Tội Ác Ở Orcival

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xiii

❊ ❊ ❊

Ra ngoài phố, bá tước Trémorel đang chuẩn bị đi ngược trở lại con phố thì chợt nghĩ đến những người bạn. Câu chuyện tịch biên tài sản, được loan truyền bởi người của ông, chắc đã lan khắp phố rồi.

- Không, không về đường đó được. - Ông lẩm nhẩm.

Quả thực, ở phía đó chắc chắn ông sẽ gặp ai đó trong số bạn bè “rất thân” của mình và ông có cảm giác sẽ được nghe những lời thăm hỏi chia buồn và lời đề nghị giúp đỡ khôi hài. Ông hình dung thấy những vẻ mặt nhăn nhó hối tiếc che đậy vụng về cho sự hả hê khoái trá bên trong. Trong đời mình, ông đã từng làm tổn thương biết bao thái độ kiêu căng, bóp nát biết bao lòng tự ái, đến mức giờ là lúc ông phải nhận sự trả đũa khủng khiếp.

Vậy là Hector băng qua đường, rẽ vào phố Duphot rồi ra kè sông. Đi đâu bây giờ? Ông không biết, thậm chí còn không tự hỏi mình đi đâu.

Ông cứ thả bước hú họa dọc theo lan can kè sông, căng ngực hít thở không khí trong lành, thưởng thức niềm hạnh phúc thể chất này như thể vừa xong bữa ăn ngon, sung sướng cảm thấy mình được sống dưới những tia nắng ấm áp tháng tư. Tiết trời thật tuyệt vời, cả Paris đang ở ngoài đường. Phố xá mang một không khí lễ hội, những kẻ chơi rong tràn ngập đường phố, đám đông bận rộn cũng giảm bước chân, các cô gái đều xinh đẹp. Tại một góc cầu, các cô gái hàng hoa đang bê những chiếc khay hoa tím tỏa ngát hương thơm.

Đến gần Cầu Mới, ông bá tước mua một bông hoa giá 10 xu rồi cài vào khuy áo. Ông quẳng cho cô hàng hoa một đồng 20 xu, rồi không đợi lấy tiền thừa, ông tiếp tục thả bộ.

Đi đến chỗ quảng trường lớn ở cuối đại lộ Bourbon, ở đây lúc nào cũng tràn ngập những người diễn trò, những đám người tụ tập, tiếng ồn, tiếng gào xé của âm nhạc, tất cả đã kéo ông ra khỏi cơn đờ đẫn và tàn nhẫn để trở về với thực tại.

Đã đến lúc , - Ông nghĩ - rời bỏ Paris.

Rồi, rảo bước nhanh hơn, ông ta đi tới nhà ga Orléans mà những tòa nhà của nó đang hiện ra trước mặt bên kia sông Seine.

Vào phòng mua vé, ông hỏi thăm giờ khởi hành của chuyến tàu đi Étampes. Tại sao ông ta lại lựa chọn đi Étampes? Người ta trả lời ông là có một chuyến tàu vừa khởi hành cách đây chưa đầy 5 phút, phải hai tiếng nữa mới có chuyến tiếp theo.

Tỏ ra vô cùng bực bội, rồi, vì không thể ngồi đợi ở đây hai tiếng đồng hồ, ông ta liền quay ra và để giết thời gian, ông bước vào Vườn Thực vật. Chắc hẳn phải tới mười hoặc mười hai năm ông chưa đặt chân vào đây. Ông đã không vào đây kể từ thời học phổ thông, khi người ta cho học sinh đi tham quan những con thú lạ và chơi xà.

Ở đây chẳng có gì thay đổi. Vẫn những cây dẻ đó, vẫn những hàng rào mắt cáo bị mọt ruỗng, vẫn những lối đi nhỏ chia cắt thành các ô vuông trồng đầy cây trên thân có treo những tấm biển ghi tên.

Những lối đi lớn phía bên này gần như vắng tanh. Ông ta ngồi xuống một chiếc ghế băng ở trước mặt nhà bảo tàng khoáng vật. Biết đâu hồi xưa, khi còn là học sinh trung học, sớm nhất cách đây mười năm, sau khi chạy nhảy và chơi đùa chán chê, ông đã chẳng đến ngồi lên chiếc ghế này!

Lúc đó và bây giờ thật là cả một khoảng cách!

Khi đó cuộc đời của ông hiện ra như một con đường dài, dài đến mức không nhìn thấy cuối đường, nó được rải bằng cát vàng, có bóng cây che mát, rất thú vị, mỗi bước lại là một điều bất ngờ, một khoái lạc mới.

Vậy là ông vừa trải qua con đường đó, đã đi tới cùng của con đường. Ông đã thấy gì? Chẳng có gì cả.

Không có gì. Bởi vì lúc này, khi ôn lại những năm tháng đã qua, ông chẳng thấy một ngày nào để lại những kỷ niệm ngọt ngào đem lại niềm vui hoặc an ủi ông. Hàng triệu đồng đã lọt qua hai bàn tay hoang phí và ông không nhớ nổi được một khoản chi có ích, thực sự hào phóng nào, trị giá 20 franc. Là người có biết bao bạn bè, người tình, vậy mà ông lục tìm mãi trong trí nhớ cũng không thấy nổi một cái tên bạn bè, tên người tình, để thầm gọi.

Quá khứ hiện ra như thể trong một chiếc gương trung thực, ông ngạc nhiên rụng rời bởi những thú vui ngu ngốc, những khoái lạc hão huyền như là mục tiêu và kết cục của cuộc đời.

Và nói cho cùng thì ông đã sống vì ai? Vì người khác. Ông cứ tưởng mình đã được đặt lên bệ thờ, thực sự là ông đã thao diễn trên một cái chân mễ.

Ôi! Ta đã điên! - Ông tự nhủ - Ta đúng là một thằng điên!

Ông đã không thấy rằng sau khi sống vì người khác, ông cũng sẽ chết vì người khác. Ông cảm thấy mủi lòng. Trong vòng 8 ngày, liệu có ai nghĩ đến ông không? Chẳng có ai cả. À có chứ, tiểu thư Fancy, có thể, một cô gái. Và sau 8 ngày thì không. Sau 8 ngày, cùng với người tình mới, nàng sẽ được an ủi và sẽ cười nhạo ông. Nhưng thực sự ông rất lo lắng đến Fancy.

Trong lúc đó tiếng trống báo hiệu hết giờ đã vang lên. Đêm đã xuống, sương mù dày đặc và lạnh lẽo bốc lên. Ông bá tước rời khỏi ghế, ông bị lạnh đến thấu xương.

- Quay lại đường sắt thôi. - Ông thì thầm.

Than ôi, trong lúc này, cái ý nghĩ sẽ bắn tung óc mình trong một xó rừng, như sáng nay ông đã tuyên bố một cách rõ ràng, lại khiến ông ghê sợ. Ông hình dung thấy thi thể mình biến dạng, máu chảy đầm đìa, nằm trên bờ của một cái rãnh nào đó. Ông sẽ ra sao? Những kẻ hành khất đi qua, hoặc bọn hái trộm rau quả, sẽ lột hết đồ của ông. Rồi sau đó? Tòa án sẽ đến, sẽ dọn cái xác vô thừa nhận, rồi, trong khi chờ xác định tung tích, chắc chắn người ta sẽ đem ông đến nhà xác.

Ông rùng mình. Ông hình dung thấy mình nằm dài trên tấm đá lát được xịt nước lạnh liên tục. Ông nghe thấy tiếng xì xào của đám đông vì tờ mò bệnh hoạn mà tụ tập tại chốn thế thảm này.

Thế thì phải chết kiểu gì? Ông suy nghĩ và dừng lại ở ý tưởng sẽ tự tử trong một khách sạn nào đó bên bờ tả ngạn sông Seine.

- Vậy là ta đã quyết như thế. - Ông nói.

Rồi, ra khỏi khu vườn cùng với những người dạo choi cuối cùng, ông đi đến khu phố La-tinh.

Vẻ bất cần lúc sáng lúc này đã nhường chỗ cho thái độ cam chịu ủ ê. Ông đau buồn, cảm thấy nặng đầu và ớn lạnh. Nếu không chết đêm nay, - Ông nghĩ - thì sáng mai mình sẽ bị cảm.

Ý nghĩ dí dỏm này không làm ông mỉm cười, mà nó cho ông cái ý thức về một người rất khỏe mạnh.

Ông tới phố Dauphine tìm một khách sạn. Rồi ông nghĩ rằng chưa đến 7 giờ tối, lúc này mà hỏi thuê một căn phòng thì có thể gây nghi ngờ. Nghĩ rằng mình vẫn còn 140 franc trong túi, thế là ông quyết định đi ăn tối. Đây có thể sẽ là bữa ăn cuối cùng của ông. Quả vậy, ông bước vào một nhà hàng ỏ phố Contrescarpe và gọi đồ ăn.

Cố rũ bỏ nỗi buồn phiền làm ông lo lắng mà không được. Ông bắt đầu uống. Ông uống hết ba chai mà vẫn không làm thay đổi được dòng chảy ý nghĩ. Thấy trong rượu vang có mùi vị cấy đắng của những suy nghĩ, ông cảm thấy nó thật đáng ghét, mặc dù nó là loại rượu hảo hạng và đắt tiền nhất của nhà hàng, được ghi giá hai 25 franc trên phiếu ăn.

Và mấy tay bồi bàn ngạc nhiên nhìn người đàn ông ăn tối sầu thảm này, người mà hầu như không đụng đến những món ông ta gọi và càng uống càng trở nên ủ rũ.

Phiếu ghi thức ăn của ông lên đến 90 franc. Ông quang lên bàn tờ 100 franc cuối cùng rồi bỏ đi. Vẫn chưa muộn, ông vào một quán rượu bình dân đầy những sinh viền đang ngồi uống, rồi bước tới một chiếc bàn vắng ở tít cuối phòng, sau mấy cái bàn bi-a.

Người ta đem cà phê đến, ông nốc cạn cả tách cà phê, rồi đến tách thứ hai, rồi thứ ba...

Ông không muốn chấp nhận điều này, không muốn tự thú nhận điều đó, ông đang tìm cách làm cho mình hăng hái lên, để có được mức dũng cảm mà ông cần đến, nhưng ông không làm được.

Trong lúc ăn tối, từ khi vào quán cà phê, ông đã uống rất nhiều; vào lúc khác chắc ông đã say rồi, nhưng giờ đây, rượu không hề mang lại sự say sưa nhất thời, mà nó lại xuống dạ dày và khiến ông rã rời.

Ông đang ngồi đó, tay ôm đầu, thì một cậu bồi bàn từ đầu phòng kia đi lại đưa cho ông một tờ báo. Ông cầm lấy như cái máy, mở ra và đọc:

Vào lúc đưa báo đi in, người ta đã báo cho chúng tôi biết về sự mất tích của một nhân vật rất quen biết mà, xin nói thêm, có thể đã tuyên bố chính thức ý định tự tử. Sự việc được kể tỏ ra lạ lùng đến mức, vì không có thời gian tìm hiểu, chúng tôi xin kể chi tiết vào ngày mai.

Mấy dòng chữ này nổ bùng như trái phá trong đầu ông bá tước Trémorel.

Đây chính là bản án tử hình không trì hoãn, được ký tên bởi một kẻ bạo chúa mà từ nhiều năm nay, ông đã là kẻ nịnh thần siêng năng của nó: dư luận.

- Vậy là người ta không bao giờ thôi quan tâm đến ta! - Ông lẩm nhẩm với vẻ âm thầm tức giận, đây là lần tức giận thành thực đầu tiên của ông.

Rồi, với vẻ quyết đoán, ông nói thêm:

- Vậy là phải kết thúc thôi!

Quả thực, 5 phút sau, cầm trong tay một cuốn sách và mấy điếu xì gà, ông gõ cửa khách sạn Luxembourg.

Sau khi được nhân viên dẫn vào căn phòng đẹp nhất, ông thắp đèn sáng trưng rồi yêu cầu đem cho ông nước ngọt và mấy thứ để viết. Chẳng khác gì lúc sáng, quyết định của ông đang tỏ ra không thể lấy chuyển.

- Không được chân chừ thêm nữa, - Ông thì thầm - không được lùi bước nữa.

Ngồi xuống trước bàn, cạnh lò sưởi, với bàn tay vững vàng, ông viết lời tuyên bố dành cho cảnh sát:

“Đừng kết tội ai về cái chết của tôi...” Ông bắt đầu viết và kết thúc bức chúc thư bằng lời đề nghị được bồi thường cho chủ khách sạn.

Đồng hồ chỉ 11 giờ kém 5, ông đặt hai khẩu súng ngắn lên bệ lò sưởi rồi lẩm nhẩm:

- Đến nửa đêm ta sẽ bắn tung sọ, ta còn sống thêm một tiếng đồng hồ nữa.

Bá tước Trémorel gieo mình xuống ghế bành, đầu ngả ra lưng ghế, chân đặt lên kệ lò sưởi. Tại sao ông không tự tử ngay? Tại sao phải trì hoãn, phải ấn định cho mình một giờ chờ đợi lo âu và dằn vặt? Ông không thể giải thích. Ông tìm cách suy ngẫm về những hoàn cảnh của cuộc đời mình. Ông đang bị sốc bởi tốc độ chóng mặt của các sự kiện đã dẫn mình đến căn phòng khách sạn khốn nạn này. Thời gian trôi nhanh biết bao! Hình như mới hôm qua thôi, lần đầu tiên ông phải đi vay 100.000 franc. Nhưng một người đã rơi xuống đáy vực mà còn cố tìm hiểu nguyên nhân sa ngã thì ích gì!

Về phần tiểu thư Fancy thì không có gì phải nghi ngờ. Cửa phòng ăn vẫn để mở, nàng tỉnh dậy và lao ra ngoài, váy áo xộc xệch, đầu tóc rũ rượi, vừa chạy vừa khóc. Nàng chạy đi đâu? Liệu nàng có nhận ra ông trên phố không? Trước hết nàng đến nhà ông, sau đó đến câu lạc bộ, rồi đến nhà vài người bạn. Đến nỗi tối nay, thậm chí ngay lúc này, thiên hạ sẽ chỉ bàn tán đến ông thôi. Tất cả những người biết ông, mà số này nhiều lắm, sẽ vừa bắt chuyện vừa nói:

- Anh biết tin mới chưa?

- Ồ! Có, tội nghiệp cái anh chàng lông bông Trémorel! Đó là một chàng trai tuyệt vời. Chỉ có điều...

Ông hình dung nghe thấy người ta cứ lải nhải cái câu “chỉ có điều” với cái cười khẩy và đùa cợt bất nhã. Thế rồi, dù có xác định được ông đã tự tử hay chưa, họ bắt đầu chia chác chiến lợi phẩm của ông. Kẻ thì chiếm người tình của ông, kẻ thì mua ngựa của ông, kẻ thì bằng lòng với mấy món đồ đạc.

Thời gian đang gấp gáp. Âm thanh dây cót đang rít lên báo hiệu một tiếng chuông đồng hồ quả lắc. Đến giờ rồi.

Ông bá tước đứng lên, cầm lấy hai khẩu súng và bước đến cạnh giường, sửa soạn sao cho không bị ngã lăn ra sàn - một sự thận trọng phi lý, khó hiểu khi người ta còn bình tĩnh, tuy nhiên tất cả những kẻ tự tử đều làm như vậy.

Tiếng chuông đầu tiên báo nửa đêm vang lên... Ông không bóp cò.

Hector là một người can đảm và tiếng tăm dũng cảm của ông không có gì phải bàn. Ít nhất ông đã đấu tay đôi mười lần, người ta luôn thán phục vẻ bất cần nhạo báng của ông. Có lần ông đã giết chết một đối thủ, thế mà đến đêm vẫn ngủ rất say. Người ta kể tên ông về những món cá cược khủng khiếp, về những chuyện liều lĩnh điên rồ.

Đúng là thế, nhưng ông vẫn không bóp cò.

Từ hơn hai phút qua, đồng hồ đã điểm nửa đêm, ông Hector vẫn ngồi đó, súng tì vào thái dương.

Ta sợ ư? Ông tự hỏi.

Quả thực ông ta sợ và không muốn tự nhận điều đó. Ông ta lại đặt khẩu súng lên bàn rồi trở lại ngồi bên lò sưởi. Tứ chi ông đang run. Ta đang bồn chồn , - Ông tự nhủ - nó sẽ qua thôi. Và ông ngồi yên đến khi kim đồng hồ chỉ 1 giờ.

Ông cố sức tự chứng minh sự cần thiết phải tự tử. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ông không tự tử? Ông sẽ sống ra sao? Vậy là ông sẽ phải chịu lao động chứ!

Vả chăng, liệu ông có thể xuất hiện không, khi mà, thông qua miệng lưỡi của người tình, ông đã tuyên bố cho cả Paris biết về việc mình sẽ tự tử? Nếu ông xuất hiện thì tha hồ mà nghe la ó, chế nhạo!

Ông làm một cử chỉ tức giận mà ông tưởng là cơn dũng cảm lóe sáng và nhảy đến chỗ khẩu súng. Hơi lạnh của thép súng chạm vào da thịt làm cho ông có một cảm giác đến nỗi ông suýt ngất, liền buông khẩu súng xuống giường.

- Ta không làm được, - Ông nhắc đi nhắc lại trong con hoang mang - ta không làm được.

Nỗi đau thể xác làm ông hoảng sợ. Cả thân thể ông đang nổi loạn chống lại cái ý nghĩ về một viên đạn hung dữ sẽ xé rách da, cày xới thịt, nghiền nát cơ bắp và đập vỡ xương. Ông sẽ chảy máu, ngã xuống, cơ thể bị biến dạng, những mảnh óc bắn tung tóe lên tường.

Ôi! Sao ông lại không chọn một cái chết nhẹ nhàng hơn? Sao ông không chọn thuốc độc, hoặc bếp than cũng được; bếp than, như anh chàng nấu bếp của nhà Vachette ấy? Còn cái chuyện khôi hài về thế giới bên kia thì không còn làm ông sợ nữa.

Ông ta chỉ sợ mỗi một việc, đó là không có can đảm tự tử. Hết giờ phút này đến giờ phút khác, ông thấy bình tĩnh lại. Đó là một đêm khủng khiếp, một cơn hấp hối giống như của những kẻ tử tù trong ngục tối. Ông khóc vì đau khổ và tức giận, ông vò hai bàn tay, kêu van, cầu khẩn.

Cuối cùng, đến lúc trời sáng, trong cơn mệt mỏi rã rời, ông ngủ thiếp đi trên ghế bành.

Ba, bốn tiếng gõ cửa đã kéo ông ra khỏi giấc ngủ đầy bóng ma. Ông ra mở cửa. Anh chàng hầu phòng muốn đến xem ông có sai bảo gì không đang chết đứng bền ngưỡng cửa khi nhìn thấy một người quần áo xộc xệch, cà-vạt cởi nút, mặt vàng bệch, hai mắt sưng húp, tóc bết mồ hôi hai bên thái dương.

- Tôi không cần gì cả! - Ông Hector đáp - Tôi xuống trả phòng đây.

Ông xuống nhà. Ông còn vừa đủ tiền để trả phòng, vì lẽ đó ông chỉ có thể cho anh hầu phòng 6 xu tiền nước.

Rồi, không mục đích, không ý tưởng, ông rời cái khách sạn mà ở đó ông đã trải qua biết bao khổ sở. Chưa bao giờ ông quyết chết như lúc này, chỉ có điều ông ao ước có mấy ngày nghỉ ngơi, hoặc một tuần, để cho ông bình tĩnh lại và tỉnh táo. Nhưng sống kiểu gì trong một tuần? Ông chẳng còn một xu dính túi.

Một ý tưởng giải thoát chợt đến: hiệu cầm đồ.

Ông chỉ nghe loáng thoáng đến cái tên may mắn này, chính xác là đủ để biết rằng, với những món đồ trang sức của ông, người ta có thể tạm ứng cho ông một khoản tiền. Nhưng tìm hiệu cầm đồ ở đâu? Vì

không dám hỏi thăm, ông cứ đi tìm hú họa trong khu phố La-tinh mà ông hầu như không quen biết. Ông ngẩng cao đầu vững bước, bởi ông đang có một cái gì đó đế tìm, ông đang có một mục đích.

Đến phố Condé, trên tường một tòa nhà lớn màu đen, ông nhìn thấy một tấm biển ghi: Hiệu cầm đồ. Ông bước vào. Căn phòng nhỏ hẹp, ẩm ướt, bẩn thỉu và chật ních người. Đúng là nếu như căn phòng mà sầu thảm thì người vay tiền sẽ tỏ ra vui vẻ chịu đựng nỗi khốn cùng. Đó là những sinh viên và phụ nữ trong khu phố, trường học đang nói cười trong khi chờ đến lượt.

Bá tước Trémorel bước tới, trên tay cầm chiếc đồng hồ, sợi dây chuyền và một chiếc nhẫn kim cương rất đẹp mà ông vừa tháo ra khỏi ngón tay. Cảnh khốn khổ đã làm ông thấy nhút nhát, không biết phải hỏi ai. Nhìn vẻ lúng túng của ông, một phụ nữ trẻ thương tình nói:

- Này, ông hãy đặt đồ ở chỗ kia kìa, ở cuối tấm ván trước cánh cửa lưới sắt có rèm xanh đó.

Một lúc sau, có một giọng nói từ phòng bên cạnh vang lên:

-1.200 franc dành cho chiếc đồng hồ và chiếc nhẫn.

Khoản tiền lớn đã gây ra một cảm giác mạnh đến nỗi làm tất cả mọi người im bặt. Mọi con mắt đều đổ dồn tìm kiếm người triệu phú sắp sửa bỏ túi chừng ấy tiền. Người triệu phú nọ vẫn không đáp lại.

May mắn là người đàn bà vừa tư vấn đã ẩy tay ông:

- Tiền của ông đấy, 1.200 franc. - Chị ta nói - Ông trả lời đi nếu đồng ý, hoặc không.

- Tôi đồng ý. - Ông Hector nói to.

Một niềm vui sướng sâu lắng và lớn lao đã làm cho ông quên hẳn những nỗi khổ đau dằn vặt đêm qua. 1.200 franc! Món tiền này sẽ bằng biết bao nhiêu ngày. Ông chẳng đã nghe nói rằng có những viên chức một năm cũng chỉ kiếm được chừng ấy.

Những người đi vay kia đang cười nhạo ông. Họ cảm thấy như ở nhà mình. Họ có những cách trả lời ngắn gọn: “Vâng”, đó là những cách làm người ta cười thoải mái. Một số người đang nói chuyện thân mật với nhân viên cửa hàng hoặc đưa ra những lời nhận xét.

Ông Hector phải đợi một lúc lâu cho đến khi có một nhân viên đang ngồi viết sau một cánh cửa lưới sắt khác lại gọi to:

- 1.200 franc của ai?

Ông bá tước đã hiểu cái thủ tục này, liền bước tới:

- Của tôi. - Ông đáp.

- Tên ông?

Ông Hector ngập ngừng. Đọc to cái tên quý tộc của mình ở cái chốn này ư? Không bao giờ! Ông đọc một cái tên chợt thoáng qua:

- Durand.

- Giấy tờ ông đâu?

- Giấy tờ nào?

- Một tấm hộ chiếu, một tờ biên lai thuê nhà, hoặc một giấy phép săn bắn.

- Tôi không có thứ nào như thế cả.

- Vậy ông tìm đi, hoặc đưa đến đây hai nhân chứng có chức vị.

- Nhưng, thưa ông...

- Không có ông nào ở đây! Câu đó dành cho người khác...

Ông Hector cảm thấy vô cùng choáng váng vì sự bất trắc, giọng nói của anh nhân viên làm cho ông phẫn nộ. Ông nói:

- Vậy thì trả lại đồ trang sức cho tôi.

Người nhân viên nhìn ông với vẻ giễu cợt:

- Không được. Mọi vật cầm cố đã được đăng ký chỉ được trả lại trên cơ sở xác minh được quyền sở hữu hợp pháp.

Và không muốn nghe thêm gì nữa, anh ta tiếp tục công việc của mình:

- Một chiếc khăn choàng của Pháp, 35 franc, của ai đây?

Hector bước ra khỏi hiệu cầm đồ trong tiếng cười chế nhạo của đám đông.

Chưa bao giờ bá tước Trémorel lại phải chịu đau khổ ghê gớm như thế và thậm chí chưa bao giờ có một ý nghĩ về sự hoảng sợ như vậy. Sau tia hy vọng bỗng nhiên vụt tắt này, ông cảm thấy vực thẳm tối tăm dường như sâu hơn và nghiệt ngã hơn. Ông đã trở nên trần trụi hơn, bị lột trụi hơn cả kẻ bị đắm tàu bị sóng biển lột sạch những phần sót lại cuối cùng, hiệu cầm đồ vừa tước đi của ông cơ hội sống cuối cùng.

Tất cả cảnh thơ mộng khoác lác mà trước đây ông khoái chí dùng để tô vẽ cho câu chuyện tự tử, giờ đây đã tan biến, để lại một sự thật buồn bã nhất, đê tiện nhất.

Ông sẽ kết thúc, không giống như một con bạc lì lợm tự nguyện rời bỏ thảm xanh cùng khối tài sản của mình, mà như kẻ lừa đảo, khi bị bắt quả tang và bị săn đuổi, anh ta biết rằng mọi cánh cửa đã bị đóng lại. Cái chết của ông chẳng có gì tự nguyện, ông không còn khả năng do dự cũng như lựa chọn thời điểm kết liễu cuộc đời, ông sẽ tự giết chết mình do không còn khả năng sống thêm ngày nào nữa. Và chưa bao giờ ông thấy cuộc đời là một câu chuyện đẹp như thế. Chưa bao giờ ông cảm thấy sức lực và tuổi trẻ dồi dào như thế.

Bỗng nhiên, giống như ở một xứ chưa được khám phá, ông phát hiện thấy xung quanh có một đám trò vui, cái nào cũng đáng ghen tị, thế mà ông chưa được thưởng thức. Ông vẫn luôn huênh hoang là đã vắt kiệt cuộc sống để tìm thú vui, vậy mà ông vẫn chưa được sống. Ông đã có tất cả những gì người ta mua và bán, nhưng những cái người ta cho hoặc người ta chinh phục thì ông lại chẳng có gì.

Ông cũng không còn tự trách mình về số tiền 10.000 franc đã cho Jenny. Hối tiếc lại càng ít. Ông chỉ tiếc 200 franc đã chia cho đám gia nhân, tiếc món tiền bo hôm qua cho anh chàng hầu bàn ở nhà hàng; ít hơn nữa là 20 xu quẳng cho cô hàng hoa.

Ông đã cài bông hoa héo nhăn nheo đó lên khuy áo. Để làm gì? Trong khi 20 xu đó... Ông không còn nghĩ đến hàng triệu đồng phung phí, nhưng lại không xua đuổi được cái ý nghĩ về mấy đồng franc khốn nạn này.

Đó là kẻ ăn chơi hạnh phúc trên đời, kẻ mà hôm qua còn có khách sạn, có mười gia nhân, tám con ngựa trong chuồng, có khoản cho vay nợ như là kết quả của một tài sản không lồ bị phung phí, hôm nay lại trở thành bá tước Trémorel thèm hút thuốc mà không có tiền để mua một điếu xì gà; ông đang đói mà không có gì để trả cho bữa ăn rẻ tiền nhất.

Tất nhiên, nếu muốn thì ông vẫn có thể dễ dàng kiếm được nhiều tiền. Chỉ cần ông cứ bình thản quay về nhà, chống cự lại mấy ông mõ tòa, vật lộn trong cảnh phá sản.

Nhưng! Như thế có nghĩa là ông sẽ phải đương đầu với thiên hạ, sẽ thú nhận nỗi khiếp sợ không thể thắng được, đến phút cuối cùng ông sẽ phải chịu những cái nhìn độc ác hơn cả một viên đạn. Ta không có quyền đánh lừa công chúng như thế; khi đã tuyên bố tự tử thì ta phải chết. Như vậy là Hector sẽ chết bởi vì ông đã tuyên bố như thế, bởi vì báo chí đã loan tin. Điều này, ông vừa đi vừa tự nhận, vừa tự gán cho mình những điều chê trách cấy đắng nhất.

Ông nghĩ tới một chỗ xinh xắn, trong khu rừng Viroflấy, có lần ông đã đấu tay đôi; ông tự nhủ sẽ tự tử tại đây, thế là ông đi thẳng đến đó theo con đường tuyệt đẹp đi Point-du-Jour.

Giống như hôm qua, tiết trời hôm nay thật tuyệt, chốc chốc lại có từng tốp đàn bà và bọn trẻ đi vượt qua ông. Họ đang đi dã ngoại đâu đó, họ đã đi xa mà vẫn còn nghe thấy tiếng cười đùa.

Trong những quán rượu ngoại ô, nằm bên bờ sông, dưới những vòm cây kim ngân đang nảy lộc, có những người công nhân đang ngồi uống, cốc chạm leng keng. Họ đang tỏ ra hạnh phúc và hài lòng, niềm vui của họ như đang sỉ nhục cảnh khốn nạn hiện giờ của Hector. Chẳng lẽ chỉ mình ông là kẻ bất hạnh! Trong lúc đó ông thấy khát, một con khát ghê gớm không thể chịu nổi.

Vậy là, khi đi tới cầu Sèvres, ông rẽ khỏi con đường để bước xuống bờ, chỗ này khá dốc, để ra mép sông Seine. Ông cúi người, vốc nước vào lòng bàn tay để uống.

Ông cảm thấy mệt mỏi rã rời. Chỗ này có cỏ, ông ngồi xuống, nói đúng hơn là ngã bệt xuống. Cơn tuyệt vọng kéo đến, giờ đây ông cảm thấy cái chết là sự giải thoát; ông gần như vui sướng nghĩ rằng suy nghĩ của mình sẽ bị tiêu tan và sẽ không còn phải chịu đau khổ nữa.

Phía trên kia, chỉ cách ông mấy mét, là những cửa sổ đang mở của một trong những nhà hàng của xã Sèvres. Người ta có thể nhìn rõ ông từ chỗ đó cũng như từ trên cầu, nhưng ông không bận tâm đến điều đó, không còn bận tâm đến bất cứ điều gì.

Ở đây thì cũng như bất cứ chỗ nào thôi! Ông tự nhủ. Ông đã lên cò súng thì nghe thấy tiếng gọi:

- Hector! Hector!

Ông đứng phắt dậy, vừa cất khẩu súng vừa tìm xem ai đã gọi mình. Ở trên bờ, cách ông mấy bước, một người đàn ông đang chạy lại, dang hai tay ra.

Đó là một người trạc tuổi ông, có lẽ cao to hơn một chút, nhưng ăn mặc rất lịch sự, có khuôn mặt phúc hậu rạng rỡ, đôi mắt đen sáng long lanh toát lên sự chân thành và tử tế, một người có thiện cảm ngay từ cái nhìn đầu tiên, người mà ta sẽ yêu quý sau mấy ngày quen biết.

Hector đã nhận ra ông ta. Đó là người bạn lâu năm của ông, một người bạn từ thời trung học; họ đã từng một thời gắn bó hết mức với nhau, nhưng ông bá tước, khi thấy ông ta không đủ đảm bảo cho mình, đã dần dần ngừng gặp gỡ, không còn lui tới với ông ta từ hai năm nay.

- Sauvresy! - Ông kinh ngạc lên tiếng.

- Chính tớ đây! - Người đàn ông kia bước tới hổn hển, đỏ cả mặt. - Tớ vừa mới biết được những hành động của cậu, cậu đang làm cái gì thế?

- Ồ... Chẳng làm gì cả. - Hector lúng túng trả lời.

- Thật vớ vẩn! - Sauvresy nói tiếp - Vậy là những gì người ta nói với tớ sáng nay ở nhà cậu là thật, bởi vì tớ đã tới nhà cậu...

- Thế họ đã nói gì với cậu?

- Rằng họ không biết chuyện gì đã xảy ra với cậu, rằng hôm qua cậu đã bỏ người tình và tuyên bố sẽ bắn vỡ sọ mình. Đã có một tờ báo đưa tin rất chi tiết về cái chết của cậu.

Cái tin này đã gây cho ông bá tước Trémorel một ấn tượng khủng khiếp.

- Vậy là cậu đã thấy rõ, - Ông đáp với một giọng bi thảm - tớ cần phải chết.

- Tại sao? Để tránh cho cái tờ báo kia khỏi bị phiền toái về chuyện cải chính à?

- Nếu không chết thì nguời ta sẽ nói là tớ rút lời...

- Hay nhỉ! Vậy thì, theo cậu, nguời ta buộc phải làm một chuyện điền rồ chỉ vì lý do là đã nói thì phải làm ư? Thật phi lý. Tại sao cậu muốn tự tử?

Hector suy nghĩ, ông ta thoáng thấy mình có khả năng được sống.

- Tớ bị phá sản. - Ông buồn rầu đáp.

- Hóa ra là vì thế... Này, anh bạn, tớ bảo này, cậu đúng là một thằng điên. Phá sản ư?... Đó là một tai họa, nhưng ở tuổi chúng mình, vẫn có thế làm giàu được. Đó là chua kể, cậu vẫn chưa phá sản đến mức như cậu nói đâu, bởi vì tớ đây, tớ có 100.000 livre tiền lợi tức.

-100.000 livre...

- Đấy là mức rẻ nhất, vì toàn bộ tài sản của tớ là bằng ruộng đất mà nó chỉ đem lại không quá bốn phần hăm.

Ông Trémorel biết bạn mình giàu có, nhưng không nghĩ đến mức như thế. Có lẽ một phản ứng ghen tị thiếu suy xét đã khiến ông thốt ra câu nói:

- Thế ư! Trước đây tớ đã từng có nhiều hơn thế mà sáng nay phải nhịn đói!

- Thật khốn khổ! Thế mà cậu không nói gì cho tớ biết! Mà đúng rồi, trông cậu thảm hại quá; lại đây, nhanh lên! - Rồi Sauvresy kéo ông vào nhà hàng.

Ông Trémorel nhăn nhó đi theo người bạn vừa cứu sống mình. Ông nhận thức được việc mình đã bị bắt quả tang đang trong tình trạng nực cười đến ghê tởm. Một người đã quyết bắn vỡ sọ mình thì khi bị gọi tên, anh ta sẽ bóp cò chứ không cất giấu súng. Trong tất cả những người bạn của ông, duy nhất có một người yêu quý ông đủ mức để không nhìn thấy cái cảnh nực cười này, một người hào hiệp để không chế nhạo ông, đó là Sauvresy.

Nhưng khi đã yên vị trong phòng trước chiếc bàn đầy thức ăn thì ông Hector không còn sức để giữ vẻ cứng đờ nữa. Ông đang trải qua một tiếng đồng hồ nhạy cảm điên rồ, một tiếng đồng hồ thổ lộ tâm tình sau khi được cứu thoát khỏi sự nguy hiểm kinh người. Ông trở lại là chính mình, một chàng trai trẻ, chân thật. Ông kể tất cả cho Sauvresy biết, kể hết tất cả, kể những câu chuyện khoác lác khi xưa, những nỗi khiếp sợ trong giấy phút cuối cùng, kể về con hấp hối ở khách sạn, về những con tức giận, về những niềm hối tiếc, những nỗi lo sợ của ông tại hiệu cầm đồ...

- Ôi! - Ông nói - Cậu đã cứu tớ, cậu là người bạn duy nhất của tớ, người anh em của tó!

Họ ngồi trong nhà hàng chuyện trò suốt hai tiếng đồng hồ.

- Thôi nào, - Cuối cùng Sauvresy nói - chúng mình chốt lại kế hoạch nhé. Cậu muốn biến mất vài ngày, tớ hiểu. Ngay tối nay cậu sẽ viết vài dòng gửi cho báo chí. Ngày mai tớ sẽ lo mọi chuyện, tớ thạo việc này, không cần biết sự việc của cậu đến đâu, tớ sẽ dễ dàng nhận việc cứu cậu, chúng ta có tiền, các chủ nợ sẽ dễ tính thôi.

- Nhưng tớ sẽ ra sao? - Hector hỏi vì hoảng sợ nghĩ đến cảnh phải sống cách ly.

- Cái gì? Tất nhiên tớ sẽ đưa cậu đến ở nhà tớ, đến Valteuillu. Thế cậu không biết là tớ đã lấy vợ à? Ôi, anh bạn của tôi ơi, không ai hạnh phúc như tớ đâu. Tớ đã lấy vợ, một cuộc hôn nhân vì tình yêu, tớ lấy một người đàn bà đẹp nhất và phúc hậu nhất. Cậu sẽ là nguời anh em của chúng tớ... Mà thôi, đi nào, xe của tớ đang đậu trước cổng kia.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.