[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: NONE
Tôi chưa từng thấy ai lại hào hứng với những trò đùa giỡn hơn nhà vua. Ngài dường như chỉ sống vì những tiếng cười. Kể một câu chuyện tiếu lâm hay, và kể một cách có duyên, chính là con đường ngắn nhất để chiếm được sự sủng ái của ngài. Thế nên, bảy vị đại thần của ngài cũng nổi danh là những tay tấu hài cự phách. Tất cả đều giống nhà vua ở chỗ thân hình đồ sộ, mập mạp, béo ngậy, lại thêm tài mua vui không ai bì kịp. Không biết có phải con người ta trở nên béo tốt nhờ hay đùa, hay bản thân sự béo lùn đã mang sẵn máu tiếu lâm trong người, mà tôi chưa bao giờ lý giải nổi; chỉ biết rằng một tay hề gầy gò là một thứ cực kỳ hiếm hoi trên cõi đời này.
Về những nét tinh tế, hay như ngài gọi là cái “hồn” của sự hóm hỉnh, nhà vua chẳng bận tâm mấy. Ngài đặc biệt ái mộ sự thô kệch, trần trụi trong một lời nói đùa, và thường sẵn sàng bỏ qua sự dài dòng cốt để có được điều đó. Những gì quá trau chuốt chỉ khiến ngài mệt mỏi. Ngài thà đọc tác phẩm “Gargantua” của Rabelais còn hơn cuốn “Zadig” của Voltaire; và suy cho cùng, những trò chơi kham khổ thực tế hợp vớigu của ngài hơn nhiều so với những trò đùa bằng lời nói.
Vào thời điểm diễn ra câu chuyện của tôi, những kẻ hề chuyên nghiệp vẫn chưa hoàn toàn lỗi mốt chốn hoàng cung. Vẫn có một số “thế lực” lớn ở đại lục giữ lại những tên “hề” cho riêng mình, những kẻ mặc áo sặc sỡ đính chuông trên mũ, luôn sẵn sàng tung ra những câu châm biếm sắc sảo bất cứ lúc nào, để đổi lấy những vụn bánh rớt xuống từ bàn tiệc hoàng gia.
Dĩ nhiên, nhà vua của chúng ta cũng giữ lại cho mình một tên “hề”. Thực tế, ngài cần chút gì đó mang tính ngốc nghếch — chí ít là để cân bằng lại sự uyên bác nặng nề của bảy vị hiền triết trong hội đồng đại thần — chưa kể đến chính bản thân ngài.
Tuy nhiên, tên hề chuyên nghiệp ấy không đơn thuần chỉ là một kẻ ngốc. Giá trị của hắn trong mắt nhà vua còn được nhân lên gấp ba lần bởi sự thật rằng hắn vừa là một kẻ lùn, lại vừa tàn tật. Thời đó, những người lùn cũng phổ biến chẳng kém gì những tên hề chốn cung đình; và nhiều vị quân chủ hẳn đã cảm thấy vô cùng khó khăn để trôi qua qua mấy ngày dài lê thê (ngày ở cung đình thường dài hơn những nơi khác) nếu thiếu đi cả một kẻ hề để cười cùng lẫn một tên lùn để cười vào mặt. Nhưng, như tôi đã nhận định, cứ một trăm tên hề thì có tới chín mươi chín tên mập mạp, tròn vo và nặng nề — thế nên nhà vua vô cùng tự hào khi sở hữu ở Hop-Frog (đó là tên của tên hề) một báu vật "ba trong một" hoàn hảo.
Tôi tin rằng cái tên “Hop-Frog” không phải là tên do những người cha mẹ đỡ đầu ban cho hắn khi rửa tội, mà nó được gán cho hắn sự đồng thuận chung của cả bảy vị đại thần, bởi cái dáng đi không giống ai của hắn. Thực ra, Hop-Frog chỉ có thể di chuyển bằng một kiểu bước đi ngắt quãng — nửa như nhảy cẫng, nửa như ngoằn ngoèo — một dáng đi mang lại nguồn giải trí vô tận, và tất nhiên là cả sự khuây khỏa, cho nhà vua, bởi vì (bất chấp cái bụng phệ cùng cái đầu sưng phù bẩm sinh) nhà vua vẫn được toàn thể triều đình coi là một đấng nam nhi có vóc dáng tuyệt vời.
Nhưng dẫu cho đôi chân biến dạng khiến Hop-Frog chỉ có thể lê bước dọc theo con đường hay sàn nhà với vô vàn đau đớn và khó khăn, thì sức mạnh cơ bắp phi thường mà tạo hóa ban cho đôi tay hắn — như một sự bù đắp cho phần chi dưới khiếm khuyết — lại giúp hắn biểu diễn rất nhiều trò khéo léo đến kinh ngạc, nhất là khi liên quan đến cây cối, dây thừng hay bất cứ thứ gì cần leo trèo. Ở những bài tập như thế, trông hắn quả thực giống một con sóc hay một chú khỉ nhỏ hơn là một con ếch.
Tôi không thể nói chính xác Hop-Frog nguyên quán từ đâu tới. Chỉ biết rằng hắn đến từ một vùng đất hoang dã nào đó mà chưa từng ai nghe tới — cách rất xa vương triều của nhà vua chúng ta. Hop-Frog, cùng một thiếu nữ trẻ tuổi cũng lùn chẳng kém gì hắn (dù sở hữu thân hình cân đối tuyệt mỹ và tài múa tuyệt vời), đã bị bắt cóc một cách vũ lực khỏi quê nhà của họ ở những tỉnh liền kề, rồi được gửi làm quà biếu cho nhà vua bởi một vị tướng luôn chiến thắng của ngài.
Trong hoàn cảnh ấy, chẳng có gì lạ khi một sự gắn bó sâu sắc đã nảy nở giữa hai thân phận nhỏ bé. Quả thực, họ nhanh chóng trở thành đôi bạn tâm giao. Hop-Frog, dù mang lại rất nhiều tiếng cười nhưng lại hoàn toàn chẳng được lòng ai, chẳng có nổi quyền lực để làm ơn cho Trippetta; nhưng nàng, nhờ vào sự uyển chuyển và nhan sắc kiều diễm (dù chỉ là người lùn), lại được mọi người ngưỡng mộ và cưng chiều; thế nên nàng có rất nhiều ảnh hưởng, và chưa từng bỏ lỡ cơ hội nào để dùng sức ảnh hưởng ấy mưu cầu lợi ích cho Hop-Frog.
Vào một dịp đại lễ nào đó — tôi quên mất là lễ gì — nhà vua quyết định tổ chức một buổi vũ hội hóa trang, và cứ mỗi khi có vũ hội hay sự kiện tương tự diễn ra ở cung đình, tài năng của cả Hop-Frog lẫn Trippetta lại chắc chắn được phát huy triệt để. Riêng Hop-Frog, hắn rất có tài sáng tạo trong việc dựng lên các màn biểu diễn, gợi ý những nhân vật mới lạ và sắp xếp trang phục cho các vũ hội hóa trang, đến mức dường như chẳng việc gì có thể hoàn thành nếu thiếu đi sự trợ giúp của hắn.
Đêm định mệnh cho buổi tiệc đã đến. Một sảnh đường lộng lẫy được chuẩn bị dưới ánh mắt soi mói của Trippetta, bày biện đủ loại trang trí có thể làm rạng danh một buổi vũ hội. Cả triều đình chìm trong cơn sốt hồi hộp chờ đợi. Về phần trang phục và nhân vật hóa trang, có thể đoán chắc rằng ai nấy đều đã định đoạt xong xuôi. Nhiều kẻ đã quyết định xong (vai diễn mình sẽ hóa thân) từ một tuần, hay thậm chí một tháng trước; và thực tế, chẳng có chút do dự nào ngoại trừ trường hợp của nhà vua và bảy vị đại thần. Lý do họ chần chừ thì tôi chưa bao giờ tài nào hiểu nổi, trừ khi họ làm thế để đùa cợt. Có lẽ, vì quá béo nên họ thấy việc đưa ra quyết định là quá khó khăn. Dù sao đi nữa, thời gian vẫn cứ trôi; và như một nỗ lực cuối cùng, họ liền sai người triệu hồi Trippetta và Hop-Frog.
Khi hai người bạn nhỏ tuân lệnh triệu tập của nhà vua, họ thấy ngài đang ngồi nhâm nhi rượu vang cùng bảy vị thành viên trong hội đồng nội các; nhưng vị quân chủ trông có vẻ vô cùng bực bội. Ngài thừa biết Hop-Frog vốn không thích rượu, bởi nó kích thích kẻ khốn khổ tội nghiệp đến mức gần như phát điên; mà sự điên loạn thì chẳng có gì là dễ chịu cả. Thế nhưng nhà vua lại ưa những trò đùa oái oăm của mình, và lấy làm thích thú khi ép Hop-Frog phải uống và (như cách nhà vua gọi) “cho vui vẻ”.
“Lại đây nào, Hop-Frog,” ngài cất lời khi gã hề và người bạn bước vào phòng; “hãy cạn chén này vì sức khỏe của những người bạn vắng mặt của ngươi, [đến đây Hop-Frog thở dài,] rồi sau đó hãy hiến kế cho chúng ta. Ta cần những nhân vật — những nhân vật độc đáo, anh bạn ạ — thứ gì đó thật mới lạ, khác thường. Chúng ta đã chán ngấy cái sự đơn điệu nhàm chán này rồi. Nào, uống đi! Rượu vang sẽ làm trí óc ngươi sáng láng hơn đấy.”
Hop-Frog cũng cố gắng như mọi khi, nặn ra một câu nói đùa để đáp lại những lời mời gọi từ nhà vua; nhưng nỗ lực ấy quá sức với hắn. Hóa ra hôm đó lại là sinh nhật của gã lùn tội nghiệp, và mệnh lệnh bắt phải nâng ly vì những “người bạn vắng mặt” đã ép những giọt nước mắt chực trào. Rất nhiều giọt nước mắt đắng ngắt đã rơi vào chiếc cốc khi hắn run rẩy đón lấy nó từ tay bạo chúa.
“A! ha! ha! ha!” bạo chúa cười vang khi gã lùn miễn cưỡng nốc cạn chén rượu. “Thấy chưa, một ly rượu ngon có thể làm được những gì chứ! Chà, mắt ngươi đã sáng long lanh lên rồi kìa!”
Tội nghiệp gã! Đôi mắt to của hắn trông giống như đang lóe lên hơn là sáng rực; bởi tác động của rượu lên bộ não dễ bị kích thích của hắn không chỉ mạnh mẽ mà còn diễn ra ngay tức khắc. Hắn đặt chiếc cốc lên bàn với đôi tay run rẩy, rồi đưa mắt nhìn quanh căn phòng với ánh nhìn nửa tỉnh nửa mê. Tất cả bọn họ đều tỏ ra vô cùng thích thú trước sự thành công của “trò đùa” do nhà vua sắp đặt.
“Và giờ thì quay lại công việc chính thôi,” vị tể tướng, một kẻ béo ì ạch, lên tiếng.
“Đúng thế,” nhà vua nói; “Nào, Hop-Frog, hãy giúp chúng ta một tay đi. Những nhân vật nào, anh bạn tuyệt vời của ta; chúng ta đang rất cần những nhân vật — tất cả chúng ta — ha! ha! ha!” và vì đây thực sự là một trò đùa theo ý ngài, tiếng cười của ngài ngay lập tức được hưởng ứng bởi dàn đồng ca của bảy vị đại thần.
Hop-Frog cũng cười theo, dẫu cho nụ cười ấy thật yếu ớt và có phần ngây dại.
“Nào, nào,” nhà vua mất kiên nhẫn giục giã, “ngươi chẳng có chút gợi ý nào sao?”
“Tôi đang cố gắng nghĩ ra cái gì đó thật mới lạ,” gã lùn đáp với vẻ mặt tha thẩn, bởi hắn hoàn toàn đang mụ mẫm vì men rượu.
“Cố gắng á!” bạo chúa thét lên giận dữ; “ngươi có ý gì khi nói thế hả? À, ta hiểu rồi. Ngươi đang dở chứng hờn dỗi và muốn uống thêm rượu chứ gì. Nào, uống cái này đi!” và ngài rót đầy một chiếc cốc khác rồi chìa về phía kẻ tàn tật, kẻ lúc này chỉ biết trân trân nhìn nó và thở dốc.
“Uống đi, tao bảo thế!” tên quái vật gầm lên, “nếu không thì quỷ sứ sẽ—”
Gã lùn chần chừ. Mặt nhà vua tím ngắt vì tức giận. Mấy kẻ cận thần cười mỉm. Trippetta, nhợt nhạt như một thây ma, tiến về phía ngai của nhà vua, quỳ sụp xuống trước mặt ngài và khẩn khoản xin ngài hãy tha cho người bạn của mình.
Tên bạo chúa trừng trừng nhìn nàng một lúc, rõ ràng là kinh ngạc trước sự táo tợn ấy. Hắn dường như hoàn toàn bối rối không biết phải làm gì hay nói gì — làm sao để bày tỏ sự phẫn nộ của mình một cách đường hoàng nhất. Cuối cùng, không thốt nổi một lời, hắn dùng sức đẩy ngã nhào nàng ra xa, rồi hất nguyên chén rượu đầy tràn vào thẳng khuôn mặt nàng.
Cô thiếu nữ tội nghiệp tự gượng đứng dậy hết sức có thể, và thậm chí chẳng dám thở dài, lủi thủi trở về vị trí cũ ở cuối bàn.
Một sự im lặng chết chóc kéo dài chừng nửa phút, khoảng thời gian mà nếu có một chiếc lá hay một chiếc lông chim rơi xuống cũng có thể nghe thấy rõ mồn một. Sự tĩnh lặng ấy bị phá vỡ bởi một âm thanh cọ xát trầm đục nhưng gay gắt và kéo dài, dường như phát ra từ mọi ngóc ngách trong căn phòng cùng một lúc.
“Cái gì — cái gì — cái gì mà ngươi lại gây ra tiếng động đó thế hả?” nhà vua hách dịch hỏi, quay phắt lại đầy giận dữ hướng về phía gã lùn.
Gã lùn lúc này có vẻ đã phần nào tỉnh táo lại sau cơn say, ánh mắt dán chặt nhưng vô cùng bình thản nhìn thẳng vào mặt tên bạo chúa, chỉ thốt lên một câu:
“Tôi — tôi ư? Sao lại có thể là tôi được chứ?”
“Âm thanh có vẻ phát ra từ bên ngoài,” một tên cận thần lên tiếng nhận xét. “Ta đoán đó là con con vẹt bên cửa sổ, đang mài cái mỏ của nó vào song sắt lồng.”
“Phải rồi,” vị quân chủ đáp lời, ra điều nhẹ nhõm hẳn trước lời gợi ý ấy; “nhưng mà, nhân danh danh dự của một hiệp sĩ, ta dám thề là tiếng nghiến răng của tên khốn này đấy.”
Đến đây gã lùn liền cười lớn (nhà vua vốn là một kẻ cuồng trò đùa nên chẳng đời nào phản đối việc người khác cười), vàộ lộ ra hàm răng lớn, khỏe mạnh và vô cùng gớm ghiếc. Hơn thế nữa, hắn còn lớn tiếng tuyên bố sẵn sàng uống bao nhiêu rượu tùy ý theo lệnh. Vị quân chủ đã được làm cho nguôi giận; và sau khi nốc cạn một chén nữa mà chẳng thấy có biểu hiện bất thường nào, Hop-Frog liền lao ngay vào các kế hoạch cho buổi vũ hội hóa trang với đầy vẻ hứng khởi.
“Tôi chẳng tài nào hiểu nổi sự liên tưởng trong đầu mình xuất phát từ đâu,” hắn nhận xét một cách rất bình thản, cứ như thể chưa từng chạm môi vào giọt rượu nào trong đời, “nhưng ngay sau khi bệ hạ vừa đánh cô gái và hất rượu vào mặt nàng — ngay sau khi bệ hạ làm điều đó, và trong lúc con vẹt đang phát ra cái âm thanh kỳ cục ngoài cửa sổ ấy, trong đầu tôi chợt nảy ra một trò vui tuyệt vời — một trong những trò tiêu khiển ở quê hương tôi — thường hay được tổ chức trong các buổi hóa trang ở xứ chúng tôi: nhưng ở đây thì nó sẽ hoàn toàn mới lạ. Chỉ tiếc là, trò này đòi hỏi phải có một nhóm tám người và—”
“Chúng ta đây chứ đâu!” nhà vua cười lớn vì phát hiện ra sự trùng hợp đến kỳ lạ; “đúng tám người không thiếu một mống — ta và bảy vị đại thần. Nào! Trò vui ấy thế nào?”
“Chúng tôi gọi nó,” gã tàn tật đáp, “là Tám Con đười ươi bị xích, và thực sự đây là một trò chơi vô cùng xuất sắc nếu được diễn xuất khéo léo.”
“Chúng ta sẽ diễn trò đó,” nhà vua tuyên bố, ngẩng cao đầu và nheo mắt lại.
“Cái hay của trò chơi này,” Hop-Frog tiếp lời, “nằm ở chỗ sự hoảng sợ mà nó gây ra cho lũ phụ nữ.”
“Tuyệt cú mèo!” nhà vua và các bộ trưởng đồng thanh gầm lên hưởng ứng.
“Tôi sẽ trang bị cho các ngài vỏ ngoài y hệt đười ươi,” gã lùn thuyết minh tiếp; “cứ giao hết việc đó cho tôi. Sự giống nhau sẽ sống động đến mức đám khách hóa trang sẽ tưởng các ngài là thú thật — và tất nhiên, họ sẽ vừa hoảng hốt lại vừa kinh ngạc tột cùng.”
“Ồ, tuyệt vời quá thế cơ chứ!” nhà vua thốt lên. “Hop-Frog! Ta sẽ trọng thưởng cho ngươi xứng đáng.”
“Những chiếc xích là để làm tăng thêm phần hỗn loạn bởi tiếng khua khoắng của chúng. Các ngài sẽ được coi là đã trốn thoát hàng loạt khỏi tay những kẻ quản thú. Bệ hạ không thể tưởng tượng nổi hiệu ứng tạo ra trong một buổi vũ hội hóa trang bởi tám con đười ươi bị xích, bị phần lớn đám đông tưởng nhầm là thú thật — và lao bổ vào giữa đám đông những nam thanh nữ tú ăn vận lộng lẫy, xa hoa với những tiếng gầm rú hoang dã. Sự tương phản đó thì quả là độc nhất vô nhị.”
“Chắc chắn là vậy rồi,” nhà vua phán; và hội đồng vội vã đứng dậy (vì trời đã khuya), để bắt tay vào thực hiện kế hoạch của Hop-Frog.
Cách thức hắn trang bị bộ dạng đười ươi cho nhóm người rất đơn giản, nhưng lại đủ hiệu quả cho mục đích của hắn. Vào thời điểm diễn ra câu chuyện của tôi, loài thú nói trên rất hiếm khi được nhìn thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới văn minh; và vì những tạo hình mà gã lùn làm ra đủ giống thú và còn đáng sợ hơn cả thú thật, nên tính chân thực của chúng đối với tự nhiên do đó được đảm bảo.
Nhà vua và các bộ trưởng trước hết được mặc những chiếc áo thun và quần tất bó sát. Sau đó, họ được trét đầy hắc ín lên người. Đến công đoạn này, một kẻ trong nhóm chợt gợi ý dùng lông vũ; nhưng ý kiến đó ngay lập tức bị gã lùn bác bỏ, người mà sau đó đã nhanh chóng chứng minh cho cả tám kẻ thấy bằng nhãn quan thực tế rằng lông của một con vật như đười ươi được thể hiện bằng lanh thì sẽ hiệu quả và giống hơn nhiều. Một lớp lanh dày theo đó được đắp đè lên lớp hắc ín. Một sợi xích dài lúc này được mang ra. Đầu tiên, nó được quấn quanh eo nhà vua và thắt chặt lại; tiếp đó quấn quanh một kẻ khác trong nhóm và cũng thắt chặt; rồi lần lượt quấn quanh tất cả những kẻ còn lại theo đúng cách đó. Khi công đoạn xiềng xích này hoàn tất, và nhóm người đứng cách xa nhau hết mức có thể, họ tạo thành một vòng tròn; và để mọi thứ trông có vẻ tự nhiên, Hop-Frog luồn phần xích còn thừa thành hai đường kính vuông góc cắt ngang qua vòng tròn, theo đúng kiểu mà ngày nay những kẻ săn bắt tinh tinh hoặc các loài vượn lớn khác ở đảo Borneo vẫn hay áp dụng.
Đại sảnh lớn nơi diễn ra buổi vũ hội hóa trang là một căn phòng hình tròn, rất cao rội, chỉ đón ánh sáng mặt trời thông qua duy nhất một khung cửa sổ ở tít trên mái vòm. Vào ban đêm (khoảng thời gian mà căn phòng được thiết kế đặc biệt để phục vụ) nó được thắp sáng chủ yếu bởi một chiếc đèn chùm lớn, treo lủng lẳng bằng một sợi xích từ chính giữa ô cửa sổ trời, và được hạ xuống hoặc kéo lên nhờ vào một hệ thống đối trọng như thường lệ; nhưng (để trông không bị chướng mắt) phần đối trọng này chạy dọc phía bên ngoài mái vòm và vắt qua nóc nhà.
Việc sắp đặt bài trí trong phòng đã được giao phó cho sự giám sát của Trippetta; nhưng dường như trong một số chi tiết, nàng đã được định hướng bởi sự phán đoán điềm tĩnh hơn của người bạn gã lùn. Chính theo gợi ý của hắn mà vào dịp này, chiếc đèn chùm đã được tháo dỡ hoàn toàn. Những giọt sáp nến nhỏ xuống (điều hoàn toàn không thể tránh khỏi trong một thời tiết oi bức thế này) sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến những bộ xiêm y lộng lẫy của các vị khách, những người do sự đông đúc của sảnh đường sẽ không thể nào tránh khỏi việc đứng chen chúc ngay chính giữa phòng; nghĩa là đứng ngay phía dưới đèn chùm. Những chân nến bổ sung được gắn ở nhiều vị trí khuất khác nhau trong sảnh, và những ngọn đuốc tỏa hương thơm ngát được đặt trên tay mỗi bức tượng Nữ thần Caryatid áp sát vào tường — tổng cộng chừng năm sáu mươi bức.
Tám con đười ươi, nghe theo lời khuyên của Hop-Frog, kiên nhẫn chờ đợi cho đến tận nửa đêm (khi căn phòng đã chật ních khách hóa trang) mới chịu xuất hiện. Tuy nhiên, vừa dứt tiếng đồng hồ điểm chuông, chúng liền lao vồ vập, hay đúng hơn là lăn cùn vào một cục — bởi vướng víu từ những sợi xích khiến hầu hết bọn chúng ngã nhào và vấp ngã liên hồi ngay khi vừa bước chân qua ngưỡng cửa.
Sự phấn khích trong lòng đám đông hóa trang bùng nổ dữ dội, làm ngập tràn trái tim nhà vua niềm vui sướng tột độ. Đúng như dự đoán, không ít vị khách đã đinh ninh rằng những sinh vật có diện mạo hung dữ kia chính là một loài thú nào đó bằng xương bằng thịt, nếu không muốn nói chính xác là đười ươi đi chăng nữa. Rất nhiều phụ nữ ngất lịm đi vì khiếp sợ; và nếu nhà vua không cẩn thận cấm tiệt mọi thứ vũ khí bén nhọn bén mảng vào sảnh đường, thì đám bề tôi của ngài hẳn đã sớm phải trả giá cho trò đùa giỡn bằng chính máu của họ rồi. Dù vậy, một cảnh chen lấn hỗn loạn đã diễn ra hướng về các cánh cửa; nhưng nhà vua đã ra lệnh khóa chặt chúng lại ngay khi ngài bước vào; và theo gợi ý của gã lùn, chìa khóa đã được giao phó cho chính hắn giữ.
Trong lúc sự hỗn độn lên đến đỉnh điểm và ai nấy chỉ biết lo thân giữ mạng (bởi thực tế, sự chèn ép của đám đông cuồng loạn ẩn chứa rất nhiều nguy hiểm chết người), sợi xích vốn dùng để treo đèn chùm, thứ đã được kéo tút lên cao khi tháo đèn, bỗng từ từ hạ xuống một cách vô cùng kín đáo, cho đến khi phần đầu móc của nó sà xuống cách mặt sàn nhà chừng ba thước.
Ngay sau đó, nhà vua cùng bảy người bạn lảo đảo lượn lờ khắp sảnh đường theo mọi hướng, cuối cùng cũng trôi dạt vào chính giữa phòng, và tất nhiên là chạm mặt ngay với sợi xích. Trong lúc họ đang loay hoay ở đó, gã lùn — kẻ đã bám sát gót họ một cách hoàn toàn im lặng và luôn miệng khích bác họ duy trì sự hỗn loạn — liền chộp lấy đoạn xích chính ngay tại giao điểm của hai đoạn xích bắt chéo qua vòng tròn theo đường kính và vuông góc với nhau. Nhanh như chớp, hắn móc ngay vào đó chiếc móc vốn dùng để treo đèn chùm; và chỉ trong một tích tắc, nhờ một lực kéo vô hình nào đó, sợi xích đèn chùm bị giật tít lên cao khiến chiếc móc vượt quá tầm với, và hệ quả tất yếu là lôi thốc đám đười ươi túm chụm lại với nhau, đối mặt sát rạt vào mặt nhau.
Đám người hóa trang lúc này đã phần nào hoàn hồn sau cơn hoảng loạn; và bắt đầu nhìn nhận toàn bộ sự việc như một trò vui được dàn dựng khéo léo, liền bật lên những tràng cười vang dội trước tình thế dở khóc dở cười của bầy vượn.
“Cứ để mặc chúng cho ta!” Hop-Frog lúc này ré lên, tiếng hét chói tai của hắn dễ dàng lọt thỏm và vượt qua mọi tiếng ồn ào. “Cứ để mặc chúng cho ta. Ta tưởng chừng như mình quen biết chúng đấy. Nếu ta được ngắm kỹ chúng một chút thôi, ta sẽ biết ngay chúng là ai thôi mà.”
Nói đoạn, trèo qua đầu đám đông, hắn xoay sở lết được tới bức tường; rồi chộp lấy một cây đuốc từ tay một bức tượng Nữ thần Caryatid, hắn quay trở lại trung tâm căn phòng theo đúng lối cũ — nhảy nhót với sự linh hoạt của một chú khỉ, chồm lên đầu nhà vua, rồi từ đó leo vút lên vài thước dọc theo sợi xích; cúi người hạ thấp ngọn đuốc xuống để soi xét nhóm đười ươi, miệng vẫn không ngớt ré lên: “Ta sẽ lòi ra chúng là ai ngay đây thôi!”
Và giờ đây, trong lúc toàn thể hội trường (kể cả bầy vượn) đang cười lăn cười bò đến quặn cả ruột, gã hề đột nhiên huýt lên một tiếng sắc lẹm; lập tức sợi xích vút bay lên cao chừng ba mươi thước — kéo theo cả đám đười ươi đang hoảng loạn vùng vẫy, treo lủng lẳng giữa không trung lơ lửng ngay khoảng không giữa trần kính và mặt sàn nhà. Hop-Frog, bám chặt lấy sợi xích đang vút lên, vẫn duy trì vị trí tương đối của mình so với tám kẻ hóa trang, và vẫn (như thể chẳng có chuyện gì xảy ra) tiếp tục chúc ngọn đuốc xuống phía họ, ra điều đang cố gắng tìm kiếm xem họ thực sự là ai.
Toàn thể hội trường bàng hoàng đến mức một sự im lặng chết chóc kéo dài khoảng một phút đồng hồ bao trùm lấy không gian. Nó bị phá vỡ bởi chính thứ âm thanh trầm đục, gay gắt hệt như âm thanh từng thu hút sự chú ý của nhà vua và các đại thần khi vị quân chủ hất chén rượu vào mặt Trippetta. Nhưng vào khoảnh khắc này, chẳng còn chút nghi ngờ nào về nguồn gốc phát ra thứ âm thanh đó nữa. Nó phát ra từ hàm răng nhọn hoắt như răng thú của gã lùn, kẻ đang nghiến ken két và cắn chặt răng trong khi miệng sùi bọt mép, trợn trừng đôi mắt với biểu cảm giận dữ cuồng loạn nhìn thẳng xuống những gương mặt đang ngửa lên của nhà vua cùng bảy kẻ tòng phạm.
“A, ha!” cuối cùng thì tên hề điên dại cũng cất lời. “A, ha! Ta bắt đầu nhận ra những kẻ này là ai rồi đấy!” Đến đây, ra điều săm soi nhà vua kỹ hơn nữa, hắn áp ngọn đuốc vào lớp áo bằng lanh đang bao bọc lấy thân gã, thứ lập tức bùng cháy dữ dội thành một biển lửa rực rỡ. Chưa đầy nửa phút sau, cả tám con đười ươi đã bùng cháy phừng phừng ngùn ngụt, giữa tiếng thét gào của đám đông đứng ngó lên từ phía dưới với sự kinh hoàng tột độ mà hoàn toàn bất lực chẳng thể chìa bàn tay ra cứu giúp lấy một chút.
Cuối cùng, những ngọn lửa bùng lên dữ dội buộc gã hề phải leo tít lên cao hơn nữa trên sợi xích để tránh xa tầm với của nhiệt độ; và khi hắn thực hiện động tác đó, đám đông lại chìm vào sự im lặng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Gã lùn chớp lấy thời cơ, một lần nữa cất tiếng:
“Giờ thì ta đã thấy rõ ràng rồi,” hắn nói, “những kẻ hóa trang này rốt cuộc là loại người gì. Chúng là một vị đại vương và bảy tên bề tôi thân tín trong hội đồng cơ mật của ngài ta — một kẻ vua chúa chẳng mảy bận tâm đến việc giáng đòn vào một cô gái vô ơn và bảy tên đại thần dung túng cho lão ta thực hiện hành vi bỉ ổi đó. Còn về phần ta, ta đơn thuần chỉ là Hop-Frog, gã hề tấu hãi — và đây chính là màn tấu hài cuối cùng của ta.”
Nhờ vào tính chất cực kỳ dễ bắt lửa của cả sợi lanh lẫn lớp hắc ín bám dính lấy nó, gã lùn vừa dứt lời tuyên bố ngắn ngủi thì công cuộc báo thù cũng hoàn tất mỹ mãn. Tám cái xác cháy đen treo lúc lắc trong những sợi xích, trở thành một khối thịt thối rữa, đen thui, gớm ghiếc và chẳng tài nào nhận dạng nổi. Kẻ tàn tật ném phăng ngọn đuốc về phía bọn chúng, thong thả leo tít lên trần nhà rồi biến mất tăm qua khung cửa sổ trên mái vòm.
Người ta cho rằng Trippetta, ẩn mình trên mái nhà của sảnh đường, chính là kẻ đồng lõa với người bạn tri kỷ trong màn trả thù đẫm lửa ấy, và rằng họ đã cùng nhau trốn thoát thành công về lại quê hương; bởi kể từ đó chẳng ai còn nhìn thấy bất kỳ ai trong số họ xuất hiện trở lại nữa.