó không ảnh hưởng đến tình bạn của họ, và để khiến cô tin tưởng hơn, ông đã đưa về nhà hai trong số những người đã giội bom. “Những người bạn” đã bị những kẻ ngạo nghễ bỏ tù, nhưng họ đã trốn thoát khỏi trại tập trung. Cha cô giải thích rằng cần phải giấu họ, phải giúp đỡ họ, vì ngày mai là sự nghiệp chung. Cô gái đồng ý. Cùng với cha cô, cô giấu những người bạn, cho họ ăn, cứu sống họ. Rồi cô bình tĩnh chờ đợi đội quân được kỳ vọng là mang ngày mai tới. Hàng tuần, hàng tháng trôi qua, sự chờ đợi thì dài trong khi bom vẫn tiếp tục giội xuống và người dân chết dần cho bom đạn, tra tấn, xử tử… Rồi một hôm cha của cô gái bị bắt, bị đánh đập, tra tấn. Cô gái thăm cha trong tù và khó lòng mà nhận ra ông, ông đã bị tra tấn quá khủng khiếp. Nhưng thậm chí ngay cả ở trong tù, sau khi bị tra tấn, ông vẫn nói: “Ngày mai sẽ đến.”
Cuối cùng thì ngày mai cũng đến. Đó là một buổi bình minh tháng Tám, suốt đêm trước đó cả thành phố rung chuyển bởi những tiếng nổ khủng khiếp. Các cây cầu, phố xá bị lật tung, thêm nhiều người vô tội bị giết. Nhưng rồi bình minh lên, rạng rỡ như tiếng chuông ngày Phục sinh, và nó mang theo đội quân của những người bạn. Đẹp đẽ, tươi cười, vui vẻ, họ tiến đến, những thiên thần mặc quân phục, và người dân chạy ào về phía họ, tung hoa và cảm ơn họ. Cha cô gái, giờ đã được tự do, được mọi người chào đón với lòng tôn kính đặc biệt, mắt ông ánh lên thứ ánh sáng của người có niềm tin. Rồi ai đó đến bảo ông chạy ngay đến trụ sở quân đồng minh: có chuyện rất nghiêm trọng đã xảy ra. Cha cô gái chạy đi. Và chuyện nghiêm trọng là có một người đang nằm vật ra đất khóc, mặt vùi trong cỏ. Anh ta mặc bộ vest màu xanh da trời, rõ ràng nó đã được lựa chọn để chào đón những người bạn, trên nút áo khoác còn gắn một bông hoa hồng bằng giấy màu đỏ to tướng. Trước mặt anh ta là một thiên thần mặc quân phục đang đứng, hai chân giạng ra, súng máy chĩa thẳng. Cha cô gái yêu cầu được nói chuyện với viên chỉ huy đồng minh. Viên chỉ huy tiếp ông, vung vẩy cây roi cưỡi ngựa: “Ông là một trong số những người được gọi là đại diện của nhân dân?” Cha cô gái đáp rằng phải. “Thế thì tôi xin thông báo cho ông biết nhân dân ông đã chào đón chúng tôi bằng việc trộm cắp. Gã đó đã ăn cắp!” Cha cô gái hỏi anh kia đã ăn trộm cái gì. “Một túi dết đầy thức ăn và tài liệu,” tay chỉ huy rít lên. Cha cô gái lại hỏi tài liệu gì. Viên chỉ huy lại rít lên: “Giấy nghỉ phép của trung sĩ sở hữu cái túi dết.” Cha cô gái hỏi giấy tờ đã lấy lại được chưa. Viên trung sĩ phun phì phì: “Rồi, nhưng đã rách hết!” Cha cô gái đề xuất rằng giấy tờ thì có thể dán lại được. Thế còn đồ ăn? Đồ ăn đã lấy lại chưa? “Đồ ăn đã bị chén hết sạch! Khẩu phần của cả một ngày!” viên chỉ huy gào lên giận dữ. Cha cô gái trả lời rằng việc này quả thật là không phải: để bù lại, ông sẽ chịu trách nhiệm về tên trộm này và đề nghị được đền bù các tổn thất cho viên trung sĩ. Cây roi ngựa quất mạnh một phát trong không trung và viên chỉ huy trả lời rằng trong quân đội của ông ta, trộm cắp là bị xử bắn. Ông ta ra lệnh cho cha cô gái, người đại diện của nhân dân, biến khỏi đây. Ở bên ngoài, tên trộm vẫn đang nằm khóc, mặt vùi xuống cỏ: “Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ ơi.” Thiên thần mặc quân phục vẫn đang đứng phía trên đầu anh ta, hai chân giạng ra, súng máy lăm lăm. Đôi chân to bè bè và lông lá; nòng súng nhắm vào gáy người thanh niên. Khi đi ngang qua, cô gái nghe một tiếng “tách” kim loại. Tiếng “tách” của chốt an toàn khi nó được lên đạn.
Sau quân đội Anh là quân đội Mỹ. Ai cũng nói người Mỹ sẽ tử tế hơn, thân thiện hơn, và cô gái hy vọng đó là sự thật bởi nhiều người trong số họ cười nói ầm ĩ đầy xởi lởi. Nhưng rồi cô nhanh chóng nhận ra rằng ngay cả khi nói cười ầm ĩ, họ cũng vẫn xử sự như những ông chủ; cái ngày mai trứ danh kia chỉ là nỗi khiếp sợ mới. Và cái đói vẫn như cũ. Để làm dịu cơn đói, một số phụ nữ đã bán mình; số khác nhận giặt quần áo cho các ông chủ mới. Mỗi hàng hiên, mỗi sân vườn là nơi treo kín các bộ quân phục, bít tất, áo lót, một sự khoe khoang của những người giặt nhiều đồ nhất. Sáu đôi tất, một ổ bánh mì. Ba áo lót, một hộp thịt và đậu. Một bộ quân phục, hai hộp thịt… Cha cô không cho phép vợ và con gái chạm vào những thứ quần áo bẩn thỉu đó. Ông nói rằng dù tốt hơn hay tệ hơn thì ngày mai cũng đã bắt đầu và cần phải tự bảo vệ mình bằng phẩm giá. Và để chứng minh, ông mời một vài người trong số “những người bạn” tới nhà ăn và trao cho họ khẩu phần đồ ăn tươi ngon của ông. Một tối, ông thậm chí còn tặng họ chiếc đồng hồ vàng và có một bài phát biểu rất hay kêu gọi những người tù mà ông đã giúp đỡ hãy vì một ngày mai vẫn đang là sự nghiệp chung của họ. Những người bạn nhận chiếc đồng hồ vàng, và để đáp lại, cho phép gia đình ông nhận quần áo để giặt. Cô gái cảm thấy bị xúc phạm. Nhưng cái đói là con thú đầy cám dỗ: vài ngày sau, không nói cho cha biết, cô gái suy nghĩ về điều đó và đồng ý giặt quần áo… Hai túi đồ được gửi đến. Một túi đựng quần áo bẩn và một túi đồ ăn. Túi thực phẩm được mở ra ngay và trong đó có ba hộp xốt đậu, hai ổ bánh mì, một lọ bơ lạc, và cả một lọ mứt dâu tây. Túi quần áo bẩn được mở ra sau. Khi cô gái bỏ đồ vào chậu, mặt cô đỏ bừng vì tức giận. Toàn là đồ lót bẩn.
Chính vào lúc giặt đồ lót bẩn của kẻ khác mà ta nhận ra rằng: ngày mai của chúng ta chưa hề đến và có lẽ sẽ không bao giờ đến. Chúng ta sẽ luôn bị lừa dối bởi những lời hứa hẹn: trong chuỗi những thất vọng được xoa dịu bởi những lời an ủi giả dối, những món quà thảm hại, những khuây khỏa khốn khổ để làm chúng ta ngậm miệng. Liệu ngày mai của ta có bao giờ đến với con? Ta nghi ngờ điều đó. Đã hàng trăm, hàng ngàn năm nay, con người vẫn đang đưa trẻ con đến thế giới này, tin tưởng vào một ngày mai nào đó, hy vọng ngày mai con cái họ sẽ sống cuộc đời tốt đẹp hơn họ. Và cuộc đời tốt đẹp hơn đó cùng lắm là kết thúc với việc có một hệ thống sưởi khốn khổ. Phải, lò sưởi là thứ dễ chịu khi con lạnh, nhưng nó không thể làm con hạnh phúc hoặc bao vệ nhân phẩm của con. Kể cả có lò sưởi thì con vẫn phải chịu đựng sự ngạo mạn, đau khổ, tống tiền, và ngày mai vẫn là sự dối trá. Ta đã nói với con ngay từ đầu rằng không gì tệ hơn chẳng-là-gì-cả, rằng nỗi thống khổ không nên khơi gợi nỗi sợ hãi, thậm chí là nỗi sợ chết, bởi nếu người ta chết có nghĩa là họ đã được sinh ra. Ta đã nói với con rằng được sinh ra luôn là điều đáng giá, bởi lựa chọn thứ hai là sự im lặng và trống rỗng. Nhưng thế có đúng không hả con? Liệu có đúng cho con không khi được sinh ra để rồi phải chết dưới bom đạn hoặc nòng súng của một tên lính lông lá đã nổi xung khi khẩu phần ăn đã bị con trộm mất vì quá đói? Con càng lớn thì ta càng trở nên sợ hãi. Cái nhiệt tình hoan hỉ trong ta lúc ban đầu đã gần như biến mất hoàn toàn; ta đã mất đi niềm tin chắc chắn vào việc nắm bắt được sự thực về cuộc đời. Ta ngày càng trở nên mòn mỏi vì nghi ngờ. Mối nghi ngờ dâng lên và dịu đi như thủy triều, những đợt sóng lúc che phủ bãi biển của sự tồn tại của con, lúc lùi xa và chỉ để lại những mảnh vỡ. Hãy tin ta, ta không cố làm con thoái chí hoặc thuyết phục con không sinh ra: ta chỉ muốn chia sẻ trách nhiệm của ta với con và làm rõ trách nhiệm của con cho chính con. Con vẫn còn thời gian để cân nhắc, hay đúng hơn là cân nhắc lại. Theo như ta biết, dù đó là thủy triểu cao hay thủy triều thấp, ta cũng đã sẵn sàng. Thế còn con? Ta hỏi con đã sẵn sàng nhìn thấy một người đàn bà bị ném xuống cây mộc lan, sẵn sàng đau đáu nhìn những viên kẹo sô cô la được tung xuống như mưa cho những kẻ không cần chúng chưa? Giờ ta hỏi con có sẵn sàng chấp nhận nguy cơ phải giặt đồ lót cho những kẻ khác và khám phá ra rằng ngày mai chỉ là một ngày của quá khứ? Con ở nơi mỗi ngày hôm qua là ngày mai, mà mỗi ngày mai là một cuộc chinh phục. Con vẫn chưa biết điều tồi tệ nhất của thực tiễn: thế giới thay đổi mà vẫn giữ y nguyên.