Tội Ác Ở Orcival

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
X

❊ ❊ ❊

Ông Thẩm phán hòa giải của xã Orcival sống trong ngôi nhà hẹp và nhỏ, đó là ngôi nhà của một bậc hiền triết.

Ngôi nhà có ba căn phòng rộng ở tầng trệt, trên lầu một có bốn phòng, có một tầng trên cùng và mấy căn phòng ở tầng áp mái dành cho gia nhân. Toàn bộ ngôi nhà toát lên vẻ vô tâm của một người đã rút khỏi cuộc sống nhốn nháo ngoài kia để thu mình trong cuộc sống riêng từ mấy năm nay, không còn coi trọng bất cứ vật gì. Đồ đạc, một thời là những đồ rất đẹp, nay đã xuống cấp, cũ kĩ và không được tân trang. Các đường chỉ của những đồ đạc lớn đã bị bong, đồng hồ treo tường không còn chỉ đúng giờ, vải bọc đệm ghế bành nhiều chỗ bị sờn hở cả sợi canh, nắng gió đã làm nhiều chỗ rèm cửa bị bạc màu.

Chỉ có phòng đọc sách là cho thấy có sự chăm sóc hàng ngày. Trên những tấm giá kệ rộng làm bằng gỗ sồi chạm trổ, các tập sách phô bày những chiếc bìa bằng da thuộc có vân vàng. Một tấm kệ nhỏ di động gần lò sưởi dùng để kê những cuốn sách ưa thích của Cha Plantat, chúng giống như những người bạn thầm kín cho cảnh cô đơn của ông.

Căn nhà kính rộng mênh mông, cực kì sang trọng, được sắp xếp tuyệt vời, với sự hoàn hảo thuộc kiểu mới nhất có thể hình dung được, là tài sản xa xỉ duy nhất của ông Thẩm phán hòa giải. Ở đó, trong những chiếc thùng đựng đất mùn đã được rây kĩ càng, ông gieo những cây hoa thuốc lá cảnh vào mùa xuân. Ở đây có những cây xứ lạ mà Laurence thích đem về trồng đầy trong những chiếc thùng hoa. Ở đây có 137 loài cây thạch thảo nở hoa.

Trong nhà có hai gia nhân sinh sống, đó là bà góa Petit có nhiệm vụ nấu ăn, quản gia và một người làm vườn thiên tài tên là Louis. Sở dĩ những người này không dám làm cho căn nhà ồn ào vui vẻ vì Cha Plantat không hề nói chuyện và ghét nghe tiếng nói chuyện. Tại nhà ông, im lặng là quy định bắt buộc.

Ôi, đối với bà Petit thì điều đó thật là khó khăn, nhất là trong những ngày đầu. Bà là người hay nói chuyện, đến mức khi không có ai để chuyện trò thì, vì tuyệt vọng, bà bắt đầu xưng tội, mà xưng tội cũng là nói chuyện.

Có mấy chục lần bà suýt bỏ việc, cũng là mấy chục lần ý nghĩ về quyền lợi được đảm bảo gần như lương thiện và hợp pháp đã giữ bà lại. Thế rồi, ngày qua ngày, dần dần bà đã quen với việc phải chế ngự cái lưỡi nổi loạn của mình để thích nghi với sự im lặng như trong tu viện này.

Nhưng con quỷ trong bà thì không chịu thua. Bà liền trả thù ở bên ngoài cho sự thiếu thốn trong nhà, bà sang hàng xóm để gỡ lại thời gian bỏ phí trong nhà. Không phải vô cớ mà bà được coi là một trong những người hay nói ngồi lê đôi mách nhất của xã Orcival. Có thể nói bà luôn là người khơi chuyện.

Thế nên người ta dễ dàng hiểu được con tức giận của bà Petit vào cái ngày định mệnh khi ông bà bá tước Trémorel bị sát hại.

Khoảng 11 giờ, sau khi hỏi han tình hình, bà đã chuẩn bị xong bữa sáng mà vẫn không thấy ông chủ.

Bà đã đợi 1 tiếng, 2 tiếng, rồi 5 tiếng đồng hồ, trong khi vẫn để nước sôi để chần trứng; mà vẫn không thấy ông chủ.

Bà định sai ông Louis đi kiếm ông chủ, nhưng ông này cũng mải mê như những người khác, ít hỏi han chuyện trò, nên muốn bà đích thân đi tìm. Và khổ thêm là ngôi nhà đã bị bao vây bởi những người hàng xóm tưởng rằng bà Petit biết rõ mọi chuyện nên đã đến hỏi thăm. Thế mà chẳng có tin gì để nói cho họ.

Đến khoảng 5 giờ chiều, quyết định bỏ bữa sáng, bà quay sang chuẩn bị bữa tối. Mà để làm gì cơ chứ? Khi mà tháp chuông đẹp của nhà thờ Orcival điểm 8 tiếng vẫn không thấy ông chủ về nhà. Đến 9 giờ, bà phát khùng lên, rồi vừa bồn chồn lo lắng bà vừa lớn tiếng la mắng ông Louis lâm lì vừa tưới vườn xong đang ngồi ăn ngốn ngấu đĩa súp đầy với vẻ mặt u sầu.

Một tiếng chuông cửa cắt ngang lời bà. Bà vội reo lên:

- Ôi, cuối cùng ông chủ đã về!

Nhưng không, không phải ông chủ. Đó là một cậu bé khoảng 12 tuổi được ông Thẩm phán sai về báo cho bà Petit biết rằng ông đang chuẩn bị về và dẫn theo hai vị khách sẽ ăn tối và ngủ lại.

Thế là bà đầu bếp kiêm quản gia suýt ngã ngửa.

Vì từ 5 năm nay, đây là lần đầu tiên Cha Plantat mời ai đó ăn tối. Lời mời này chắc phải che giấu những điều lạ lùng lắm đây. Nghĩ thế, cơn giận của bà Petit tăng lên gấp đôi cùng với nỗi tờ mò.

- Ra lệnh cho tôi làm cơm tối vào giờ này đây! - Bà càu nhàu - Tôi xin hỏi như thế có đúng lẽ thường không?

Rồi, nghĩ là thời gian đang gấp gáp, bà nói tiếp với ông làm vườn:

- Nào, ông Louis, giờ không phải lúc ngồi ung dung như thế đâu. Động chân động tay đi ông bạn, phải vặn cổ ba con gà. Ông ra nhà kính xem có quả nho chín nào không, đem cho tôi mấy thứ đồ hộp, ông xuống hầm nhanh lên!

Bữa tối đang được chuẩn bị thì lại có tiếng chuông cửa. Lần này là anh chàng Baptiste, gia nhân của ông Xã trưởng Orcival. Với vẻ rất khó chịu, anh ta đem đến chiếc túi ngủ của ông Lecoq.

- Này, - Anh ta nói với bà quản gia - cái gã đi với ông chủ của bà bắt tôi đem thứ này đến.

- Gã nào?

Anh chàng gia nhân, người “không ai dám la mắng”, vẫn còn đau cánh tay vì cú bóp của ông Lecoq. Anh ta đang hận ông ta ghê lắm.

- Tôi biết sao được? - Anh ta đáp - Tôi nghe nói đó là gã mật thám do Paris cử về để điều tra vụ án Valfeuillu. Có lẽ là một gã chẳng mấy tử tế gì, một kẻ mất dạy, thô bạo... Và chải chuốt.

- Nhưng ông ta không đi một mình với ông chủ chứ?

- Không. Có cả bác sĩ Gendron nữa.

Bà Petit đang nóng lòng muốn biết thêm tin tức từ anh chàng Baptiste, nhưng anh này cũng đang nóng ruột muốn quay về xem ông chủ thế nào nên đi ngay không nói thêm gì. Lại một tiếng đồng hồ nữa trôi qua, bà Petit đang tức giận tuyên bố với ông Louis rằng bà vừa định quăng bữa tối qua cửa sổ thì ông Thẩm phán hòa giải xuất hiện, theo sau là hai vị khách.

Từ lúc rời khỏi nhà ông Xã trưởng, họ không nói chuyện với nhau. Sau những chấn động ban chiều khiến họ ít nhiều hoang mang, họ cảm thấy cần phải suy nghĩ, phải trấn tĩnh và lấy lại bình tĩnh.

Vì thế khi họ bước vào phòng ăn, bà Petit cố công thăm dò vẻ mặt của ông chủ và hai vị khách nhưng họ chẳng cho bà thấy gì. Nhưng bà không đồng tình với ý kiến của anh chàng Baptiste, bà thấy ông Lecoq có vẻ hiền từ và hơi ngốc nghếch.

Bữa ăn tối chắc hẳn phải ít im lặng hơn lúc đi đường, nhưng, với một thỏa thuận ngầm, cả ba nguời đều tránh không nói bóng gió gì đến những sự kiện trong ngày. Nhìn họ bình thản trao đổi với nhau những chuyện không quan trọng, người ta không thể ngờ họ vừa mới là nhân chứng, gần như là những diễn viên, của tấn bi kịch bí hiểm tại lâu đài Valfeuillu. Thực ra thỉnh thoảng cũng có một câu hỏi đưa ra mà không được trả lời, đôi khi cũng có lời đáp muộn mằn, nhưng không hề lộ ra cảm giác hoặc suy nghĩ ẩn chứa đằng sau những câu trao đổi nhạt nhẽo.

Ông Louis, khi ấy đã mặc một bộ áo vét sạch sẽ, đi lại sau lưng các thực khách, với chiếc khăn ăn màu trắng vắt trên tay, vừa xắn thức ăn vừa phục vụ đồ uống. Bà Petit bê các món ăn ra, đi lại đến ba lần trong khi đáng ra chỉ cần một lần, tai dỏng lên nghe ngóng, luôn để cửa mở khi có thể.

Tội nghiệp cho bà quản gia! Bà đã ứng biến một bữa tối thịnh soạn, vậy mà chẳng ai để ý. Tất nhiên, ông Lecoq không coi thường những món ăn ngon, những món rau quả đầu mùa thật hấp dẫn, vậy mà, khi ông Louis đặt lên bàn giỏ nho vàng óng tuyệt vời - vào ngày 9 tháng 7 này - cái miệng tham lam của ông vẫn chẳng hé một nụ cười.

Bác sĩ Gendron tỏ ra lúng túng không nói được mình đã ăn cái gì.

Bữa tối kết thúc, Cha Plantat bắt đầu thấy khổ sở vì phải kiềm chế do sự có mặt của gia nhân. Ông gọi bà quản gia:

- Bà đem cà phê đến thư phòng cho chúng tôi nhé, rồi hai người có thể lui.

- Nhưng hai ông khách có thể chưa biết phòng ngủ. - Bà Petit nói xa xôi, bởi lẽ lời đề nghị như ra lệnh của ông chủ đang làm hỏng ý đồ theo dõi của bà - Có thể họ cần cái gì đó.

- Tôi sẽ chỉ phòng cho họ, - Ông Thẩm phán hòa giải xẵng giọng đáp - và nếu họ cần gì thì đã có tôi.

Cần phải nghe lời ông thôi, rồi ba người sang thư phòng. Khi đó Cha Plantat cầm hộp xì gà London đưa cho các vị khách:

- Tôi cho là hút một điếu xì gà trước khi đi ngủ sẽ khỏe người.

Ông Lecoq rút một điếu xì gà vàng nhất và đẹp nhất, rồi châm lửa xong ông nói:

- Các ngài có thể đi nằm, tôi thấy mình buộc phải thức trắng đêm. Trước khi bắt đầu viết báo cáo, tôi phải xin ngài Thẩm phán mấy điều chỉ dẫn.

Cha Plantat nghiêng đầu ra hiệu đồng ý.

- Chúng ta cần phải thâu tóm lại, - Vị nhân viên an ninh nói tiếp - và phải thống nhất các nhận xét của chúng ta. Mọi sự soi sáng vẫn không quá thừa để chúng ta có thể làm sáng tỏ thêm cho vụ án này, một trong những vụ án mờ ám nhất từ lâu tôi mới gặp. Tình hình có vẻ nguy hiểm mà thời gian thì gấp gáp. Số phận nhiều người vô tội đang phụ thuộc vào trình độ thành thạo của chúng ta, những lời buộc tội họ đang tỏ ra đầy đủ hơn cả để bất cứ ban bồi thẩm nào cũng có thể ra phán quyết: “Có tội”. Chúng ta có một hệ thống lý lẽ, nhưng ông Domini cũng có hệ thống của mình và hệ thống của ông ấy được dựa trên các sự kiện có thật, trong khi lý lẽ của chúng ta chỉ căn cứ vào những cảm giác rất đáng tranh luận.

- Chúng ta có những thứ nhiều hơn cảm giác, thưa ông Lecoq. - Ông Thẩm phán đáp.

- Tôi cũng nghĩ như ngài, - Ông bác sĩ đồng tình -nhưng ta vẫn còn phải chứng minh.

- Và tôi sẽ chứng minh, thật quái quỷ. - Ông Lecoq hào hứng đáp - Đây là một vụ án phức tạp, khó khăn. Càng tốt! Thế đấy, nếu nó đơn giản, tôi đã quay về Paris rồi và ngày mai tôi sẽ cử người của tôi đến cho các vị. Tôi thường dành những câu đố dễ cho đám đàn em. Đối với tôi, cái tôi cần là bài toán bí hiểm không thể giải được để tôi được thử thách; đấu sức là để cho tôi tỏ rõ trình độ; điều cản trở là để cho tôi chiến thắng.

Cha Plantat và ông bác sĩ không còn nhận ra viên cảnh sát. Ông như đang bị biến dạng. Ông vẫn là con người ấy, với mái tóc và bộ râu quai nón màu vàng hoe, với chiếc áo đuôi tôm của một đại gia, nhưng cái nhìn, giọng nói, diện mạo, thậm chí cả nét mặt của ông, đã thay đổi. Mắt ông lóe lên những tia lửa, giọng nói âm vang như chuông ngân, cử chỉ hách dịch khẳng định sự táo tợn trong suy nghĩ và sức mạnh quyết đoán của ông.

- Thưa các ngài, - Ông nói tiếp - chắc các ngài nghĩ là với vài nghìn franc tiền lương như của tôi thì không nên làm cảnh sát. Nếu không có năng khiếu thì chỉ là kẻ tầm thường như vậy thôi. Các ngài thấy đấy, năm 20 tuổi, sau khi học hành chăm chỉ xong, tôi đã làm công việc tính toán cho một nhà thiên văn học. Đó cũng là một địa vị xã hội. Ông chủ trả cho tôi 70 franc mỗi tháng cộng với bữa sáng. Nhờ đó tôi đã có thể ăn mặc chỉn chu và tính được những con số không biết bao nhiêu mét vuông mỗi ngày.

Ông Lecoq vội rít mấy hơi thuốc xì gà, tò mò quan sát cha Plantat. Rồi ông nhanh chóng nói tiếp:

- Vậy là, các ngài hãy tưởng tượng rằng tôi lại không thấy mình là người hạnh phúc nhất. Đó là vì tôi quên không nói với các ngài rằng mình có hai tật xấu nhỏ: phụ nữ và cờ bạc. Chẳng ai hoàn hảo cả. 70 franc của nhà thiên văn học không thể đủ cho tôi và trong khi sắp hàng tính toán các cột chữ số, tôi luôn nghĩ cách làm giàu cho ngày hôm sau. Tóm lại là chỉ có một cách: chiếm đoạt tài sản của nguời khác một cách đủ khôn khéo mà vẫn ăn ngon ngủ yên được. Đó là điều mà tôi suy nghĩ từ sáng đến tối. Đầu óc tôi có khả năng tính toán nhiều mưu mẹo, mở ra cho tôi hàng trăm mưu đồ mà cái sau khả thi hơn cái trước. Các ngài sẽ hoảng sợ nếu tôi chỉ kể một nửa những gì tôi đã hình dung ra trong thời gian đó. Các ngài thấy đấy, nếu mà có nhiều kẻ cắp thuộc trình độ như tôi, chắc là người ta sẽ phải xóa bỏ cái từ “quyền sở hữu” ra khỏi từ điển đi. Sự thận trọng cũng như két sắt sẽ trở nên vô ích. Rất may cho những người có tài sản là bọn kẻ gian thường ngu ngốc. Bọn kẻ cắp Paris - thủ đô của trí tuệ - vẫn còn có thói ăn cắp theo kiểu Mỹ và theo kiểu trộm vặt, thật đáng xấu hổ!

Anh ta định nói gì đây? Bác sĩ Gendron tự hỏi.

Rồi ông lần lượt quay sang dò xét Cha Plantat đang tỏ ra chăm chú như bận suy tư, rồi nhìn sang vị nhân viên an ninh khi ấy đang tiếp tục nói:

- Một hôm, chính tôi cũng thấy sợ những ý nghĩ của mình. Tôi vừa phát minh ra một phép tính có thể nẫng 200.000 franc của bất cứ nhà băng nào, không hề nguy hiểm và dễ dàng như nẫng tách cà phê này. Đến mức tôi tự nhủ, anh bạn ơi, cứ để sự việc này diễn ra một chút đi, sẽ đến lúc từ ý tưởng anh sẽ nghiễm nhiên bước ra pháp trường đó.

Thế nên, may mắn là với bản tính lương thiện và dứt khoát quyết tâm sử dụng những kĩ năng mà bản tính đó ban cho, 8 ngày sau tôi đã cảm ơn nhà thiên văn học của tôi để xin vào làm ở Sở Cảnh sát. Vì sợ sẽ thành kẻ cắp, tôi đã trở thành một nhân viên an ninh.

- Thế ông có hài lòng với sự đổi nghề này không? -Ông bác sĩ Gendron hỏi.

- Thưa ngài, quả thực ban đầu tôi vẫn còn hối tiếc. Tôi đang sống hạnh phúc, bởi vì được tự do sử dụng hữu ích năng lực tính toán và suy luận của mình. Cuộc đời đối với tôi có một sức lôi cuốn khổng lồ, bởi vì trong tôi vẫn còn một đam mê lấn át mọi thứ: đó là tính ham hiểu biết. Tôi là người ham hiểu biết.

Người nhân viên an ninh nở một nụ cười. Ông đang nghĩ đến cái nghĩa hai mặt của từ “ham hiểu biết”. Ông nói tiếp:

- Có những người rất mê xem hát. Sự ham mê này cũng có phần giống như của tôi. Chỉ có điều, tôi không hiểu tại sao người ta lại thích thú xem những chuyện tưởng tượng thảm hại mà so với cuộc sống sinh động chúng chẳng khác gì ngọn đèn dầu so với mặt trời. Tôi thấy việc quan tâm đến những tình cảm ít nhiều được thể hiện tốt nhưng chỉ là hư cấu là một thói quen gớm ghiếc. Sao! Anh khóc cho số phận buồn thảm của một nữ diễn viên tội nghiệp uống thuốc độc tự tử, trong khi ra khỏi nhà hát anh có thể gặp cô ta trên đường phố! Thật đáng thương!

- Vậy hãy đóng cửa các nhà hát đi! - Ông bác sĩ Gendron thì thầm.

- Là người khó tính hay chán chường hơn so với công chúng, - Ông Lecoq nói tiếp - đối với tôi, tôi cần những chuyện hài kịch thực sự hoặc những tấn kịch có thật. Xã hội chính là sân khấu của tôi. Các diễn viên của tôi có tiếng cười thẳng thắn hoặc khóc với những giọt nước mắt có thực. Một án mạng xảy ra là màn dạo đầu của vở kịch. Khi tôi xuất hiện thì màn thứ nhất bắt đầu. Bằng một cái liếc mắt, tôi đã nắm được những chi tiết nhỏ nhất của công việc đạo diễn. Sau đó tôi tìm cách thâm nhập vào động cơ của án mạng, tập hợp các nhân vật, gắn các trường đoạn với sự kiện chính, nối tất cả các tình tiết lại. Đó chính là màn trình bày.

Chẳng bao lâu hành động của vở kịch trở nên phức tạp, sợi dây lập luận quy nạp dẫn tôi đến với kẻ có tội, tôi đoán ra nó, tôi bắt nó và tôi giao nộp nó.

Khi đó xuất hiện một cảnh diễn lớn, bị can vùng vẫy, dùng mưu để thay đổi diễn biến điều tra. Nhưng, được trang bị bằng những vũ khí mà tôi đã rèn giũa, ông Thẩm phán điều tra tấn công dồn dập làm hắn luống cuống; hắn chưa thú nhận, nhưng đã bị lung lấy.

Và xung quanh nhân vật chính này có biết bao nhân vật phụ, đó là những kẻ tòng phạm, những kẻ xúi giục, những người bạn, những kẻ thù, các nhân chứng! Kẻ thì ghê gớm, đáng sợ, u sầu, kẻ thì lố lăng, kệch cỡm. Và các ngài sẽ không biết được cái hài lố bịch ở bên trong cái khủng khiếp.

Đến phiên tòa đại hình, cảnh diễn cuối cùng trong vở kịch của tôi. Công tố viên buộc tội, nhưng chính tôi là người cung cấp các lý lẽ. Các câu văn của công tố viên chỉ là những đường nét thếu thùa thêm cho dàn ý báo cáo của tôi. Ông chánh án đặt câu hỏi cho các bồi thẩm, thật là cảm động! Đó là lúc số phận vở kịch của tôi được định đoạt. Nếu bồi thẩm đoàn trả lời: ‘Không!’, tức là vở kịch của tôi dở, tôi sẽ bị huýt sáo la ó. Trái lại, nếu họ trả lời: ‘Có!’, tức là vở kịch của tôi hay, người ta sẽ vỗ tay hoan hô, tôi thành công.

Đấy là chưa tính đến chuyện ngày hôm sau tôi có thể tôi thăm diễn viên chính, vỗ vai anh ta nói: “Anh thua rồi, anh bạn, tôi mạnh hơn anh!”

Chính lúc này, liệu có phải ông Lecoq đang thực tâm nghĩ như vậy hay là đang diễn kịch! Mục đích của màn tự truyện này là gì?

Không tỏ ra chú ý đến vẻ ngạc nhiên của hai người kia, ông rút điếu xì gà thứ hai rồi ho lên trên chiếc chao đèn châm lửa. Rồi, hoặc có tính toán, hoặc do vô ý, ông đặt chiếc đèn lên góc lò sưởi thay vì để nó lại chỗ cũ trên bàn. Bằng cách đó, nhờ có cái chao đèn mà khuôn mặt của Cha Plantat hoàn toàn nằm trong khoảng sáng, trong khi đó khuôn mặt của vị nhân viên an ninh, vì ông vẫn đứng, lại chìm trong bóng tối.

- Tôi phải thú nhận không chút khiêm tốn giả tạo, - Ông nói tiếp - rằng tôi hiếm khi bị huýt sáo la ó. Tuy nhiên tôi không đến mức tự phụ như người ta nghĩ. Như tất cả mọi người, tôi cũng có gót chân Asin. Tôi đã thắng con quỷ cờ bạc, nhưng không thắng được nỗi đam mê đàn bà.

Ông trút một tiếng thở dài kèm theo cử chỉ cam chịu buồn rầu của những người đành phải ra quyết định.

- Thế đấy. Có một người đàn bà mà đối với nàng tôi chỉ là kẻ ngu xuẩn. Vâng, tôi đây, một nhân viên an ninh, nỗi khiếp đảm của lũ kẻ cắp và bọn sát nhân, một kẻ đã khám phá được mọi mưu mô của lũ bất lương khắp thế giới, kẻ mà từ mười năm nay ngụp lặn trong những thói hư tật xấu, trong tội ác, kẻ giặt quần áo bẩn cho bọn tham nhũng, kẻ đã đo được độ sâu bỉ ổi của con người, kẻ biết tất cả, nhìn thấy tất cả, hiểu biết tất cả. Đó là tôi, Lecoq, kẻ mà cuối cùng đối với nàng còn đơn giản và ngây thơ hơn cả một đứa trẻ. Nàng đã lừa tôi, tôi biết, nàng đã chứng minh cho tôi thấy tôi đã sai. Nàng nói dối, tôi biết, tôi đã chứng minh cho nàng điều đó... Vậy mà tôi lại tin nàng.

- Có những nỗi đam mê, - Ông hạ giọng nói thêm với vẻ buồn rầu - mà tuổi tác chỉ càng khơi chúng cháy bùng lên chứ không hề dập tắt được, những nỗi đam mê mà cảm giác xấu hổ và bất lực làm cho chúng có sự chua chát khủng khiếp. Ta yêu và cảm giác thấy mình không thể được yêu là một trong những nỗi đau mà ta phải trải nghiệm mới thấy được tầm cỡ to lớn của nó. Những lúc tỉnh táo, ta tự xem lại mình và tự phán xét. Ta nói: không, không thể như thế được, nàng gần như là một đứa trẻ còn ta gần như là một ông già. Ta tự nhủ như thế, nhưng trong thâm tâm, có một thứ vẫn còn mạnh hơn lý trí, mạnh hơn ý chí, hơn cả sự trải nghiệm, đó là đốm lửa hy vọng vẫn tồn tại dai dẳng. Ta lại tự nhủ: Biết đâu đấy? Có thể lắm! Ta chờ đợi cái gì? Một phép màu chăng? Chẳng có phép màu nào cả. Nhưng kệ, ta cứ hy vọng.

Ông Lecoq ngừng lời, như thể con xúc động đã ngăn không cho ông nói tiếp.

Cha Plantat nãy giờ vẫn tiếp tục bình tĩnh hút xì gà, nhả từng ngụm khói đúng kiểu cách, nhưng khuôn mặt ông để lộ vẻ đau khổ khó tả, con mắt ẩm ướt nhìn lung linh, hai bàn tay run rẩy. Ông đứng dậy cầm cây đèn trên lò sưởi đặt lên mặt bàn rồi lại ngồi xuống ghế.

Cuối cùng thì ý nghĩa của màn độc thoại này cũng lóe lên trong đầu ông Gendron.

Trên thực tế, trong khi không lảng tránh sự thật, vị nhân viên an ninh vừa thử làm một trong những thí nghiệm nham hiểm trong danh mục hài kịch của mình và ông không cần đẩy nó đi xa hơn nữa. Từ nay ông đã biết cái cần biết. Sau một lúc im lặng, ông Lecoq rùng mình như vừa ra khỏi cơn mơ, rồi rút đồng hồ ra xem và nói:

- Chết tiệt! Tôi ngồi đây để ba hoa, trong khi thời gian cứ trôi đi.

- Còn Guespin thì ở trong tù. - Ông bác sĩ lưu ý.

- Chúng ta sẽ kéo anh ta ra, thưa ngài. - Vị nhân viên an ninh đáp - Tuy nhiên nếu anh ta vô tội, bởi lẽ tôi đã nắm vụ án của tôi, đó là một cuốn tiểu thuyết của tôi nếu các ngài muốn nói như vậy, sẽ không có lỗ hổng nhỏ nhất nào. Tuy nhiên có một sự việc quan trọng hàng đầu mà riêng tôi không thể giải thích nổi.

- Sự việc nào? - Cha Plantat hỏi.

- Liệu bá tước Trémorel có lợi lộc lớn nào nếu tìm thấy một vật gì đó, như là một chứng thư, một bức thư, một tờ giấy, một vật mỏng mảnh, được giấu trong chính nhà mình không?

- Phải, - Ông Thẩm phán đáp - điều đó có thể lắm.

- Đó là điều mà tôi cần có sự chắc chắn. - Ông Lecoq nói.

Cha Plantat suy nghĩ một lát rồi đáp:

- Vậy thì thế này đây, tôi biết chắc chắn, hoàn toàn chắc chắn rằng nếu bà Trémorel bị chết đột ngột thì ông bá tước sẽ đào bới cả ngôi nhà lên để tìm một tờ giấy mà ông ta biết nó thuộc sở hữu của vợ mình và chính tôi lại có nó trong tay.

- Thế thì, - Ông Lecoq nói tiếp - vở kịch là thế này. Khi bước vào lâu đài Valfeuillu, tôi, cũng như các ngài, đã bị sốc bởi cảnh lộn xộn gớm ghiếc của căn nhà. Cũng như các ngài, ban đầu tôi cũng nghĩ rằng cảnh lộn xộn này đơn giản chỉ là làm trò. Nhưng tôi đã nhầm. Xem xét kĩ hơn tôi đã thấy rõ. Đúng là kẻ giết người đã phá vỡ mọi thứ, đập vỡ đồ đạc, đâm rách ghế bành, để làm người ta tin rằng đó là hành động của một băng cướp hung dữ. Nhưng đằng sau những hành vi phá hoại có chủ ý này, tôi đã theo dõi thấy được những dấu vết vô tình của một cuộc khám xét chính xác, tỉ mỉ, thậm chí là kiên nhẫn.

Chẳng phải sự thật là mọi cái tỏ ra bị cướp phá hú họa đó sao? Chúng dùng rìu chặt phá những đồ đạc mà đáng ra có thể mở được bằng tay, chúng phá các ngăn kéo tủ không bị khóa hoặc là chìa khóa vẫn cắm trong ổ, thế có phải điên không? Không! Bởi vì, trên thực tế, không còn chỗ nào có thế giấu bức thư mà chưa bị lục soát. Ngăn kéo của nhiều món đồ gỗ nhỏ đã bị vứt vương vãi, nhưng những khoảng trống hẹp nằm giữa rãnh ngăn kéo và thân đồ gỗ đã được xem xét kĩ, tôi đã có bằng chứng khi lấy được dấu vân tay in trên lớp bụi tích tụ tại những chỗ đó. Các cuốn sách nằm lăn lóc trên sàn nhà, nhưng tất cả đều được giũ tung tóe, một số cuốn bị giũ mạnh đến long cả bìa. Chúng ta đã thấy các tấm ván kệ trên mặt lò sưởi đều đặt đúng chỗ, nhưng tất cả đã được nhấc lên để xem xét. Người ta không rạch ghế bành chỉ để thỏa mãn niềm vui thú xé vải, mà muốn lục tìm cái gì đó bên trong ghế ngồi.

Niềm tin chắc chắn về cuộc khám xét gắt gao trước tiên đã làm lung lấy những nghi ngờ của tôi. Vì khi đó tôi đã tự nhủ: bọn kẻ gian này tìm tiền bạc bị cất giấu, nghĩa là chúng không phải người nhà.

- Nhưng, - Ông bác sĩ nhận xét - người ta có thể ở cùng nhà mà vẫn không biết chỗ cất giấu đồ quý giá, chẳng hạn như tay Guespin...

- Xin phép cho tôi được giải thích, - Ông Lecoq ngắt lời - mặt khác tôi đã tìm thấy những dấu hiệu cho thấy kẻ giết người chỉ có thể là người có quan hệ đặc biệt với bà Trémorel, như một người tình, hoặc người chồng. Đây là ý kiến của tôi lúc đó.

- Thế còn bây giờ?

- Đến lúc này, - Vị nhân viên an ninh đáp - với niềm tin rằng kẻ gian đã lục tìm thứ khác chứ không phải đồ quý giá, tôi gần như tin rằng thủ phạm chính là người mà chúng ta đang đi tìm cái xác: bá tước Hector de Trémorel.

Cái tên này, cả ông bác sĩ Gendron lẫn Cha Plantat đều đã đoán ra, nhưng chưa ai dám bày tỏ nghi ngờ. Họ đang chờ đợi cái tên Trémorel, thế nhưng khi nó được phát ra như thế này, vào nửa đêm, trong căn phòng rộng lớn u ám, bởi một nhân vật cũng có vẻ kì cục, đã khiến họ rùng mình với vẻ kinh hãi khó tả.

- Xin các ngài chú ý cho, - Ông Lecoq nói tiếp - tôi nói là: Tôi tin. Quả thật đối với tôi, tội ác của ông bá tước vẫn chỉ là khả năng rất có thể xảy ra. Hãy xem xem liệu ba chúng ta có đi đến chung một niềm tin không. Thưa các ngài, các ngài thấy đấy, điều tra một vụ án không phải cái gì khác ngoài lời giải đáp cho một vấn đề. Tội ác xảy ra vẫn luôn tồn tại rõ ràng ở đó, ta bắt đầu bằng việc xem xét tất cả các tình tiết nghiêm trọng hoặc phù phiếm, các chi tiết và các đặc điểm riêng biệt. Khi chúng đã được thu thập cẩn thận, ta phải phân loại, sắp xếp chúng có trật tự và theo thời gian. Như thế ta sẽ biết được nạn nhân, tội ác và các tình tiết, cái còn lại phải tìm ra là đối tượng thứ ba, là ẩn số “x”, là cái chưa biết, tức thủ phạm. Đây là việc khó, nhưng không đến mức như người ta tưởng. Vấn đề là phải tìm được một người mà tội của anh ta có thể giải thích được tất cả tình tiết, đặc điểm đã thu lượm được - tất cả, các ngài nghe rõ tôi nói rồi đấy. Chúng ta đã gặp con người này rồi, rất có khả năng - và chín phần mười khả năng biến thành hiện thực - là chúng ta nắm được thủ phạm. Thưa các ngài, ông Tabaret, thầy tôi, cũng là thầy của mọi người, đã làm như vậy, cả đời ông chỉ nhầm lẫn ba lần.

Lời giải thích của ông Lecoq quá rõ ràng, chứng minh quá logic, đến nỗi ông Thẩm phán già và ông bác sĩ không thể kìm được tiếng reo thán phục:

- Rất hay!

- Vậy chúng ta hãy cùng nhau xem xét. - Vị nhân viên an ninh nghiêng mình đáp lễ rồi nói tiếp - Chúng ta hãy xem xem liệu cái tội ác giả định của ông bá tước Trémorel có giải thích được cho vụ án Valfeuillu không.

Ông định nói tiếp thì bác sĩ Gendron ngồi bên cửa sổ liền đứng bật dậy nói:

- Có người đi ngoài vườn!

Mọi người bước lại chỗ ông. Thời tiết lúc đó thật tuyệt, đêm rất trong lành, một khoảng không thoáng đãng trải dài trước cửa sổ, mọi người nhìn ra nhưng không thấy ai. Ông Lecoq nói tiếp:

- Vậy là chúng ta giả định, thưa các ngài, với các sự kiện mà sau này chúng ta sẽ phải tìm kiếm, rằng ông Trémorel đã phải tống khứ bà vợ của mình đi. Tội ác đã quyết, rõ ràng ông bá tước đã phải suy tính và tìm các cách để thực hiện tội ác mà không bị trừng phạt, phải cân nhắc các hậu quả và đánh giá mọi nguy hiểm. Chúng ta cũng phải công nhận rằng các sự kiện dẫn đến quyết định cực đoan này chắc phải làm cho ông ta sợ bị quay rối và lo sợ đến những việc điều tra cuối cùng ngay cả khi vợ ông ta chết một cách tự nhiên.

- Đó chính là sự thật. - Ông Thẩm phán hòa giải tán đồng.

- Vậy là ông Trémorel đã đi đến quyết định giết vợ mình một cách tàn nhẫn, bằng những cú dao đâm, với ý định sắp đặt Sự việc để người ta tin rằng cả ông ta cũng bị sát hại, để hướng sự nghi ngờ vào một kẻ vô tội, hoặc ít nhất vào một kẻphạm rất ít khả năng có tội hơn ông ta. Bằng cách lựa chọn lập luận này, ông ta đã đành tính trước là sẽ biến mất, sẽ bỏ chạy, sẽ lẩn trốn, sẽ đánh đổi danh tính để, nói ngắn gọn, sẽ thủ tiêu bá tước Hector de Trémorel để làm lại hộ tịch mới dưới cái tên khác. Những giả định bước đầu đó, rất có khả năng được chấp nhận, cũng đủ để giải thích một loạt tình tiết thoạt nhìn có vẻ không dung hòa với nhau. Trước tiên chúng giải thích tại sao, chính vào đêm xảy ra án mạng, tại lâu đài Valfeuillu người ta đã nhìn thấy một món tài sản lớn. Và tôi thấy cái đặc điểm riêng này có ý nghĩa quyết định. Quả thực, khi người ta nhận những món đồ có giá trị lớn để cất giữ trong nhà, thông thường càng cố che giấu kĩ được càng tốt. Nhưng ông Trémorel đã không có sự thận trọng sơ đẳng đó. Ông ta đã để cho mọi người nhìn thấy những bó tiền lớn, lật giỏ, bày biện chúng ra, đám gia nhân đã nhìn thấy, gần như chạm tay vào chúng; ông ta muốn mọi người biết rõ và truyền tai nhau rằng ông ta đang có khoản tiền lớn, dễ lấy, dễ đem đi, dễ cất giấu. Và ông ta đã chọn thời điểm nào để tỏ ra vô tình bày biện bất cẩn như vậy? Đó chính là thời điểm khi ấy ông biết và mọi người xung quanh đều biết ông sẽ qua đêm một mình với bà Trémorel. Ông biết rõ đám gia nhân đã được mời đi ăn cưới nhà chị Denis đầu bếp cũ vào tối ngày 8 tháng 7. Ông cũng khó quên rằng chính mình đã tiêu pha cho đám cưới và chọn ngày cưới khi chị Denis dẫn chồng tương lai đến ra mắt ông bà chủ cũ.

Có thể các ngài sẽ nói rằng cái món tiền lớn này- mà một trong các cô hầu phòng đã đánh giá là rất lớn - đã được tình cờ gửi đến lâu đài Valfeuillu đúng vào hôm trước ngày xảy ra án mạng. Ít ra thì ta có thể chấp nhận như vậy. Tuy nhiên, xin các ngài hãy tin tôi, đây không phải tình cờ, tôi sẽ chứng minh điều đó. Ngày mai chúng ta sẽ có mặt tại nhà băng ông Trémorel đã gửi tiền để hỏi ông chủ nhà băng xem có phải ông bá tước đã yêu cầu, bằng văn bản hay nói miệng, gửi cho ông ta số tiền mặt vào đúng ngày 8 tháng 7 không. Vậy, thưa các ngài, nếu ông chủ nhà băng khẳng định điều này, nếu ông ấy đưa ra một bức thư, hoặc thề danh dự rằng ông bá tước đã yêu cầu bằng miệng, thì, các ngài sẽ phải công nhận lý lẽ của tôi có sự chắc chắn hơn là giả định.

Cha Plantat và ông bác sĩ cùng gật đầu đồng ý.

- Vậy là, - Vị nhân viên an ninh hỏi - các vị không có gì phản bác?

- Không hề. - Ông Thẩm phán hòa giải đáp.

- Những lập luận sơ bộ của tôi, - Ông Lecoq nói tiếpcòn có lợi là làm sáng tỏ được tình cảnh của anh chàng Guespin. Nói thực, thái độ của anh ta thật ám muội và càng chứng minh cho việc bắt anh ta là đúng. Liệu anh ta có nhúng tay vào tội ác, hay hoàn toàn vô tội, đó là điều mà chúng ta không thể quả quyết được, bởi vì tôi chưa tìm thấy dấu hiệu nào chỉ lối cho chúng ta. Có điều chắc chắn anh ta đã bị sa vào chiếc bẫy được sắp đặt rất khéo. Khi chọn anh ta làm nạn nhân, ông bá tước đã chuẩn bị rất kĩ các biện pháp để khiến mọi nghi ngờ của một cuộc điều tra sơ sài sẽ hướng vào anh ta. Tôi có thể đánh cược rằng, vì biết rõ cuộc đời của anh chàng khốn nạn này, ông Trémorel không phải không có lý do để nghĩ rằng các vụ tiền sự của anh ta sẽ góp thêm vào khả năng giống như thật của cáo trạng và đặt sức nặng khủng khiếp lên cán cân công lý. Ông ta tự nhủ rằng cũng có thể tay Guespin chắc chắn sẽ thoát tội, nhưng ông ta chỉ muốn tranh thủ thời gian để tránh một cuộc điều tra bước đầu bằng cách làm thay đổi tình tiết. Chúng ta, những người điều tra luôn chú ý đến các chi tiết, không thể để mắc sai lầm. Chúng ta biết rằng bà bá tước đã chết ngay từ cú đánh đầu tiên, như bị sét đánh. Vậy thì bà ấy đã không chống cự, không thể giật đứt được mảnh áo của kẻ sát nhân. Công nhận tội trạng của Guespin tức là công nhận rằng anh ta khá điên đến nỗi đi đặt một mảnh áo vét của mình vào tay nạn nhân. Và cũng có nghĩa là công nhận anh ta khá thật thà đến mức đi vứt chiếc áo rách của mình ra sông Seine, mà lại đứng trên cầu vứt xuống chỗ mà anh ta nghĩ là người ta sẽ dò xét, thậm chí còn không thèm thận trọng một cách sơ đẳng là buộc nó với một hòn đá để giữ cho nó chìm sâu dưới đáy sông. Đó là sự phi lý. Đối với tôi, mảnh vải rách này cùng chiếc áo vét nhuốm máu đã khẳng định sự vô tội của anh Guespin lẫn tính gian ác của bá tước Trémorel.

- Tuy nhiên, - Ông Gendron phản bác - nếu Guespin vô tội, sao anh ta không nói ra? Sao anh ta không viện dẫn chứng cứ ngoại phạm? Anh ta đã qua đêm ở đâu? Tại sao anh ta có đầy tiền trong ví?

- Thưa ngài, xin ngài chú ý cho là tôi không nói anh ta vô tội. Chúng ta đang đặt giả thiết. Ta có thể đặt giả thiết rằng bá tước Trémorel, đủ mức nham hiểm để đưa ra cái bẫy cho anh chàng gia nhân, đã khá khôn khéo để ngăn chặn mọi phương tiện không cho anh ta có chứng cứ ngoại phạm.

- Nhưng chính ông, - Ông bác sĩ vẫn cố phản biện -đã phủ nhận khả năng khôn khéo của ông bá tước.

- Xin lỗi, thưa ngài, chúng ta phải hiểu nhau như thế này. Kế hoạch của ông Trémorel rất tuyệt vời và nó báo hiệu sự tai ác cao độ; chỉ có quá trình thực hiện là dở. Giả định rằng kế hoạch đã được tính toán và nghiên cứu chín muồi một cách chắc chắn, sau khi tội ác được thực hiện thì kẻ sát nhân, vì luống cuống và sợ nguy hiểm, đã mất bình tĩnh và chỉ thực hiện được một nửa dự định. Nhưng cũng còn những giả định khác. Người ta có thể tự hỏi rằng, trong khi kẻ sát nhân thực hiện vụ sát hại bà bá tước Trémorel thì liệu có phải Guespin cũng thực hiện tội ác khác hay không.

Giả thiết này tỏ ra khó tin đối với ông bác sĩ Gendron đến nỗi ông không thể không phản đối:

- Thưa các ngài, - Ông Lecoq đáp lại - các ngài đừng quên phạm vi phỏng đoán không có giới hạn. Các ngài hãy thử tưởng tượng sự phức tạp của các sự kiện phức tạp theo ý các ngài, tôi sẵn sàng quả quyết rằng sự phức tạp đó đã xuất hiện và sẽ xuất hiện. Chẳng phải Lieuben, một người Đức bị ám ảnh, đã đánh cược rằng ông ta sẽ đảo ngược được trò chơi bài trong trình tự của biên bản đánh cược ư? Trong vòng 20 năm, suốt 10 giờ mỗi ngày, ông ta làm đi làm lại việc trang bài, tráo bài. Ông ta thổ lộ rằng mình lặp lại thao tác này đến 4.246.028 lần mới thắng.

Có lẽ ông Lecoq đang định trích dẫn nữa thì Cha Plantat phác một cử chỉ ngắt lời:

- Tôi công nhận những lập luận sơ bộ của ông. Tôi coi chúng thật hơn điều có thể.

Thế là ông Lecoq vừa nói vừa đi lại khắp phòng, từ cửa sổ đến chỗ các giá kệ sách, vừa dừng lại ở những câu nói có tính quyết định, giống như một vị tướng đang đọc bản kế hoạch tác chiến của ngày hôm sau cho các trợ lý mặt trận. Và người nghe đang kinh ngạc thán phục khi nhìn và nghe ông nói. Từ sáng đến giờ, đây là lần thứ ba ông xuất hiện trước mặt họ dưới bộ dạng hoàn toàn khác. Đây không còn là người bán hàng xén giải nghệ vì bị khám xét, cũng không còn là viên cảnh cảnh sát bất cần đời và đa cảm xét theo lý lịch. Đó là một ông Lecoq mới, với bộ mặt trang nghiêm, cái nhìn thông minh, giọng nói rõ ràng và súc tích, cuối cùng là ông Lecoq mà các quan tòa đều quen biết và sử dụng tài điều tra của vị nhân viên an ninh nổi tiếng này.

Từ lâu ông đã giấu đi hộp kẹo có hình bức chân dung, không còn có chuyện về những chiếc kẹo hình vuông nữa, những cái mà theo lời ông thì chỉ là vật phụ tùng cho cái diện mạo tỉnh lẻ của mình. Ông nói:

- Giờ các ngài hãy nghe tôi nói đây:

Vào lúc 10 giờ tối. Bên ngoài không một tiếng động, đường sá vắng tanh. Những cây đèn của xã Orcival đã tắt, đám gia nhân của lâu đài đã đi Paris, còn lại ông bà Trémorel ở lâu đài Valfeuillu. Cả hai đã lui về phòng ngủ. Bà bá tước ngồi bên bàn uống trà. Ông bá tước vừa nói chuyện với bà vừa đi lại trong phòng. Bà Trémorel khi ấy không hề có linh cảm gì. Chồng bà, mấy ngày nay tỏ ra đáng yêu hơn, tử tế hơn bao giờ hết. Bà không có gì phải ngờ vực, thế là ông bá tước có thể tiến đến gần từ phía sau mà bà không hề có ý định quay đầu lại nhìn. Nếu như bà có nghe thấy tiếng chân ông bước tới nhẹ nhàng, thì cũng chỉ hình dung là ông muốn hôn trộm bà.

Còn ông ta, trong khi đó, với con dao găm dài trong tay, đang đứng rất gần vợ mình. Ông ta biết phải đâm vào đâu để bà có thể chết ngay. Ông đưa mắt chọn vị trí và đã tìm thấy, ông đâm một cú mạnh khủng khiếp, đến nỗi đốc dao in hằn lên hai bên mép vết thương. Bà bá tước ngã xuống không kêu được tiếng nào, trán đập vào góc bàn làm bà ngã ngửa ra. Có phải điều đó giải thích cho vết thương khủng khiếp, nằm dưới vai trái, một vết thương gần như thẳng đứng theo chiều từ phải sang trái?

Ông bác sĩ ra hiệu tán đồng.

- ... Và kẻ nào khác ngoài tình nhân hoặc người chồng của một người đàn bà có thể đi lại trong phòng ngủ của bà, tiến lại gần khi bà đang ngồi mà vân không quay đầu lại?

- Rõ rồi, - Cha Plantat thì thầm - thế là rõ rồi.

- Vậy là, - Ông Lecoq nói tiếp - bà bá tước đã chết. Ý nghĩ đầu tiên của kẻ sát nhân là ý nghĩ hoan hỉ. Cuối cùng Ông bá tước đã thoát được người vợ mà ông ta căm ghét đến mức quyết định gây tội ác, quyết định đánh đổi cuộc sống hạnh phúc, xa hoa, đáng thèm khát, để lấy cuộc đời đáng sợ của kẻ gian ác từ nay phải sống chui lủi, không bạn bè, không chốn nương thân, kẻ bị mọi nền văn minh tẩy chay, bị cảnh sát truy đuổi, bị trừng phạt bởi pháp luật. Ý nghĩ thứ hai của ông là về bức thư kia, cái mảnh giấy đó, một cái văn bản, một cái chứng thư, một vật mỏng manh mà ông biết vợ mình đang sở hữu và ông cần có nó.

- Ông phải nói thêm, - Cha Plantat ngắt lời -rằng cái chứng thư này là một trong những động cơ của án mạng.

- Cái văn bản quá quan trọng này, ông bá tước đã nghĩ là mình biết nó được giấu ở đâu. Ngay từ đầu, ông ta đã tin rằng sẽ nắm được nó. Nhưng ông ta đã nhầm. Ông ta đã lục tìm mọi đồ đạc của vợ mình mà không thấy. Lục lọi mọi ngăn kéo, dỡ cả những viên đá hoa lên, bới tung cả phòng mà không thấy gì. Thế là ông ta chợt nghĩ, liệu bức thư có thể được giấu dưới tấm ván kệ trên lò sưởi không? Bằng cái tạt trái của cánh tay, ông ta gạt phăng mọi thứ bày biện trên lò sưởi xuống sàn nhà, chiếc đồng hồ quả lắc rơi xuống và chết máy. Lúc đó vẫn chưa đến 10 giờ rưỡi.

- Phải! - Ông bác sĩ Gendron nói khẽ - Chiếc đồng hồ quả lắc đã nói cho chúng ta biết.

- Dưới tấm ván kệ trên bệ lò sưởi, - Ông Lecoq nói tiếp - ông bá tước không tìm thấy gì thêm ngoài lớp bụi phủ đã giữ lại dấu tay của ông. Thế là kẻ sát nhân bắt đầu bối rối. Cái tờ giấy này quá quan trọng đến nỗi, để có được nó, ông ta đã phải liều mạng, vậy nó đang ở đâu? Ông ta bắt đầu nổi điên. Làm sao mở được các ngăn kéo bị đóng kia? Chùm chìa khóa vẫn nằm trên thảm trải sàn, tôi đã thấy chúng nằm lẫn trong đám mảnh vỡ của tách trà, ông ta đã không nhìn thấy chúng. Ông ta cần một thứ vũ khí, một dụng cụ để đập phá mọi thứ. Ông bá tước xuống nhà tìm một cái rìu. Xuống đến cầu thang, sự say máu và nỗi khát khao trả thù tan đi, ông ta bắt đầu hoảng sợ. Ông ta thấy mọi xó xỉnh tối tăm đều có những bóng ma như bầy tùy tùng bám theo kẻ sát nhân. Ông ta sợ, trở nên hấp tấp, vội quay lên, trong tay cầm chiếc rìu lớn, đó là chiếc rìu mà chúng ta đã tìm thấy ở lầu hai. Ông bá tước muốn phá tung mọi thứ xung quanh. Bước đi như kẻ mất trí, chém bừa bất cứ thứ đồ đạc nào; nhưng trong đống mảnh vỡ, ông ta vẫn miệt mài tìm kiếm và để lại dấu vết rất rõ. Chẳng có gì, vẫn chẳng tìm thấy gì. Trong phòng mọi thứ trở nên lộn xộn, ông ta chạy sang buồng riêng của mình và tiếp tục phá phách, vung rìu chém tứ tung. Ông ta đập cả chiếc bàn viết, không phải vì không thông thuộc các ngăn kéo, mà là vì có thể có một chỗ cất giấu bí mật nào đó trong bàn mà ông ta không biết. Cái bàn viết này không phải do ông bá tước mua, nó thuộc về người chồng trước, ông Sauvresy. Tất cả những quyển sách trong thư phòng, ông bá tước đều lần lượt lấy xuống từng cuốn, giũ mạnh rồi quăng xuống đất. Thế mà bức thư quái quỷ vẫn không thể tìm thấy.

Từ lúc này ông ta càng tỏ ra luống cuống đến nỗi không thể thực hiện việc khám xét một cách có phương pháp nữa. Đầu óc ám muội của ông ta không còn khả năng chỉ dẫn nữa. Ông bá tước lục từ món đồ này đến món đồ khác mà không biết tính thế nào, lục lọi một cái ngăn kéo đến mười lần, trong khi hoàn toàn quên cái ngăn kéo bên cạnh. Thế là khi đó ông ta nghĩ cái văn bản này có thể đã được cất giấu ở trong lớp canh lót ghế bành. Ông ta rút một thanh kiếm và, để thăm dò chính xác, liền chém rách lớp vải nhung bọc ghế bành, sofa và những đồ đạc khác...

Giọng nói và cử chỉ của ông Lecoq làm cho câu chuyện của ông thật xúc động. Có vẻ như mọi người đang được xem tội ác diễn ra, được chứng kiến những cảnh khủng khiếp do ông mô tả. Hai người nghe nín thở, thậm chí tránh cả việc ra hiệu tán đồng vì có thể làm xao nhãng sự chú ý của ông.

- Đến lúc đó, - Vị nhân viên an ninh nói tiếp - cơn điên dại và nỗi sợ hãi của ông Trémorel đã lên tới tột đỉnh. Khi suy tính thực hiện vụ án, ông ta tự nhủ mình sẽ giết vợ, sẽ chiếm lấy bức thư, sẽ nhanh chóng thực hiện xong kế hoạch quá nham hiểm này rồi bỏ chạy. Thế mà bây giờ mọi dự định bị đảo lộn. Biết bao thời gian bị bỏ phí, khi mỗi phút trôi qua lại lấy đi cơ hội thành công. Thế rồi hàng nghìn khả năng nguy hiểm mà ông chưa nghĩ tới bỗng xuất hiện trong đầu. Tại sao một người bạn nào đó không đến xin nghỉ nhờ như đã xảy ra hàng chục lần? Một người qua đường sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy ánh lửa hốt hoảng chạy từ phòng này sang phòng khác? Liệu có gia nhân nào trở về không? Khi trở về phòng khách, tưởng có tiếng chuông gọi cổng, ông ta hoảng sợ đến nỗi đánh rơi cả cây nến đang cầm trên tay, tôi đã tìm thấy dấu vết của cây nến này trên thảm sàn nhà.

Ông ta đã nghe thấy những tiếng động lạ chưa nghe thấy bao giờ. Ông bá tước cảm thấy như có tiếng chân bước trong căn phòng bên cạnh, nghe thấy tiếng động của sàn nhà. Liệu vợ ông đã chết thật chưa, ông đã giết chết hẳn chưa? Liệu bà có bỗng nhiên đứng dậy, chạy ra cửa sổ kêu cứu? Chính vì bị ám ảnh bởi những nỗi hoảng sợ này mà ông ta quay về phòng ngủ, cầm lấy con dao găm rồi lại đâm cái xác của bà bá tước. Nhưng ông ta run tay nên chỉ đâm được những vết thương nhẹ. Thưa bác sĩ, ngài đã nhận thấy điều đó và đã ghi chép lại trong dự thảo báo cáo, tất cả vết thương đều cùng một hướng. Chúng tạo thành góc vuông với chiều dài thi thể, chứng tỏ nạn nhân đang nằm khi bị đâm. Rồi, trong cơn điên dại, kẻ khốn nạn đã lấy chân nện cái xác vợ mình, gót giày của ông đã gây ra những vết giập mà không có máu tụ như cuộc khám nghiệm tử thi đã cho thấy...

Ông Lecoq dừng lại để lấy hơi.

Ông không chỉ kể lại tấn kịch, mà còn làm điệu bộ, diễn nó, bổ sung tác động của điệu bộ cho sức mạnh của lời nói, mỗi câu nói của ông lại tái hiện một cảnh diễn, lại giải thích một sự việc và xua tan một nỗi nghi ngờ. Giống như tất cả các nghệ sĩ tài năng, những người hóa thân thực sự thành nhân vật, vị nhân viên an ninh này thực sự cảm thấy cái gì đó thuộc về những cảm giác mà mình đang thể hiện, khi ấy cái mặt nạ linh hoạt của ông có biểu hiện thật đáng sợ.

- Đây chính là phần đầu của tấn kịch. - Ông nói tiếp - Tiếp theo cơn chấn động giận dữ này, ông bá tước đi đến tình trạng rã rời không thể cưỡng lại. Vả lại, những tình tiết khác nhau mà tôi vừa kể có thể có mặt trong hầu hết các vụ án lớn. Sau khi gây án mạng, kẻ sát nhân luôn cảm thấy nỗi căm ghét đáng sợ và khó giải thích đối với nạn nhân, thường lao vào hành hạ cái xác. Sau đó là đến giai đoạn suy sụp, một sự đờ đẫn không thể cưỡng nổi, đến nỗi người ta đã thấy có những kẻ khốn nạn thực sự thiếp đi trong vũng máu, đã bắt gặp chúng ngủ mê mệt, phải cố hết sức mới đánh thức được chúng dậy.

Sau khi đã đâm chém kinh khủng cái xác, ông Trémorel chắc đã gieo mình xuống chiếc ghế bành trong phòng ngủ. Và quả thực, những miếng vải rách của một trong những chiếc ghế bành còn giữ lại những nếp nhăn cho thấy đã có người ngồi lên đó. Khi ấy ông bá tước đang nghĩ gì? Ông nghĩ đến những giờ phút dài đã trôi qua, đến những giờ phút quá ngắn ngủi còn lại. Ông đã không tìm thấy gì. Ông ta nghĩ rằng trước khi trời sáng, liệu còn đủ thời gian để thực hiện những biện pháp đánh lạc hướng điều tra vụ án và đảm bảo mình không bị trừng phạt bằng cách làm cho người ta tin rằng ông đã chết. Và ông cần nhanh chóng trốn chạy, mà không có cái giấy chết tiệt kia. Ông thu hết sức lực đứng dậy, và, các ngài có biết ông ta làm gì không? Ông ta cầm một chiếc kéo và cắt trụi bộ râu dài chải chuốt của mình.

- Ồ! - Cha Plantat ngắt lời - Vì thế mà ông ngắm mãi bức chân dung của ông ta.

Ông Lecoq đang quá mải mê theo đuổi dòng suy luận nên không chú ý đến câu ngắt lời của ông Thẩm phán hòa giải. Ông nói tiếp:

- Cái này thuộc những chi tiết tầm thường mà chính cái tính tầm thường làm cho chúng trở nên kinh khủng khi gắn với những tình tiết nhất định. Các ngài hãy hình dung ông bá tước Trémorel với khuôn mặt tái mét, trên người vây đầy máu vợ mình, đứng trước gương cạo râu, bôi xà phòng lên mặt, trong căn phòng lộn xộn, cách đó ba bước chân là cái xác chết vẫn còn phập phồng nóng hổi. Xin các ngài hiểu rõ, ngắm mình trong gương sau khi vừa gây án là hành vi đòi hỏi một nghị lực đáng sợ mà ít có kẻ tội phạm làm được. Vả lại, đôi tay của ông bá tước quá run rẩy nên gần như không thể giữ nổi chiếc dao cạo, còn khuôn mặt chắc phải hằn lên những nếp nhăn chạy dài.

- Sao? - Ông bác sĩ Gendron kêu lên - Ông giả định rằng ông bá tước đã mất thời gian cho việc cạo râu?

- Tôi tin như vậy, - Ông Lecoq đáp - chắc chắn. - Ông nhấn mạnh từng chữ. Có chiếc khăn lau mà tôi nhận ra một trong những dấu vết này - chỉ một dấu vết thôi - của chiếc dao cạo khi ông ta chùi vào, đã cho tôi lần ra chi tiết đó. Tôi đã đi tìm và thấy một hộp dao cạo, một trong những chiếc dao cạo mới được dùng rất gần đây, bởi vì nó vẫn còn ẩm ướt. Tôi đã cẩn thận gói chiếc khăn và hộp dao cạo. Và nếu như những bằng chứng này không đủ để khẳng định, thì tôi sẽ gọi hai nhân viên của tôi từ Paris đến, họ sẽ nhanh chóng phát hiện ra đâu đó, trong lâu đài hoặc ngoài vườn, cả bộ râu đã bị cắt của ông Trémorel cùng chiếc khăn ông ta lau con dao cạo. Tôi đã xem xát kĩ miếng xà phòng còn sót lại và làm tôi giả định rằng ông bá tước không dùng chổi cạo râu. Còn về ý kiến làm ông thắc mắc, thưa ông bác sĩ, tôi lại thấy nó rất tự nhiên; xin nói thêm, nó là hậu quả tất yếu của một kế hoạch đã định. Ông Trémorel vốn để râu, cắt đi thì diện mạo sẽ thay đổi đến mức trên đường trốn chạy, nếu có gặp người quen thì họ cũng sẽ không nhận ra.

Ông bác sĩ Gendron chắc đã chịu thuyết phục, bởi lẽ ông phác một cử chỉ tán đồng rồi lẩm nhẩm:

- Rõ rồi, đúng như thế!

- Sau khi đã thay hình đổi dạng, - Vị nhân viên an ninh nói tiếp - ông bá tước bắt đầu vội vã sắp đặt các chi tiết trong kế hoạch để dựng lên hiện trường giả nhằm đánh lạc hướng các ngài, để người ta tin rằng ông cũng đã bị bọn cướp giết chết cùng vợ mình. Ông ta đi kiếm một chiếc áo của Guespin, xé rách nó đến túi áo rồi đặt miếng vải rách vào tay bà bá tước. Sau đó ông ta bê cái xác nằm ngang trên tay rồi đem xuống nhà. Các vết thương của cái xác đang chảy máu khủng khiếp đã để lại nhiều vết máu mà mọi người nhìn thấy trên các bậc thang. Xuống đến chân cầu thang, ông ta buộc phải đặt cái xác xuống nền nhà để ra mở cổng vườn. Hành động này đã giải thích rõ ràng cho vết máu loang rộng trên tiền sảnh. Mở cổng vườn xong, ông bá tước quay lại bê cái xác đặt xuống mép bãi cỏ, nắm hai vai xác chết kéo lê giật lùi, ông ta nghĩ làm như thế thì sẽ để lại dấu vết giống như cái xác của ông được kéo đi rồi vứt ra sông Seine. Chỉ có điều ông bá tước khốn nạn đã quên mất hai việc làm lộ tẩy ông ta. Ông đã không nghĩ rằng khi bị kéo trên cỏ, vạt váy của bà bá tước đã quét lên cỏ và làm giập nát một khoảng rộng, làm lộ tẩy cái mưu mẹo của ông ta. Ông ta đã không nghĩ rằng bàn chân duyên dáng uốn cong của bà, với đôi giày mỏng manh rất cao gót, đã in hằn lên lớp đất ẩm của bãi cỏ, để lại một bằng chứng rõ như ban ngày phản lại ông ta.

Cha Plantat đột nhiên đứng dậy ngắt lời:

- Ồ, ông đã không nói cho tôi biết một tí gì về tình tiết này.

Ông Lecoq làm một cử chỉ duyên dáng tỏ vẻ tự phụ:

- Còn nhiều tình tiết khác nữa cơ. Nhưng lúc đó tôi không biết. - Ông đưa mắt tìm ánh mắt của Cha Plantat - Tôi hoàn toàn không biết được nhiều điều như bây giờ, và, vì tôi có mấy lý do để giả định rằng ngài Thẩm phán hòa giải nắm được nhiều thông tin hơn, nên tôi không thấy phiền khi muốn trả thù một chút thái độ kín đáo của ông, một thái độ mà tôi cho là khó hiểu.

- Và ông đã trả được thù rồi. - Ông bác sĩ Gendron mỉm cười nói.

- Sang đến bờ bên kia của bãi cỏ, - Ông Lecoq trình bày tiếp - ông bá tước lại bê cái xác lên. Nhưng lúc này, vì quên mất tác động của nước khi nó bắn tóe lên, hoặc có thể, biết đâu đây, vì sợ bị ướt quần áo, nên, thay vì đẩy mạnh cái xác xuống, ông ta lại rất cẩn thận đặt nó nhẹ nhàng xuống nước. Không chỉ có thế: ông còn muốn người ta tin rằng đã có cuộc vật lộn ghê gớm giữa bà bá tước với bọn sát nhân. Và ông ta đã làm gì? Ông ta dùng mũi bàn chân cày xới lớp cát trên lối đi. Và ông ta tin cảnh sát sẽ hiểu nhầm.

- Phải! - Cha Plantat thì thầm - Chính xác, đúng như thế, tôi đã thấy như vậy.

- Tống khứ cái xác xong, ông bá tước trở về nhà. Thời gian gấp gáp lắm rồi, nhưng vẫn muốn tìm cái chứng thư chết tiệt kia. Thế là ông ta vội vã vận dụng các biện pháp cuối cùng mà ông tin chúng sẽ đảm bảo cho kế hoạch thành công. Ông lấy đôi dép và chiếc khăn choàng ra rồi vấy máu lên. Ông ta quẳng chiếc khăn choàng và một chiếc dép ra bãi cỏ, còn chiếc dép kia ông ta vứt ra giữa sông Seine. Thái độ hấp tấp của ông bá tước giải thích cho những hành động sai sót và thất bại của ông ta. Hấp tấp nên ông ta mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác.

Mấy cái chai mà ông ta đặt trên bàn chỉ là vỏ chai, ông bá tước không nghĩ là anh hầu phòng sẽ nói ra điều đó. Ông nghĩ là mình rót rượu vang vào 5 chiếc cốc, nhưng lại rót giấm và điều đó sẽ chứng minh chẳng có ai uống rượu cả. Ông quay lên phòng ngủ, vặn kim chiếc đồng hồ quả lắc cho chạy sớm lên, nhưng vì vặn lên sớm quá, lại quên không để chuông báo giờ và kim chỉ giờ khớp nhau. Rồi ông ta mở chăn mền, nhưng mở không đúng kiểu, hơn nữa ông ta không thấy rằng hoàn toàn không thể dung hòa ba việc này với nhau: chiếc giường đã được mở chăn mền, chiếc đồng hồ chết máy chỉ 3 giờ 20 phút, bà bá tước ăn mặc như giữa ban ngày. Ông ta cố làm cho căn phòng lộn xộn hết mức có thể. Ông ta giật cái đình màn, nhúng một mảnh vải vào máu rồi vấy máu lên màn giường và đồ đạc. Cuối cùng, ông ta dùng bàn tay vây máu này in dấu lên cánh cửa phòng, để lại dấu vết quá rõ, quá nổi bật, quá dứt khoát nên không thể nói là không có chủ ý.

Thưa các ngài, tôi xin hỏi các ngài, cho đến đây, có tình tiết nào, chi tiết nào, đặc điểm nào không liên quan đến tội trạng của ông Trémorel không?

- Đó là cái rìu. - Cha Plantat đáp - Cái rìu được tìm thấy ở lầu hai mà vị trí của nó có vẻ rất khác thường.

- Tôi nói đến chuyện đó đây, thưa ngài Thẩm phán hòa giải. - Ông Lecoq đáp - Đó là một điểm trong vụ án mờ ám này mà nhờ có ngài, chúng ta đã hoàn toàn xác định được nó. Chúng ta biết rằng bà Trémorel sở hữu và cất giấu - có chồng bà biết - một tờ giấy, một văn bản, một bức thư mà chồng bà rất muốn giữ nhưng bà dứt khoát không cho, bất chấp những lời cầu xin của ông. Ngài Thẩm phán đã khẳng định với chúng ta rằng ước muốn - hay có thể là sự cần thiết phải chiếm đoạt được tờ giấy đó đã góp phần mạnh mẽ cho bàn tay tội ác của ông bá tước. Vậy là chúng ta không hề liều lĩnh khi gán cho cái chứng thư này tầm quan trọng không chỉ khác thường mà còn hoàn toàn đặc biệt. Với một lý do chắc chắn hơn, ta cần phải tin rằng theo lẽ tự nhiên thì vật đó có thể gây liên lụy cực kì nguy hiểm. Nhưng liên lụy đến ai? Đến cả hai ông bà bá tước hay chỉ riêng ông bá tước? Về điểm này tôi buộc phải phỏng đoán. Điều suy đoán được, cái chứng thư này là một mối đe dọa - có thể thi hành ngay tức khắc - đang treo lơ lửng trên đầu một người hoặc những người có liên quan. Còn điều chắc chắn là bà Trémorel coi cái văn bản này hoặc là một vật đảm bảo, hoặc một vũ khí khủng khiếp buộc chồng bà phải giữ mồm giữ miệng. Và điều thực sự đã xảy ra là, để thoát khỏi mối đe dọa chung thân làm mình sống không yên này, ông Trémorel đã giết vợ.

Lý lẽ thật logic, những câu lập luận cuối cùng làm sáng tỏ rõ ràng đến nỗi ông bác sĩ và Cha Plantat không thể không đồng tình cùng thốt lên:

- Rất đúng!

- Bây giờ, - Ông Lecoq nói tiếp - còn có những chi tiết linh tinh khác để củng cố niềm tin chắc chắn của chúng ta. Cần phải kết luận rằng nội dung của bức thư này, nếu được tìm thấy, sẽ xóa bỏ hết mọi sự nghi ngại cuối cùng, sẽ giải thích cho tội ác và làm cho mọi sự thận trọng của kẻ sát nhân trở nên vô ích. Vậy là ông bá tước đã phải làm mọi thứ trên đời, phải cố làm cả điều không thể, để không để lại mối nguy hiểm kia. Vì thế, sau khi đã sắp xếp xong mọi thứ mà theo ông ta là có thể đánh lạc hướng được tòa án, bất chấp cảm giác về mối nguy hiểm cận kề, bất chấp thời gian trôi qua, bất chấp trời sắp sáng, ông Trémorel, thay vì bỏ chạy, lại bắt đầu lao vào quyết liệt hơn bao giờ hết để lục tìm một cách vô vọng. Ông ta lại xem xét mọi thứ đồ dùng của vợ mình, ngăn kéo, sách vở, giấy tờ; vẫn vô ích. Thế là ông quyết định khám xét lầu hai, ông lên lầu với cây rìu trong tay. Ông ta đã cầm rìu bổ một thứ đồ gỗ thì trong vườn có một tiếng kêu thét lên. Ông chạy ra cửa sổ: Ông nhìn thấy gì? Philippe và lão Bợm Nhậu đang đứng ở mép nước, dưới bóng mấy cây liễu của khuôn viên, ngay cạnh cái xác. Các ngài hiểu nỗi khiếp đảm của kẻ sát nhân chứ?

Từ lúc này, không thể bỏ phí một giấy, nấn ná thế là quá đủ rồi. Nỗi nguy hiểm khủng khiếp đang thúc bách. Trời sắp sáng, tội ác đã bị phát hiện, người ta sẽ đến đây, ông ta sẽ toi đời không phương cứu chữa. Cần phải bỏ chạy, chạy ngay tức khắc, dù có nguy cơ bị trông thấy, bị bắt gặp, thậm chí bị bắt.

Thế là ông ta quăng mạnh chiếc rìu làm nó chém rạch xuống sàn nhà. Ông ta chạy xuống, nhét vội mấy bó tiền vào túi, vơ chiếc áo rách vấy máu của Guespin mà sau đó sẽ đứng trên cầu ném xuống sông, rồi bỏ trốn qua lối vườn sau. Quên hết mọi sự thận trọng, như một kẻ điên cuồng mất trí, trên người vẫn đầy máu, ông ta cứ thế bỏ chạy, rồi nhảy qua con hào, đó là lúc ông bá tước bị lão Bợm Nhậu nhìn thấy, ông ta chạy vào khu rừng Mauprévoir, rồi sửa sang lại xống áo.

Lúc này ông bá tước đã trốn thoát nhưng phải để lại phía sau bức thư kia, cái bức thư mà, xin các ngài hãy tin tôi, sẽ làm thành lời buộc tội đích đáng, sẽ làm sáng tỏ công lý, sẽ công khai cho thấy hành động gian ác và những thủ đoạn nham hiểm của ông ta. Ông ta đã phải bỏ lại bức thư này bởi vì không tìm thấy nó, nhưng chúng ta sẽ tìm thấy, nó là bằng chứng cần thiết đế đánh đổ ông Domini, chúng ta cần có nó để chuyển từ nghi ngờ sang niềm tin chắc chắn.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.