Bất chấp mọi sự hối hả dễ hiểu, nhưng phải đến 10 giờ đêm, Cha Plantat và các khách mời mới có thể rời lâu đài Valfeuillu.
Thay vì đi đường lúc sáng, họ trở về bằng con đường dốc nhỏ chạy dọc lãnh địa của bà Lunascol rồi theo đường chéo dẫn thẳng đến cây cầu treo bằng thép. Đó là con đường ngắn nhất dẫn đến quán trọ mà ông Lecoq đã gửi món đồ.
Ông Thẩm phán già, nãy giờ hơi phân tâm vì công việc điều tra, vừa đi vừa cảm thấy lo lắng cho ông bạn Courtois. Ông quay sang nói với ông bác sĩ Gendron:
- Không biết ông ấy đã gặp phải tai họa gì? Vì tính ngớ ngẩn khó chịu của gã gia nhân vô lại kia mà chúng ta hoàn toàn chẳng biết được gì. Chính vì nhận được thư của con gái cả của ông, cô Laurence, mà người ta sai gã đi gọi ông!
Trước mặt họ là quán trọ Cây Lựu.
Trước cửa quán, một người đàn ông to lớn như hộ pháp, mặt mày sáng sủa, hai chân bắt tréo đứng tựa cột, trên miệng ngậm chiếc tẩu dài bằng đất nung, đang hút thuốc, nói chuyện với một người lao động ngành đường sắt cố tình từ Évry đến đây để nghe tin. Đó chính là ông chủ quán. Vừa nhìn thấy Cha Plantat, lão đã kêu lên:
- Ôi, ngài Thẩm phán hòa giải, thật là một tai họa! Xin mời các vị vào nhà, xin mời! Trong phòng có nhiều nguời đã nhìn thấy bọn giết người đấy. Cái lão Bợm Nhậu vô lại! Lại còn tay Guespin kia nữa! Ôi! Sáng mai tôi sẵn sàng đi Corbeil xem người ta dựng giá treo cổ cho bọn chúng.
- Hãy rủ lòng thương một chút đi ông chủ Leniant, ông đã quên quá nhanh Guespin và lão Bợm Nhậu là những khách hàng trung thành nhất của ông đấy.
Ông chủ Leniant hơi cụt hứng trước câu đáp trả của Cha Plantat, nhưng lão nhanh chóng lấy lại vẻ trâng tráo. Lão đáp:
- Ôi khách hàng gì cái ngữ ấy! Thế là cái tay Guespin bất lương kia sẽ cuỗm mất ba mươi tám franc mà tôi chẳng bao giờ có cơ hội đòi lại được nữa.
- Ai mà biết được! - Ông Thẩm phán hòa giải nói giọng mỉa mai - Vả lại, chắc là tối nay ông sẽ kiếm được nhiều hơn số tiền đó, vì ông đang có bao nhiêu khách như trong ngày hội Orcival kia kìa!
Trong lúc diễn ra cuộc đối đáp ngắn ngủi này, ông Lecoq đã vào quán để lấy túi ngủ. Vì tư cách của ông không còn bí mật nữa, nên ông không nhận được sự đón tiếp tử tế như ban sáng, lúc ấy người ta tưởng ông là gã bán đồ dệt kim đã nghỉ việc. Chỉ có bà Leniant, một bà chủ quán mà chẳng cần đến chồng cũng tống được lũ say rượu hết tiền ra cổng, là còn hạ cố trả lời. Khi ông hỏi hết bao nhiêu thì bà phẩy tay khinh bỉ nói: “Khỏi!”
Thấy ông ra khỏi quán với túi ngủ trên tay, Cha Plantat liền bảo:
- Ta phải nhanh chân lên, vì tôi còn muốn tạt qua nhà ông Xã trưởng tội nghiệp xem thế nào.
Ba người rảo bước và ông Thẩm phán già, bị xáo động bởi những linh tính chẳng lành, vừa tìm cách xua đi những nỗi lo lắng vừa nói tiếp:
- Nếu nhà ông Courtois có chuyện gì hệ trọng thì giờ này tôi phải được thông báo rồi. Có lẽ cô Laurence chỉ viết rằng cô bị ốm hoặc chỉ hơi khó ở. Còn bà Courtois, người đàn bà nhân hậu nhất trên đời, thường lo lắng vì những chuyện không đâu, chắc muốn chồng mình đi tìm con gái ngay. Rồi các vị sẽ thấy đó chỉ là báo động giả.
Nhưng không. Đã xảy ra một tai họa nào đó rồi.
Trước cánh cổng sắt của nhà ông Xã trưởng có khoảng hơn chục người đàn bà phố chợ tụ tập. Gã gia nhân Baptiste đang đứng giữa hươ tay nói huyên thuyên. Nhưng khi thấy ông Thẩm phán già đáng sợ gần đến nơi thì đám đàn bà ngồi lê đôi mách vội biến đi như bầy chim mòng biển hoảng loạn. Họ đã nhận ra ông từ khá xa nhờ ánh sáng của cột đèn đường. Bởi lẽ trung tâm xã Orcival này đang sở hữu và kiêu hãnh phô trương 20 cột đèn, là món quà của ông Courtois, được thắp sáng mỗi tối đến nửa đêm những lúc trời không có trăng sao. Hai mươi cây cột đèn thắp bằng dầu hỏa đã được mua thanh lý của một thành phố khá giả vừa nâng cấp hệ thống đèn chiếu sáng bằng khí gas. Đèn đường của Orcival có lẽ chẳng chiếu sáng được bao nhiêu, vào các buổi tối mùa đông, khi sương mù giăng kín, thì dầu hỏa còn tỏa ra cái mùi kinh khủng.
Cuộc viếng thăm bất ngờ của ông Thẩm phán già làm cho gã Baptiste vốn tính thầm lặng này cảm thấy phật ý rõ rệt, bởi đám cử tọa bỏ chạy khiến gã bị ngắt quãng giữa lúc con hùng biện đang lên cao trào. Nhưng vì có nỗi sợ lớn của một kẻ hiền từ, nên gã vội che giấu vẻ phật ý bằng nụ cười thường nhật.
- Ôi! Thưa ngài! - Gã kêu lên khi Cha Plantat chỉ cách gã ba bước - Ôi, thưa ngài, thật là một chuyện ghê gớm! Tôi đang chạy đi tìm ngài...
- Ông chủ cần tôi ư?
- Thật không thể tin được. - Gã Baptiste nói tiếp - Tối nay, lúc ra khỏi lâu đài Valfeuillu, ông chủ đã co cẳng chạy rất nhanh, đến nỗi tôi gần như không thể theo kịp.
Gã Baptiste ngừng lời thốt ra một suy nghĩ chợt đến:
- Ông chủ không có vẻ nhanh nhẹn, đúng không ạ? Thế mà có đây, vâng, khá nhanh chân, cho dù to béo!
Cha Plantat sốt ruột giậm chân.
- Cuối cùng thì, - Gã gia nhân nói tiếp - chúng tôi về đến đây, tốt rồi! Ông chủ lao vào phòng khách như một cơn bão, thấy bà chủ đang ngồi khóc nức nở. Ông chủ thở đứt hơi đến nỗi gần như không thể nói nên lời. Đôi mắt giương to, rồi ông nói: “Có chuyện gì? Có chuyện gì?” Thế là, bà chủ, lúc ấy có nói được gì đâu, liên chìa bức thư của tiểu thư cho ông.
Ba người nghe mà như có than hồng dưới chân, trong khi gã vô lại nhận ra điều đó nên cứ nhẩn nha từng câu.
- Vậy là thế này, - Gã nói tiếp - ông chủ đón lấy bức thư, đến bên cửa sổ để nhìn cho rõ mới đọc được. Ồ, chỉ một cái liếc mắt, ông chủ đã đọc hết bức thư. Đến lúc bấy giờ - ta thường thấy những việc kì lạ như thế - Ông rống lên một tiếng kêu khản đặc, như thế này này, các vị ạ: “Ôi!” Rồi ông hươ hai tay lên trời như con chó đang bơi, sau đó quay người hai vòng rồi ngã lăn ra bụp như cái túi rơi, mặt úp xuống đất. Thế là xong!
- Ông ấy chết rồi ư? - Cả ba người cùng kêu lên.
- Ồ không, thưa các ngài. - Gã Baptiste đáp với nụ cười dễ thương - Rồi các ngài sẽ thấy.
Ông Lecoq chắc chắn là người kiên nhẫn, nhưng cũng không đến mức như người ta tưởng. Bực bội trước tốc độ của câu chuyện, ông đặt chiếc túi ngủ xuống đất, tay phải nắm chặt cánh tay Baptiste, trong khi tay trái lăm le cây roi song rất dẻo có tay cầm bằng bạc mạ vàng, mà ông luôn đem theo, làm nó kêu rít lên. Ông nói:
- Nào anh bạn, ta yêu cầu anh kể nốt cho xong đi, nghiêm túc đấy...
Ông chỉ nói có thế. Gã gia nhân, kẻ được coi là không ai dám la mắng bao giờ, trở nên hoảng sợ trước người đàn ông tóc vàng nhỏ bé này, người có một giọng nói đặc biệt, với nắm tay cứng hơn gọng kìm. Mắt dán vào chiếc roi song của ông Lecoq, gã vội nói rất nhanh:
- Ông chủ vừa bị một cơn đột quỵ. Cả nhà đang loạn lên. Trừ tôi ra, mọi người ai cũng hoảng sợ; tôi nghĩ phải đi gọi ai đó, tôi biết ông Gendron đang ở chỗ lâu đài rồi, hay là đi gọi ông bác sĩ quanh đây, hay là ông dược sĩ, ai cũng được. Thật may mắn. Ớ góc phố tôi gặp Robelot, anh thầy thuốc nắn xương. Tôi bảo: “Anh đi theo tôi”. Anh ta theo tôi về nhà, gạt mọi người sang bên, chích máu ở hai cánh tay cho ông chủ. Lát sau, ông chủ đã thở được, mở mắt và cuối cùng đã nói được. Bây giờ ông ấy đã bình phục, đang nằm trên sofa ở phòng khách, nước mắt chảy dài. Ông bảo muốn gặp ngài Thẩm phán hòa giải, ngay lập tức tôi...
- Thế còn... Tiểu thư Laurence? - Cha Plantat hỏi với giọng nghẹn ngào.
Anh chàng Baptiste làm bộ đau lòng đáp:
- Ôi, thưa các ngài, đừng nhắc đến tiểu thư nữa... Thật ngao ngán!
Ông Thẩm phán và ông bác sĩ không nghe thêm nữa, họ vội vã bước vào nhà. Theo chân họ là ông Lecoq sau khi đã giao cho Baptiste chiếc túi ngủ của mình và nói: “Đem cái này đến nhà ông Thẩm phán hòa giải cho ta, nhanh chân lên.” làm gã gia nhân “không ai dám la mắng kia” run lên và vội vã ra đi.
Tai họa một khi vào một nhà nào thì dường như nó đóng dấu định mệnh ngay từ ngưỡng cửa. Trên thực tế có thể không phải như vậy, nhưng đó là cảm nghĩ không cưỡng lại được của những người được báo tin trước.
Khi bước vào sân trong, ông bác sĩ và Cha Plantat có cảm giác ngôi nhà hôm qua vẫn còn tỏ ra hiếu khách, vui vẻ và náo nhiệt đến thế mà giờ đây nó mang một dáng vẻ sầu thảm.
Ở tầng trên, mọi người nhìn thấy ánh đèn lướt qua lướt lại lấp loáng. Người ta đang lo cho cô con gái trẻ nhất của ông Courtois, cô Lucile, nguời vừa bị một con choáng kinh hoàng. Ớ tiền sảnh, ngồi ở chân bậc cầu thang là một cô bé 15 tuổi làm hầu phòng cho tiểu thư Laurence. Giống như mọi phụ nữ nông thôn khi tuyệt vọng, cô nâng tạp dề lên che mặt khóc nức nở. Mấy người gia nhân đứng ngây ra với vẻ hoảng hốt, không biết làm gì và phải như thế nào trong cảnh rối loạn này.
Trong ánh sáng nhạt nhòa của hai cây nến, cánh cửa phòng khách mở toang. Trên chiếc ghế bành rộng kê gần lò sưởi, bà Courtois đang trong tư thế nằm ngửa hơn là ngồi. Ở cuối phòng, phía gần cửa sổ trông ra vườn, ông Courtois đang nằm bẹp trên sofa. Người ta đã cởi cho ông chiếc áo khoác và để cho nhanh, khi tính mạng ông đang phụ thuộc vào một mũi chích, người ta đã giật hai ống tay áo sơ mi và chiếc khăn choàng ra. Giờ đây, sau khi chích máu, người ta đã sửa lại áo xống quanh hai cánh tay trần của ông.
Bên cạnh cửa có một người đàn ông nhỏ nhắn, ăn mặc giống như những người thợ thủ công khá giả sống quanh Paris, thái độ vô cùng lúng túng. Đó chính là Robelot, anh chàng thầy thuốc nắn xương, người vẫn được yêu cầu đứng đó để đề phòng xem có chuyện gì xảy ra.
Nhìn thấy Cha Plantat bước vào, ông Courtois liền tỉnh khỏi trạng thái thất thần ủ rũ. Ông đứng lên, loạng choạng bước ra đón và gần như đổ sụp vào vòng tay của ông Thẩm phán già. Ông nói với giọng đau lòng:
- Ôi, ông bạn của tôi! Tôi là một người khốn khổ, vâng, thật khốn khổ!
Người ta không còn nhận ra ông Xã trưởng bất hạnh, ông đã thấy đổi ghê gớm. Còn đâu con người hạnh phúc nhất trần gian, với khuôn mặt tươi cười, cái nhìn tự tin, mà tư thế của ông công khai nói lên tầm quan trọng và sự phát đạt như sự thách thức đối với mọi người. Chỉ trong mấy tiếng, ông đã già đi hai mươi tuổi. Ông trở nên kiệt quệ, đờ đẫn, đầu óc điên loạn đang bị buông trôi giữa đại dương cấy đắng. Ông chỉ còn biết nhắc đi nhắc lại một câu vô nghĩa:
- Khốn khổ thân tôi, thật khốn khổ!
Ông Thẩm phán già, một con người từng trải, chính là một người bạn tốt cần thiết trong cơn hoảng loạn ghê gớm này. Ông dìu ông Courtois quay trở lại sofa, ngồi xuống bên, tay nắm tay, cố làm dịu nỗi đau vô hạn này. Ông gợi lại cho người cha bất hạnh này rằng vợ ông, người bạn đời của ông, vẫn còn đó để cùng khóc than cho người con gái tội nghiệp đã mất. Ông chẳng vẫn còn một cô con gái khác để yêu quý chăm lo đó sao!
Nhưng con người khốn khổ này không còn nghe hiểu được gì. Ông rên rỉ:
- Ôi, ông bạn của tôi ơi! Ông chưa biết hết đâu. Giá như nó mất ở đây, trong vòng tay chăm sóc của người thân, được yêu thương sưởi ấm đến hơi thở cuối cùng, thì nỗi tuyệt vọng của tôi dù có vô hạn thì cũng không bằng nỗi đau đang giết chết tôi đây. Giá mà ông biết được, giá mà ông biết...
Cha Plantat đứng bật dậy như hoảng hốt vì những điều vừa nghe thấy. Ông Xã trưởng nói tiếp:
- Nhưng mà ai có thể nói cho tôi biết nó đã chết ở đâu và chết như thế nào! Ôi Laurence của cha, chẳng lẽ không có ai ở đó nghe thấy tiếng khò khè hấp hối để cứu con ư! Sao con lại ra nông nỗi này, ôi, con gái trẻ và hạnh phúc như thế!
Ông bỗng thức tỉnh khỏi cơn tuyệt vọng một cách đáng sợ rồi kêu lên:
- Ta đi thôi, ông Plantat, ta phải đến nhà xác xem sao!
Rồi ông lại ngồi phịch xuống, miệng thì thào câu nói gở:
- Nhà xác!
Tất cả những người chứng kiến cảnh đau lòng đó chỉ biết đứng bất động, lạnh người không nói được lời nào và không cả dám thở. Người ta chỉ nghe thấy tiếng rên rỉ nghẹn ngào của bà Courtois cùng tiếng nấc của cô hầu gái ngoài tiền sảnh.
- Ông biết tôi là bạn ông mà. - Cha Plantat thì thầm - Phải, tôi là người bạn tốt nhất của ông. Ông cứ nói đi, hãy tin tôi, nói hết cho tôi nghe.
- Chuyện là thế này... - Ông Courtois bắt đầu - Ông biết đấy...
Nhưng hai hàng lệ tuôn trào đã làm ông không nói tiếp được nữa. Thế là vừa đưa cho Cha Plantat bức thư nhàu nhĩ thấm đẫm nước mắt, ông vừa nói:
- Đây, ông đọc đi... Đó là bức thư cuối cùng của nó.
Cha Plantat tới bên chiếc bàn có đặt mấy cây nến và vì chữ viết bị xóa nhiều chỗ, nên ông phải khó nhọc mới đọc được:
“Cha mẹ yêu quý,
Hãy tha lỗi cho con, con xin cha mẹ, tha lỗi cho đứa con bất hạnh vì nỗi đau mà con khiến cha mẹ phải chịu. Than ôi! Con thật có tội, nhưng sự trừng phạt thật kinh khủng, trời đất ơi!
Trong một ngày lầm lạc, bị lôi kéo bởi một đam mê định mệnh, con đã quên tất cả, quên tấm gương và lời khuyên của người mẹ hiền từ thánh thiện, quên những bổn phận thiêng liêng nhất và lòng yêu thương của cha mẹ. Con đã không biết, vâng, con đã không biết cưỡng lại kẻ khóc lóc dưới chân mình thề bởi tình yêu vĩnh cửu mà bây giờ lại bỏ con.
Giờ đây, thế là hết, đời con chẳng còn gì nữa, con đã bị ô uế. Con đã có thai và chẳng thể giấu được lỗi lầm kinh khủng này nữa.
Ôi, cha mẹ kính yêu, xin đừng nguyền rủa con. Con là con gái của cha mẹ, không biết cúi đầu trước sự khỉnh miệt. Con không thể sống khi đã mất hết danh dự.
Khi bức thư này đến tay cha mẹ thì con đã không còn trên cõi đời này nữa. Con đã đi khỏi nhà cô con, đã đi xa, thật xa, đến một nơi mà không ai nhận ra. Ở đó con sẽ kết liễu cảnh khốn khổ và tuyệt vọng của mình.
Thế là vĩnh biệt cha mẹ yêu quý, con xin vĩnh biệt! Tiếc thay con không thể quỳ gối trước mặt cha mẹ để xin tha thứ lần cuối cùng.
Mẹ yêu quý của con, cha nhân từ của con, hãy thương đứa con gái bất hạnh lầm lạc, tha lỗi cho con, hãy quên con đi. Đừng bao giờ để cho em gái Lucile của con biết chuyện này...
Một lần nữa con xin vĩnh biệt, con có đủ dũng cảm, danh dự buộc con phải làm thế.
Con xin gửi tới cha mẹ lời câu chúc cuối cùng của đứa con gái tội nghiệp Laurence...”
Những giọt nước mắt chảy dài hai má của ông Thẩm phán già khi ông cố đọc bức thư tuyệt mệnh này. Một cơn giận dữ khủng khiếp thầm lặng, với những ai hiểu rõ ông, đang làm cho bộ mặt ông co giật. Cuối cùng, khi đọc hết bức thư, ông thốt lên với giọng khàn khàn:
- Khốn nạn!
Nghe rõ câu nói đó, ông Courtois kêu lên:
- Ôi, phải rồi, thật khốn nạn cái kẻ quyến rũ đê hèn kia đã rình mò trong bóng tối để cướp đi đứa con gái đáng yêu, kho báu quý giá nhất của tôi. Than ôi, nó có biết đời là thế nào đâu! Hắn đã thì thầm vào tai nó những lời yêu đương làm rung động con tim mọi cô gái, nó đã tin hắn và giờ hắn bỏ nó. Ôi giá mà tôi biết hắn, giá mà tôi biết...
Đột nhiên ông ngừng lời. Một ánh sáng của lý trí vừa lóe lên trong vực thẳm tuyệt vọng mà ông rơi vào. Ông vội nói:
- Không, người ta không thế từ bỏ một người con gái đẹp và quý phái như vậy. Khi mà trong túi cô ta có món hồi môn đáng giá hàng triệu đồng thì người ta không từ bỏ cô ta đâu, trừ phi trong hoàn cảnh bắt buộc.
Tình yêu có hết thì lòng tham vẫn còn. Kẻ cám dỗ bỉ ổi kia chắc là đã có vợ. Và kẻ khốn nạn đó không thể là ai khác ngoài gã bá tước Trémorel. Chính hắn đã giết con gái tôi.
Không khí im lặng trở nên sầu thảm hơn, nó xác minh cho ông Xã trưởng thấy rằng ý nghĩ của ông cũng là ý nghĩ của những người xung quanh. Ông kêu lên:
- Thế là tôi mù rồi. Vì tôi đã tiếp đón con người này, đã chìa bàn tay trung thực ra và gọi hắn là bạn. Ôi, tôi có quyền báo thù công nhiên chứ?
Nhưng nghĩ đến tội ác ở lâu đài Valteuillu, ông lại nói tiếp với nôi thất vọng vô bờ:
- Thế mà tôi lại không thể trả thù được! Tôi không thể tự tay giết hắn được nữa, không được nhìn hắn phải chịu đau khổ kéo dài, không được nghe hắn xin tha mạng! Chỉ vì hắn đã chết rồi. Hắn đã chết dưới tay những kẻ giết người đỡ bỉ ổi hơn hắn.
Ông bác sĩ và Cha Plantat cố trấn an ông Xã trưởng bất hạnh nhưng vô ích, ông vẫn tiếp tục lón tiếng than vãn:
- Ôi Laurence, con gái yêu của cha, tại sao con lại mất lòng tin như vậy? Con đã sợ cha giận, cứ như thể một người cha có thể không yêu con gái nữa. Bị tuyệt vọng, mất danh dự, rơi xuống dưới đáy xã hội, cha vẫn yêu con. Chẳng phải con là con của cha sao, chẳng phải con chính là cha sao? Than ôi, con chẳng hiểu trái tim một người cha. Làm cha không phải biết tha thứ mà là biết quên. Thôi nào, đáng ra con có thể còn hạnh phúc hơn nữa. Con của con ư? Có sao, nó cũng là máu mủ của cha. Nó có thể lớn lên trong gia đình ta và cha có thể âu yếm nó như âu yếm con. Con của con, chẳng phải là ruột thịt của cha ư? Buổi tối, bên lò sưởi, cha sẽ bế nó ngồi lên đùi như đã bế con lúc còn bé.
Ông khóc vì mủi lòng. Ông nhớ lại hàng nghìn kỷ niệm về thời cô bé Laurence vẫn chơi đùa cạnh ông trên thảm nhà. Những kỷ niệm nhứ thể vừa diễn ra hôm qua.
- Ôi con gái của cha, - Ông lại cất tiếng - có phải cảnh đời ngoài kia đã làm con sợ, một cảnh đời độc ác, đạo đức giả và nhạo báng? Nhưng mà chúng ta sẽ ra đi mà. Cha sẽ bỏ Orcival, sẽ từ chức Xã trưởng. Chúng ta sẽ đến một nơi thật xa, đến cuối trời nước Pháp, đến Đức, hay Italia. Có tiền thì làm gì cũng được. Bất cứ điều gì... Vậy mà không được nữa. Tôi có hàng triệu đồng mà con gái tôi lại tự tử mất rồi.
Ông đưa hai tay che mặt, nghẹn ngào trong tiếng nấc.
- Và chẳng làm thế nào biết được nó ra sao! - Ông nói tiếp - Có chuyện gì kinh khủng xảy ra không? Nó đã chọn cách chết như thế nào? Ôi con tôi, con gái tôi đẹp như thế! Các ông có nhớ không, thưa ông bác sĩ và ông Plantat, các ông có nhớ mái tóc đẹp uốn quanh trên vầng trán thanh tú, có nhớ đôi mắt to lung linh, nhớ hai hàng mi dài uốn cong của nó không? Còn nụ cười của nó, các ông thấy không, giống như ánh mặt trời của đời tôi. Tôi yêu biết bao giọng nói của nó và cái miệng của nó, tươi tắn đến thế khi nó hôn lên má tôi những cái hôn thật kêu. Nó chết rồi ư? Mất tích ư? Thế mà không làm thế nào biết được chuyện gì đã xảy ra với thân thể mềm mại và xinh đẹp của nó. Biết đâu nó đang bị bỏ rơi dưới đáy bùn của con sông nào đó. Các vị hãy nhớ lại cái xác của bà bá tước Trémorel sáng nay. Nghĩ đến đó cũng đủ làm tôi tan nát rồi. Ôi lạy Chúa, con gái của tôi. Cho tôi được gặp nó một tiếng, một phút thôi cũng được, để tôi có thể trao nụ hôn cuối cùng lên đôi môi lạnh giá của nó.
Ấy thế mà cũng con người này mới đây còn đứng cao trên thềm lâu đài Valfeuillu để tuôn ra những lời lẽ sáo rỗng trước những kẻ hiếu kì trong xã.
Vâng, nhưng nỗi mê muội là thước đo bình quân xóa nhòa mọi sự phân biệt của tinh thần và trí tuệ. Nỗi tuyệt vọng của một bậc thiên tài cũng chẳng khác gì của kẻ ngu đần.
Từ lúc nào đó, ông Lecoq đã thực lòng cố nén nhịn không để một giọt nước mắt nóng bỏng trào ra. Ông là một con người khắc kỷ về nguyên tắc sống và nghề nghiệp. Nhưng nghe thấy những lời lẽ đau buồn cầu than của một người cha tuyệt vọng, ông không còn kìm nổi lòng mình. Quên mất mọi người có thể nhận ra cảm xúc của mình, ông bước ra khỏi bóng tối mà từ nãy vẫn ẩn mình rồi nói với ông Courtois:
- Tôi, Lecoq, thanh tra an ninh, xin hứa danh dự là sẽ tìm ra xác của tiểu thư Laurence.
Ông Xã trưởng tội nghiệp tuyệt vọng bám lấy lời hứa này như một kẻ chết đuối vớ được cọng cỏ đang trôi trong tầm tay.
- Phải rồi, - Ông nói - chúng ta sẽ tìm thấy nó, đúng không? Xin ông hãy giúp tôi. Người ta bảo là chẳng có gì mà cảnh sát không làm được, cảnh sát biết hết, nhìn thấy hết. Chúng ta sẽ biết chuyện gì đã xảy ra với con gái tôi. Cảm ơn ông, - Ông nói thêm - ông là một người tử tế. Vừa nãy tôi đã tiếp đón ông thiếu chu đáo, đã kiêu ngạo ngu ngốc tỏ vẻ bề trên; hãy tha lỗi cho tôi nhé. Đó là do những định kiến ngớ ngẩn: tôi đã đón tiếp ông với thái độ coi thường, trong khi không hiểu sao tôi lại tiếp đãi long trọng cái tên bá tước Trémorel khốn nạn kia. Xin cảm ơn ông lần nữa, chúng ta sẽ làm được, rồi ông sẽ thấy, chúng ta sẽ phải giúp nhau, sẽ huy động toàn bộ cảnh sát, sẽ lục soát cả nước Pháp. Cần tiền ư? Tôi có tiền đây, tôi có hàng triệu đồng, ông cứ việc lấy...
Mệt mỏi đến kiệt sức, ông loạng choạng ngã phịch xuống sofa.
- Ta không nên ở đây lâu thêm nữa, - Ông bác sĩ Gendron thì thầm vào tai Cha Plantat - ông ấy cần đi nằm, sau những cơn chấn động như thế này thì một cơn mê sảng tinh thần không có gì đáng ngạc nhiên.
Ông Thẩm phán hòa giải liền bước tới chỗ bà Courtois khi ấy vẫn ngồi suy sụp trên ghế bành. Bị lún sâu trong đau khổ, dường như bà chẳng nhìn chẳng nghe thấy gì.
- Thưa bà, - Ông gọi - thưa bà!
Bà rùng mình rồi đứng lên với vẻ ngơ ngác.
- Lỗi ở tôi! - Bà nói - Tôi có lỗi quá, một người mẹ cần phải hiểu tâm tư con gái như hiểu lòng bàn tay mình. Tôi đã không đoán được bí mật của Laurence, tôi là người mẹ tồi.
Ông bác sĩ cũng đến bên.
- Thưa bà, - Ông tuyên bố với giọng khẩn thiết -phải đưa ông nhà đi nằm ngay. Tình trạng của ông rất nghiêm trọng, dứt khoát phải cho ông ngủ một lát. Tôi sẽ chuẩn bị một liều thuốc cho ông...
- Ôi, lạy Chúa! - Người đàn bà tội nghiệp vò hai bàn tay kêu lên - Ôi, lạy Chúa tôi!
Rồi nỗi lo sợ về một tai họa mới có thể cũng đáng sợ chẳng kém tai họa trước làm cho bà có chút tỉnh táo, bà sai gia nhân dìu ông Courtois về phòng. Bà cũng lên phòng ông, theo sau là ông bác sĩ Gendron. Chỉ còn lại ba người trong phòng khách: ông Thẩm phán hòa giải, ông Lecoq và anh thầy thuốc nắn xương Robelot, người vẫn đứng cạnh cửa phòng.
- Tội nghiệp Laurence, - Ông Thẩm phán già thì thầm - bất hạnh thấy cô gái!
- Tôi cảm thấy, - Vị nhân viên an ninh nhận xét -chính ông bố mới là người đáng thương. Ở tuổi đó, có khả năng ông không vực dậy nổi sau cú sốc như vậy. Dù gì thì cuộc đời ông ấy cũng tan nát.
Cả ông, một nhân viên an ninh, cũng bị xúc động và nếu như ông cố che giấu cảm xúc - do lòng tự trọng -thì dứt khoát ông cũng đã phải thổ lộ với bức chân dung trên nắp hộp kẹo rồi.
- Từ lâu, - Ông Thẩm phán hòa giải nói tiếp - tôi đã có linh cảm về tai họa xảy ra hôm nay. Tôi đã đoán được bí mật của Laurence, không may là tôi đã đoán quá muộn.
- Và ngài đã không thử...
- Sao? Trong những tình huống tế nhị thế này, khi danh dự của một gia đình đáng kính phụ thuộc vào một lời nói, thì cần hết sức thận trọng. Tôi có thể làm được gì? Cảnh báo ông Courtois ư? Rõ ràng là không. Vả lại có nói thì ông ấy cũng không tin. Ông ấy thuộc loại người không muốn tin điều gì, chỉ có sự việc tàn nhẫn mới làm ông tỉnh ngộ.
- Có thể can thiệp với bá tước Trémorel.
- Ông bá tước có thể sẽ phủ nhận hết. Ông ấy sẽ hỏi tôi có quyền gì mà can thiệp vào chuyện ấy. Cách đó chỉ dẫn đến mối bất hòa giữa tôi với ông Courtois.
- Nhưng còn cô gái?
Cha Plantat cất tiếng thở dài đáp:
- Nói chung, mặc dù ghét dính vào những chuyện không phải của mình, nhưng một hôm tôi đã thử nói chuyện với cô ấy. Với thái độ vô cùng thận trọng, có thể nói là với sự tế nhị như một người mẹ, không để cho cô ấy biết rằng tôi biết tất cả, tôi đã cố cho cô ấy biết cái vực sâu mà cô ấy đang lún vào.
- Rồi cô ấy trả lời sao?
- Không nói gì. Cô ấy chỉ cười đùa, giống như những người đàn bà cười đùa để che giấu bí mật. Từ đó tôi không bao giờ có được 15 phút đồng hồ ở một mình với cô ấy. Và trước khi sự việc bất cẩn này xảy ra - bởi vì nói chuyện là một sự bất cẩn, đúng ra phải hành động - thì tôi là người bạn thân nhất của cô ấy. Không có ngày nào cô ấy không đến quậy phá nhà kính của tôi. Tôi đã để mặc cho cô ấy phá những cây cảnh quý hiếm nhất, trong khi tôi chẳng cho ai một bông hoa nào, kể cả Đức Giáo hoàng. Cô ấy đã độc đoán biến tôi thành người trồng hoa. Vì cô mà tôi sưu tập một bộ cây thạch thảo xứ Cap. Tôi đã được giao nhiệm vụ chăm sóc các thùng trồng hoa cho cô...
Sự thổ lộ tâm tình của ông đạt đến mức mủi lòng đến nỗi ông Lecoq, trong khi nhìn trộm ông, đã không kìm được cái nhăn mặt ranh mãnh.
Ông Thẩm phán già định nói tiếp thì chợt nghe thấy tiếng động ở tiền sảnh, ông liền quay sang và nhận ra sự có mặt của Robelot, anh chàng thầy thuốc nắn xương. Lập tức ông tỏ thái độ khó chịu ra mặt.
- Anh đó hả, anh chàng kia? - Ông hỏi.
Anh ta nở một nụ cười khúm núm đê tiện:
- Vâng, thưa ngài Thẩm phán hòa giải, xin sẵn sàng hầu ngài.
- Nghĩa là anh đã nghe thấy hết câu chuyện của chúng tôi?
- Ồ, điều đó thì không, thưa ngài Thẩm phán hòa giải, tôi đang đợi xem bà Courtois có sai bảo gì tôi không.
Một suy nghĩ bất chợt xuất hiện trong đầu Cha Plantat, ông thấy đổi ánh mắt; ra hiệu khuyên ông Lecoq chú ý, rồi dịu giọng bảo anh chàng thầy thuốc nắn xương:
- Thế thì lại đây, thầy Robelot.
Ông Lecoq khinh bỉ nhìn anh ta.
Anh chàng thầy thuốc nắn xương xã Orcival có vẻ ngoài nhỏ nhắn gầy còm, nhưng trên thực tế lại có sức khỏe phi thường. Mái tóc húi cua của anh ta để lộ vầng trán rộng thông minh. Đôi mắt sáng của anh ta có ngọn lửa của mọi ham muốn cháy rực, khi nào anh ta quên kiểm soát thì nó bộc lộ sự táo tợn vô sỉ. Đôi môi mảnh dẹt trơ trọi trên chiếc cằm nhẵn nhụi của anh ta luôn nở một nụ cười rẻ tiền. Nhìn từ xa một chút, với tầm vóc nhỏ bé và khuôn mặt không râu, trông anh ta giống lũ trẻ ranh bỉ ổi của Paris, hiện thân cho mọi sự hư hỏng mà hình ảnh tưởng tượng về chúng còn nhơ nhuốc hơn cả cái nơi nhơ nhớp mà chúng sa vào để kiếm từng đồng xu trong cảnh không nhà cửa.
Được ông Thẩm phán hòa giải mời gọi, anh ta bước vào phòng khách, mỉm cười chào:
- Ngài Thẩm phán hòa giải có tình cờ và may mắn cần đen tôi chăng?
- Không, thầy Robelot, không hề. Tôi chỉ muốn chúc mừng anh đã kịp thời chích máu cho ông Courtois. Cú chích máu của anh có lẽ đã cứu mạng ông ấy.
- Có lẽ là như thế. - Anh chàng thầy thuốc nắn xương đáp.
- Ông Courtois là người hào phóng, ông ấy nhận rõ ích lợi của việc anh làm.
- Ồ, tôi không đòi hỏi gì ông ấy đâu. Nhờ trời, tôi không cần ai thương cả. Chỉ cần người ta trả công cho những gì tôi làm là tôi bằng lòng rồi.
- Vâng, tôi biết, người ta đã nói với tôi như thế, việc làm ăn của anh rất tốt, chắc là anh thỏa mãn.
Lời lẽ của Ông Plantat trở nên thân tình gần như tình cảm cha con. Người ta thấy ông rất quan tâm đến sự phát đạt của anh thầy thuốc Robelot.
- Thỏa mãn ư? - Anh ta nói tiếp - Không đến mức như ngài Thẩm phán nghĩ đâu. Đối với dân nghèo thì cuộc sống đắt đỏ lắm, lại còn có những khoản thu như thế này, những khoản thu chết tiệt này chẳng ngon ăn đâu.
- Dù sao, chính anh đã mua được cánh đồng cỏ Morin ở dưới miền Évry.
- Vâng, thưa ngài.
- Đồng cỏ Morin ấy đẹp đó, dù nó hơi ẩm. Cũng may anh có một bãi đá sỏi ở chỗ mấy mảnh đất mà bà góa Frapesle bán cho.
Chưa bao giờ anh thầy thuốc lại thấy ông Thẩm phán hòa giải thích chuyện trò và hiền hậu đến thế, nhưng anh ta không cho thấy chút ngạc nhiên nào.
- Mấy mảnh đất tồi tệ. - Anh Robelot đáp.
- Không tệ như anh nói đâu. Với lại, anh chẳng đã mua được món khác nữa của nhà khai mỏ Peyron còn gì?
- Một miếng đất chẳng đáng gì.
- Đúng thế, nhưng nó vẫn được trả bằng tiền mặt hẳn hoi. Anh thấy rõ cái nghề thầy thuốc không bằng cấp cũng không đến nỗi tồi.
Đã nhiều lần bị theo dõi về việc hành nghề chữa bệnh phi pháp, nhưng anh chàng Robelot vẫn thấy cần phải phản bác ông Thẩm phán.
- Nếu tôi có chữa bệnh cho mọi người, - Anh ta khẳng định - thì cũng không bắt người ta trả tiền cho tôi.
- Vậy thì, - Cha Plantat nói tiếp - phải chăng cái nghề bán cây thuốc đã làm giàu cho anh?
Rõ ràng cuộc nói chuyện đang chuyển thành cuộc hỏi cung, anh chàng thầy thuốc nắn xương cảm thấy lo lắng.
- Tôi cũng kiếm tàm tạm nhờ cây thuốc. - Anh ta đáp.
- Và vì là người chỉn chu và biết tiết kiệm, nên anh đã mua được đất.
- Tôi còn chữa cho cả gia súc nữa, - Robelot nhanh nhảu nói tiếp - món này cũng đem lại cho tôi khá nhiều lời. Họ vừa hỏi thăm tôi từ cách xa hơn ba dặm. Tôi chữa bệnh cho ngựa, bò, cừu.
- Cũng vẫn không có bằng cấp?
Anh thầy thuốc nắn xương tỏ vẻ khinh bỉ, nói:
- Một mảnh bằng không làm nên khoa học. Tôi á, tôi chẳng thua gì lũ bác sĩ thú y học ở trường. Tôi học thú y trên đồng cỏ và các chuồng gia súc. Nói chẳng phải khoe khoang chứ không ai hơn tôi trong việc chữa bệnh sưng phồng, bệnh sán óc hay bệnh đậu cừu đâu.
Giọng ông Thẩm phán hòa giải ngày càng nhân từ:
- Tôi biết anh là người tháo vát và đầy kinh nghiệm. Vâng, bác sĩ Gendron, người mà anh từng làm việc cùng, có lúc đã ca ngợi về trí thông minh của anh.
Anh chàng thầy thuốc nắn xương thoáng giật mình với vẻ bồn chồn, cho dù rất nhẹ nhưng vẫn không thoát khỏi đôi mắt của Cha Plantat. Ông nói tiếp:
- Vâng, ông bác sĩ yêu quý này đã khẳng định với tôi rằng chưa bao giờ ông gặp một trợ lý phòng thí nghiệm có hiểu biết như anh. Ông ấy bảo tôi: “Anh Robelot có trình độ và sở thích về hóa học cũng như tôi, anh ấy hiểu rõ những thao tác cực kì khó khăn.”
- Thế ư? Tôi chỉ cố làm hết sức mình thôi, bởi vì tôi được trả công xứng đáng và tôi luôn thích học hỏi.
- Và chỗ ông Gendron là một trường học tốt cho anh, thầy Robelot ạ: ông ấy tiến hành những công trình nghiên cứu rất đáng quan tâm. Đáng chú ý nhất là những công trình và thí nghiệm về chất độc.
Nỗi lo lắng dần chiếm lĩnh anh thầy thuốc nắn xương bắt đầu lộ rõ; anh ta đưa mắt láo liên. Anh ta đáp như để trả lời cho có chuyện:
- Vâng, tôi đã được chứng kiến những cuộc thí nghiệm rất lạ lùng.
- Vậy thì, - Cha Plantat nói - là người thích học hỏi và ham hiểu biết, anh hãy tận hưởng co hội đi. Những ngày tới đây, ông bác sĩ sắp có một đề tài nghiên cứu rất hay, chắc chắn ông ấy sẽ nhờ anh phụ tá.
Anh thầy thuốc Robelot là người quá tinh tế nên từ mấy phút trước anh ta không thể không đoán ra cuộc trò chuyện này, đúng hơn là cuộc hỏi cung, có một mục đích. Nhưng là mục đích gì? Ông Thẩm phán hòa giải muốn đi đến đâu? Anh ta tự hỏi về điều đó mà không khỏi có chút hoảng sợ khó hiểu. Rồi khi nhanh chóng hồi tưởng lại mình đã trả lời biết bao câu hỏi có vẻ phù phiếm và nhớ lại những câu hỏi đó đã dẫn mình đến đâu, anh ta chợt rùng mình run sợ. Anh ta tự cho mình khôn khéo và có thể tránh được những câu hỏi khác bằng cách nói:
- Tôi luôn sẵn sàng nghe lệnh thầy cũ, bất cứ khi nào thầy cần tôi.
- Ông ấy sẽ cần đến anh, tôi cam đoan như vậy. -Cha Plantat tuyên bố.
Và bằng giọng dửng dưng trái với cái nhìn nặng như chì đang xoáy vào anh chàng thầy thuốc nắn xương, ông nói thêm:
- Công việc sẽ rất thú vị và nhiệm vụ thì khó khăn. Anh bạn ạ, người ta sẽ khai quật xác chết của ông Sauvresy.
Chắc chắn anh chàng Robelot đang chuẩn bị đón nhận một điều khủng khiếp và đã lấy hết can đảm để đương đầu. Tuy nhiên cái tên Sauvresy giáng xuống đầu anh ta như một nhát búa, anh ta lắp bắp với giọng tắc nghẹn:
- Sauvresy!
Không cần nghe anh ta nói, Cha Plantat đã quay mặt đi chỗ khác và vẫn tiếp tục với cái giọng mà người ta thường dùng khi nói về những sự việc không quan trọng như về mưa nắng, trời đẹp:
- Phải, người ta sẽ khai quật xác ông Sauvresy. Người ta đang nghi ngờ - tòa án luôn nghi ngờ mà - rằng ông ấy chết không phải vì một căn bệnh hoàn toàn tự nhiên.
Anh chàng thầy thuốc nắn xương phải dựa người vào tường để khỏi ngã.
- Vậy là, - Ông Thẩm phán hòa giải nói tiếp - người ta đã yêu cầu bác sĩ Gendron. Các vị biết đấy, khi làm thí nghiệm phân tích các vật phẩm, ông bác sĩ đã tìm ra các chất phản ứng cho thấy sự có mặt của một chất alcaloide nào đó. Ông ấy đã cho tôi biết về một tờ giấy thử nào đó...
Quyết tâm lấy hết nghị lực, Robelot cố đứng thẳng dậy để giữ tư thế rồi nói:
- Tôi biết các kiểu tiến hành của bác sĩ Gendron, nhưng tôi không thấy ai có thể là đối tượng của những nghi ngờ mà ngài Thẩm phán hòa giải muốn nói tới.
Cha Plantat lúc này tỏ ra đã quyết. Ông trả lời:
- Tôi nghĩ người ta khẳng định hơn là nghi ngờ. Anh biết đấy, bà Trémorel đã bị ám sát, chắc là người ta đã khám xét giấy tờ của bà và đã tìm thấy những bức thư, một lời khai thuộc loại không thể chối cãi, những tờ biên lai... Không biết còn những gì nữa.
Anh Robelot cũng biết ông Thẩm phán đang nói đến chuyện gì, tuy nhiên anh ta vẫn có can đảm để nói:
- Thôi kệ! Hy vọng là tòa án có sự nhầm lẫn.
Rồi, để tỏ ra có can đảm, mặc dù cơn bồn chồn đang làm anh ta run rẩy như lá dương trước gió, anh chàng này cố bắt ép đôi môi mỏng nở một nụ cười và nói thêm:
- Không thấy bà Courtois xuống, mà ở nhà đang có người đợi tôi, ngày mai tôi sẽ quay lại vậy. Xin chào ngài Thẩm phán và mọi người.
Anh ta bước ra cửa và chẳng mấy chốc người ta đã nghe thấy tiếng cát sỏi ngoài sân lạo xạo dưới chân anh ta. Tiếng chân anh ta bước loạng choạng như người say rượu.
Sau khi anh thầy thuốc nắn xương đi khỏi, ông Lecoq bước tới trước mặt Cha Plantat, ngả mũ nói:
- Tôi xin chào thua, thưa ngài, xin bái phục ngài; ngài tài giỏi chẳng kém gì thầy tôi, thầy Tabaret vĩ đại.
Quả thực là vị nhân viên an ninh đã ”bị xúc động”. Người nghệ sĩ trong ông đã thức dậy. Ông đang phải đương đầu với một vụ án khó khăn, một trong những vụ án có thể làm tăng gấp ba số lượng phát hành của báo tòa án. Tất nhiên còn nhiều chi tiết ông vẫn chưa nắm được, vẫn chưa biết được đầu mối khỏi đầu, nhưng ông đã nhìn thấy mọi việc trên tổng thể.
Khi thâm nhập vào hệ thống lý lẽ của ông Thẩm phán hòa giải, ông đã theo dõi từng bước lập luận của nhà quan sát rất tinh tế này và phát hiện ra những điều phức tạp của một vụ án mà dưới con mắt của ông Thẩm phán Domini lại có vẻ thật đơn giản. Bộ óc tinh nhanh của ông, được dùng để tháo gỡ mớ suy luận rắc rối, đã chắp nối mọi tình tiết mà ông đã phát hiện ra trong ngày, để rồi ông phải thành thực thán phục Cha Plantat.
Nhìn bức chân dung yêu quý, ông nghĩ: Cả hai bọn anh, anh và ông lão ranh mãnh kia, sẽ có nhiệm vụ giải thích rõ mọi chuyện. Tuy nhiên vấn đề là ông không được tỏ ra quá kém cạnh.
- Thưa ngài, - Ông nói - trong khi ngài hỏi cung anh chàng ranh mãnh kia, một cuộc hỏi cung rõ ràng là hữu ích, thì tôi cũng không để phí thời gian. Tôi đã ngó nhìn một chút dưới gầm đồ đạc và tìm thấy mẩu giấy này.
- Xem nào.
- Đó là chiếc phong bì thư của cô Laurence.
- Ông có biết nơi ở của bà cô mà tiểu thư Laurence đã ở đó mấy ngày qua không?
- Ở Fontainebleau, hình như thế.
- Thế mà phong bì này lại có tem đóng dấu của Paris, bưu cục phố Saint-Lazare; mặc dù tôi biết tem bưu điện chẳng xác nhận điều gì...
- Dù sao nó cũng là một dấu hiệu. Và không chỉ có vậy, tôi đã tự ý đọc bức thư của tiểu thu Laurence để trên bàn.
Cha Plantat vô tình nhíu mày.
- Vâng, - Ông Lecoq nói tiếp - có lẽ chuyện đó không tế nhị lắm, nhưng muốn ăn thì phải lăn vào bếp! Vậy thì, ngài đã đọc bức thư này rồi, đã soi xét nó, đã xem kĩ chữ viết, đã cân nhắc từng chữ, đã chú ý đến cấu trúc của từng câu văn.
- Ồ! - Ông Thẩm phán kêu lên - Vậy là tôi không nhầm, ông có cùng ý nghĩ như tôi!
Rồi, với một niềm hưng phấn hy vọng, ông nắm lấy hai bàn tay viên cảnh sát và bóp chặt trong tay mình như tay một nguời bạn cũ. Họ định nói chuyện tiếp thì nghe thấy tiếng bước chân trên cầu thang. Ông bác sĩ Gendron xuất hiện trên ngưỡng cửa.
- Ông Courtois ổn rồi, - Ông nói - gần như đã ngủ, ông ấy sẽ bình phục thôi.
- Vậy thì chúng ta chẳng còn gì phải làm ở đây nữa, -Thẩm phán nói - ta đi thôi, ông Lecoq chắc sắp chết đói rồi.
Ông đưa ra mấy lời khuyên cho đám gia nhân vẫn đứng ở tiền sảnh rồi nhanh chóng kéo hai vị thực khách về nhà. Vị nhân viên an ninh đã kịp nhét vào túi bức thư cùng chiếc phong bì của cô Laurence tội nghiệp.