Một sự im lặng khá dài sau bản tường trình của vị nhân viên an ninh. Có lẽ hai người kia đang tìm cách phản bác. Cuối cùng ông bác sĩ Gendron lên tiếng:
- Trong tất cả những điều này, tôi không thấy vai trò của anh chàng Guespin.
- Tôi cũng không thấy, thưa ông. - Ông Lecoq đáp - Và ở đây, tôi phải thú nhận với ông cái mạnh và cái yếu trong tiến trình điều tra của mình. Với phương pháp tái hiện tội ác trước khi bàn đến tội phạm, tôi không thể nhầm cũng không thể lập luận nửa vời. Hoặc là mọi lập luận của tôi sẽ đúng, hoặc chẳng có lập luận nào đúng cả. Được ăn cả ngã về không. Nếu tôi đúng, thì anh chàng Guespin đã không dính vào tội ác - ít ra là trực tiếp - bởi vì không có tình tiết nào để ta nghi ngờ có sự tiếp tay từ bên ngoài. Nếu trái lại, thì tôi nhầm...
Ông Lecoq ngừng lời. Hình như ông đang dỏng tai lắng nghe tiếng động lạ ngoài vườn.
- Nhưng tôi không nhầm, - Ông nói tiếp - tôi chưa nói ra cho các ngài một lời buộc tội nữa dành cho ông bá tước và đó là lời buộc tội rất xác đáng.
- Ồ! - Ông bác sĩ thốt lên - Giờ thì còn cần gì nữa?
- Hai vẫn hơn một, thưa ngài, mà tôi thì hay nghi ngờ. Vậy là, chiều nay, lúc được ngài Thẩm phán hòa giải để tôi ở một mình trong chốc lát, tôi đã hỏi anh chàng hầu phòng Frangeois là liệu anh ta có biết chính xác số lượng giày của ông chủ không. Anh ta trả lời rằng có, rồi dẫn tôi vào phòng làm việc của ông bá tước, nơi ông để giày. Trong đó thiếu một đôi giày ống bằng da thuộc của Nga mà theo lời cam đoan của Frangois thì ngay buổi sáng ông bá tước Trémorel đã đặt chúng ở đây. Đôi giày này, tôi đã đi tìm rất kĩ mà không thấy. Cả chiếc cà-vạt màu xanh lơ sọc trắng mà ông bá tước đã thắt vào ngày mùng 8, cũng mất tích.
- Đó! - Cha Plantat kêu lên - Đây là bằng chứng không thể chối cãi cho giả định của ông về đôi giày và khăn choàng.
- Quả thực, - Vị nhân viên an ninh đáp - tôi cảm thấy rằng các sự việc đã được tái lập đầy đủ để chúng ta đi xa hơn. Giờ chúng ta hãy xem xét các sự kiện mà chắc là chúng đã quyết định...
Từ lúc nào đó, ông Lecoq vừa nói vừa kín đáo quan sát bên ngoài.
Bất thình lình, không nói một lời, với vẻ táo bạo như sét đánh và chính xác như cú nhảy vồ chuột của một con mèo rình mồi, ông phóng người lên thành cửa sổ đang mở rồi nhảy bật ra vườn.
Gần như đồng thời người ta nghe thấy tiếng ngã, một tiếng kêu tắc nghẹn, một tiếng chửi rủa, rồi tiếng giậm chân vật lộn.
Ông bác sĩ và Cha Plantat vội lao đến cửa sổ. Trời bắt đầu sáng, cây cối rung rinh trước cơn gió mát ban mai, cảnh vật hiện ra lờ mờ trong màn sương trắng đêm hè đang lởn vởn trên sông Seine.
Ở giữa bãi cỏ trước cửa sổ thư phòng, ông bác sĩ và ông Thẩm phán hòa giải loáng thoáng nhìn thấy hai người đàn ông, đúng hơn là hai cái bóng, đang giận dữ vung tay vật lộn. Họ liên tục nghe thấy tiếng lịch bịch của một nắm đấm rắn chắc đập vào da thịt. Trong chốc lát, hai cái bóng lại biến thành một, sau đó tách ra để rồi lại nhập vào làm một; một trong hai cái bóng ngã xuống đất, nó đứng dậy ngay, rồi lại ngã.
- Các ngài không phải bận tâm, - Ông Lecoq kêu to - tôi tóm được tên vô lại này rồi.
Cái bóng người đang đứng thẳng, chắc là bóng vị nhân viên an ninh, lại cúi xuống, cuộc vật lộn tưởng đã kết thúc lại bắt đầu. Cái bóng nằm dưới đất giãy giụa với vẻ tuyệt vọng kịch liệt. Thân hình anh ta trông như một vệt màu nâu lớn trên bãi cỏ, hai chân tung ra những cú đạp như lên cơn co giật.
Có lúc cuộc vật lộn hỗn loạn đến nỗi ông Gendron và Cha Plantat không còn nhận ra cái bóng nào là của vị nhân viên an ninh. Cả hai đúng thẳng lên và lại vật lộn. Bỗng nhiên có tiếng kêu đau đớn kèm theo tiếng chửi rủa:
- Ôi! Đồ vô lại!
Rồi ngay lập tức có một tiếng kêu đau xé vang lên và cái giọng chế nhạo của ông Lecoq lên tiếng:
- Đây rồi! Tôi đã thuyết phục được anh ta phải đến chào xã giao, các ngài soi đèn cho chúng tôi một tí.
Ông bác sĩ và ông Thẩm phán cùng lao đến chỗ chiếc đèn. Sự hấp tấp làm cho họ chậm chân, đúng lúc ông bác sĩ Gendron nắm được cây đèn giơ lên ngang tầm mắt, thì cửa phòng khách bị đẩy mạnh mở toang.
- Tôi xin giới thiệu, thưa các ngài! - Vị nhân viên an ninh nói - Đây là anh Robelot, thầy thuốc nắn xương của xã Orcival, kẻ khôn khoan buôn bán cây thuốc và có tài đánh thuốc độc.
Cha Plantat và ông Gendron sững sờ đến nỗi không biết nói thế nào.
Quả thật đây là anh chàng thầy thuốc nắn xương, đang ngọ nguậy quai hàm bị trật khớp. Đối thủ đã đánh ngã anh ta bằng cú lên gối khủng khiếp giống như ngón đòn tự vệ cuối cùng và là phương sách tối hậu của những kẻ du thủ du thực tồi tệ nhất trên đường phố Paris.
Nhưng sự có mặt gần như khó giải thích của anh chàng Robelot không phải là điều khiến ông Thẩm phán và bạn mình kinh ngạc. Sự sững sờ của họ là do vẻ ngoài của con người khác kia, người mà, với nắm tay rắn như thép và cứng như gọng kìm đang giữ anh chàng cựu nhân viên bào chế của ông bác sĩ và đẩy anh ta vào phòng.
Rõ ràng đây vẫn là giọng nói của ông Lecoq, vẫn bộ quần áo đó, vẫn chiếc cà-vạt được thắt nút một cách điệu đà, vẫn cái dây xích đồng hồ bằng sợi cước màu vàng, vậy mà không phải, không, không còn là ông Lecoq nữa.
Lúc nhảy ra ngoài qua cửa sổ, ông có mái tóc vàng, với bộ râu quai nón chải chuốt, đến khi vào qua cửa chính, ông lại có mái tóc nâu và bộ mặt nhẵn nhụi.
Người mà lúc đi ra là nguời đàn ông đứng tuổi, với diện mạo đồng bóng, cu xử tùy hứng, lúc thì làm ra vẻ mặt ngớ ngẩn, lúc lại ra vẻ thông minh; còn khi trở vào nhà lại là một người đàn ông trẻ đẹp chừng 35 tuổi, với ánh mắt kiêu kỳ và đôi môi run rẩy; mái tóc xoăn màu nâu đen tuyệt đẹp làm nổi bật nước da xanh mái khỏe khoắn và khuôn mặt cương nghị rắn giỏi.
Trên cổ ông, cách cằm một chút, một vết thương đang chảy máu.
- Ông Lecoq! - Cuối cùng thì ông Thẩm phán hòa giải thốt lên.
- Chính là ông ta đây. - Vị nhân viên an ninh đáp -Nhưng lần này là Lecoq thật.
Rồi quay sang anh chàng thầy thuốc nắn xương, ông dùng vai thô bạo huých anh ta một cái, nói:
- Vào đi!
Anh thầy thuốc nắn xương ngã ngửa xuống chiếc ghế bành, nhưng viên cảnh sát vẫn tiếp tục giữ anh ta.
- Vâng, - Ông nói tiếp - tên vô lại này đã giật mất bộ tóc vàng của tôi. Chính nhờ có hắn và trái với ý muốn của tôi, mà tôi phải xuất hiện với bộ dạng tự nhiên thế này, với khuôn mặt tạo hóa ban cho, đó đúng thực là tôi.
Ông phác một cử chỉ bất cần, rồi, nửa giận dỗi, nửa mỉm cười, nói thêm:
- Tôi là Lecoq thật sự đây, và, không nói dối, sau các ngài chỉ có ba người biết bộ mặt thật của tôi: hai ông bạn thân tín và một người bạn gái kém thân tín hơn, là người mà ban nãy tôi nói đến.
Cha Plantat và ông Gendron đưa mắt dò hỏi với vẻ khẩn thiết đến nỗi vị nhân viên an ninh phải nói tiếp:
- Thôi đành vậy! Trong nghề của mỗi người, không phải mọi thứ đều có màu hồng. Để loại bỏ những con sâu mọt của xã hội, ta phải đương đầu với những hiểm nguy buộc ta phải tranh thủ sự quý mến của những người đương thời nếu không có được tình cảm của họ. Như các ngài đã thấy, tôi đã bị kết án tử hình bởi bảy gã bất lương, những kẻ nguy hiểm nhất từng tồn tại ở Pháp. Tôi đã làm cho chúng bị bắt, sau khi ra tù, chúng đã thề - đó là những kẻ biết giữ lời - rằng tôi chỉ được chết dưới tay chúng. Lũ khốn đó hiện đang ở đâu? Bốn tên ở Cấyenne, một tên ở Brest; tôi có tin tức của bọn này rồi. Nhưng còn hai tên kia? Tôi đã để mất dấu chúng. Ai mà biết được lỡ một tên trong số chúng chẳng đã theo dõi tôi đến tận đây, rằng đến mai, tại một góc đường vắng, tôi sẽ nhận một nhát dao dài sáu tấc vào bụng?
Ông nở nụ cười u sầu rồi nói tiếp:
- Và chúng tôi bất chấp nguy hiểm mà chẳng được đền bù. Nếu mai tôi chết thì người ta sẽ dọn cái xác đem về một trong những chỗ ở chính thức của tôi và coi như xong.
Giọng nói của viên cảnh sát trở nên cấy đắng, sự cáu giận ngấm ngầm trong giọng ông cho thấy rõ vẻ thù oán.
- Rất may, - Ông nói tiếp - tôi đã thận trọng. Chừng nào còn thi hành nhiệm vụ thì tôi vẫn phải dè chừng và khi cảnh giác thì tôi không sợ bất cứ ai. Nhưng có những ngày ta chán ngay chuyện sợ hãi, muốn bất chợt rẽ qua đường mà không sợ bị dao đâm. Những ngày đó tôi sẽ trở lại là chính mình, lau sạch mặt mũi, vứt bỏ mặt nạ, bộ mặt thật sẽ được thoát khỏi hàng nghìn cái mặt nạ cải trang mà tôi đã phải đeo vào. Thế là đã 15 năm tôi làm ở Sở Cảnh sát mà không ai ở đó biết bộ mặt thật, kể cả màu tóc của tôi...
Anh thầy thuốc Robelot tỏ ra khó chịu trên ghế và định làm một cử động.
- Này, đừng có vớ vẩn! - Ông Lecoq đột nhiên đổi giọng bảo gã - Mi sẽ bị rầy rà đó, tốt hơn là đứng lên rồi nói cho chúng ta biết mi làm gì trong vườn?
- Nhưng mà ông bị thương rồi kìa! - Ông Thẩm phán hòa giải kêu lên khi thấy một dòng máu chảy dọc trên áo sơ mi của vị nhân viên an ninh.
- Ồ, không sao, thưa ngài, chỉ là vết xước thôi, thằng vô lại này có một con dao phay dài rất nhọn định chơi tôi...
Ông Thẩm phán hòa giải dứt khoát muốn kiểm tra vết thương, chỉ khi ông bác sĩ nhận ra vết thương hoàn toàn vô hại thì mới quay sang hỏi anh chàng thầy thuốc nắn xương:
- Nào, thầy Robelot, anh vào nhà tôi làm gì?
Kẻ khốn nạn kia không trả lời.
- Coi chừng đấy, - Cha Plantat kiên nhẫn nói - im lặng tức là anh xác nhận vào nhà tôi với những ý đồ xấu xa nhất.
Cha Plantat hết lời thuyết phục nhưng anh ta vẫn ngang bướng giữ im lặng. Thế là ông Gendron quyết định lên tiếng, với hy vọng, không phải là không có lý, rằng mình có thể thuyết phục được anh chàng trợ lý cũ. Ông hỏi:
- Trả lời đi, mi muốn gì?
Anh chàng thầy thuốc cố gắng sức, hai mắt lộ vẻ đau khổ rõ rệt. Với quai hàm bị sái thế này, nói chuyện thật là đau đớn.
- Tôi đến để ăn trộm, - Anh ta đáp - tôi xin nhận tội.
- Ăn trộm! Trộm cái gì?
- Tôi không biết.
- Người ta không trèo tường, không đánh liều phải vào tù mà không có ý định rõ ràng từ trước.
- Thôi được, vậy thì là tôi muốn...
Anh ta lại ngừng lời.
- Muốn gì? Nói!
- Muốn lấy những cây hoa hiếm trong nhà kính.
- Bằng con dao phay hả, phải không? - Ông Lecoq cười khẩy nói.
Thấy anh ta nhìn mình nảy lửa, ông Lecoq nói tiếp:
- Đừng nhìn ta như thế, ta không sợ đâu. Với lại, mi là người khôn ngoan đừng có nói những điều ngớ ngẩn. Nếu mi tưởng bọn ta ngốc hơn mi nhiều thì mi đã nhầm, ta báo trước cho mi đó.
- Tôi muốn lấy mấy chậu hoa để bán. - Robelot lúng búng nói.
- Thôi đi! - Ông Lecoq nhún vai nói - đừng nhắc đi nhắc lại những điều ngu ngốc. Mi, một kẻ có tiền mua những mảnh đất đắt tiền mà lại đi ăn cắp mấy chậu thạch thảo! Đó là việc của nguời khác. Chiều nay, anh bạn ạ, mi đã bị nguời ta lộn trái ra như một cái găng tay cũ. Trái với ý muốn, mi đã đánh hơi thấy một điều bí mật làm mi dấy dứt khổ sở và giờ mi đến đây để định lấy lại nó. Khi suy nghĩ về nó, mi, một kẻ quỷ quyệt, đã tự nhủ rằng chắc ông Plantat vẫn chưa nói với ai và mi đến với dự định khôn khéo là ngăn cản ông từ nay không thể nói cho bất cứ ai.
Anh thầy thuốc nắn xương định phản đối.
- Thôi câm đi, - Ông Lecoq bảo gã - thế còn con dao?
Trong khi diễn ra cuộc hỏi cung ngắn ngủi này, Cha Plantat ngẫm nghĩ rồi thì thầm:
- Có thể tôi đã nói quá sớm.
- Tại sao vậy? - Vị nhân viên an ninh đáp lời - Tôi đang tìm một chứng cứ hiển nhiên để cung cấp cho ông Domini, chúng ta sẽ giao nộp anh bạn dễ thương này cho ông ấy, nếu không hài lòng thì tức là ông ấy quá khó tính.
- Nhưng chúng ta làm gì với tên khốn nạn này đây?
- Trong nhà ngài chắc phải có một chỗ nhốt hắn được chứ, nếu cần tôi sẽ trói hắn lại.
- Tôi có một buồng kho kín. - Ông Thẩm phán hòa giải đề xuất.
- Buồng đó có chắc chắn không?
- Ba bề của nó là tường dày, bề thứ tư thông thẳng ra đây, được đóng kín bằng hai lớp cửa, buồng không có lỗ thông hơi, không có cửa sổ, chẳng có gì cả.
- Vậy ta làm thôi.
Thế là Cha Plantat mở căn buồng dùng để chứa đồ linh tinh của thư phòng, nó giống như một hố đen, ẩm thấp vì thiếu không khí, chật hẹp, đầy những cuốn sách bỏ đi, những bó nhật báo và giấy tờ cũ.
- Mi sẽ ở trong đó, giống như một ông vua con. -Viên cảnh sát bảo gã thầy thuốc.
Rồi, sau khi lục soát người gã, ông đẩy gã vào trong căn buồng. Robelot không cưỡng lại, nhưng gã xin uống nước và một cây đèn. Mọi người đem cho gã một bình đầy nước và một chiếc cốc.
- Về chuyện đèn đuốc, - Ông Lecoq bảo gã - mi sẽ không cần đâu. Biết đâu mi lại chơi khăm chúng ta.
Sau khi cửa buồng kho được đóng kín, Cha Plantat chìa tay cho vị nhân viên an ninh.
- Ông Lecoq, - Ông nói với giọng cảm động - có lẽ ông vừa cứu tôi bất chấp nguy hiểm đến tính mạng. Tôi chưa cảm ơn ông. Tôi hy vọng một ngày nào đó có thể sẽ...
Vị nhân viên an ninh làm một cử chỉ ngắt lời.
- Ngài biết đấy, thưa ngài! - Ông nói - Mạng tôi đã bị nguy hại biết bao lần rồi, có liều thềm một lần nữa cũng chẳng có gì phải kể công; với lại, cứu một mạng người không phải lúc nào cũng có thể coi là việc làm ơn...
Ông trầm ngâm mấy giây rồi nói thêm:
- Ngài sẽ cảm ơn tôi sau, thưa ngài, khi nào tôi có quyền hưởng sự hàm ơn của ngài.
Cả ông Gendron cũng thân tình bắt tay vị nhân viên an ninh.
- Cho phép tôi, - Ông Thẩm phán hòa giải nói - bày tỏ tất cả lòng cảm phục của mình. Tôi đã không hình dung được công việc điều tra của người có nghị lực tinh thần như ông sẽ thế nào. Sáng nay, lúc tới đây, chưa có thông tin chi tiết gì, thế mà chỉ bằng việc xem xét hiện trường vụ án, bằng khả năng lập luận logic, ông đã đi đến chỗ tìm ra thủ phạm; và, hơn nữa, ông còn chứng minh cho chúng tôi thấy thủ phạm không thể ai khác ngoài cái người mà ông nói ra.
Ông Lecoq nghiêng mình khiêm tốn. Trên thực tế, những lời khen của ông Thẩm phán tinh thông đang làm cho tính kiêu căng của ông khoan khoái.
- Thế mà, - Ông đáp - tôi vẫn chưa hoàn toàn thỏa mãn. Tất nhiên, tội trạng của ông Trémorel đã được chứng minh quá đầy đủ rồi. Nhưng động cơ nào đã thúc đẩy ông ta? Tại sao ông ta đi đến quyết định ghê sợ là giết vợ rồi cố làm cho người ta tin rằng chính ông đã bị sát hại?
- Không thể giả định rằng, - Ông bác sĩ bắt bẻ - vì đã chán ngay bà Trémorel, ông ta đã rũ bỏ bà để sống với người đàn bà khác mà ông ta say mê đến phát điên?
Ông Lecoq lắc đầu nói:
- Người ta không giết vợ chỉ vì một lý do là không yêu vợ nữa và say mê người đàn bà khác. Nếu thế người ta sẽ bỏ nhà đi sống với người tình, thế là xong. Chuyện đó xảy ra hằng ngày, cả luật pháp lẫn công luận đều không quá lên án một người chồng như vậy.
- Nhưng, - Ông bác sĩ vẫn bắt bẻ - khi chính người vợ là người sở hữu tài sản...
- Cũng không phải vậy. - Vị nhân viên an ninh đáp - Tôi đã điều tra ra rằng ông Trémorel sở hữu 100.000 nghìn écu, phần sót lại của khối tài sản khổng lồ và đã được bạn ông là Sauvresy bảo toàn và vợ ông, thông qua hợp đồng hôn nhân, còn cho ông sở hữu nửa triệu. Tính ra với 800.000 franc, ông ta có thể sống thoải mái ở bất cứ đâu. Mặt khác, ông bá tước còn hoàn toàn được làm chủ mọi cổ phiếu của hai vợ chồng. Ông có thể tùy thích mua bán, đổi thành tiền, vay mượn, đầu tư và chuyển vốn.
Ông bác sĩ không còn gì để nói nữa. Ông Lecoq nói tiếp, có chút ngập ngừng, trong khi đôi mắt ông dò hỏi Cha Plantat:
- Tôi cảm thấy ta phải trở về quá khứ để tìm hiểu những lý do cho vụ giết người hôm nay và để hiểu những động cơ của kẻ sát nhân. Đã có một tội ác trói buộc ông bá tước với bà bá tước không thế tách rời, đến mức chỉ có cái chết của kẻ này mới trả lại tự do cho kẻ kia. Tội ác này, ngay từ đầu tôi đã nghi ngờ, từ sáng qua lúc nào tôi cũng loáng thoáng nhìn thấy nó và người mà chúng ta nhốt trong kia, gã thầy thuốc nắn xương Robelot, kẻ muốn giết ngài Thẩm phán hòa giải, chính là tác nhân hoặc kẻ tòng phạm của tội ác đó.
Bác sĩ Gendron đã không được chứng kiến những cảnh tượng ở lâu đài Valfeuillu ngày hôm qua, cũng như buổi tối ở nhà ông Xã trưởng Orcival, đã thiết lập một sự hiểu ngầm giữa Cha Plantat với vị nhân viên an ninh. Ông phải vận dụng toàn bộ sự sáng suốt của mình để lấp đầy các khoảng trống và đoán ra những ẩn ý trong cuộc nói chuyện từ hai tiếng đồng hồ qua. Những câu nói cuối cùng của vị nhân viên an ninh đã đem lại một tia sáng cho ông. Ông kêu lên:
- Ông Sauvresy!
- Đúng! - Ông Lecoq đáp - Đúng là ông Sauvresy! Và cái tờ giấy mà kẻ sát nhân đã ráo riết tìm kiếm, cái chứng thư mà vì nó ông ta đã quên cả mạng sống, chắc phải chứa đựng một chứng cứ không thể bác bỏ của vụ án.
Bất chấp những cái nhìn bóng gió nhất, những lời khêu gợi trực tiếp nhất đòi hỏi lời giải thích, ông Thẩm phán già vẫn im lặng. Ông tỏ ra phiêu bạt tận đâu đâu, mắt nhìn xa xăm trong khoảng không có vẻ như đang chìm trong đám sương mù của những sự kiện quá khứ bị lãng quên.
Ông Lecoq, sau một lát âm thầm cân nhắc, quyết định tung ra một cú đòn lớn. Ông nói:
- Quá khứ gì mà gánh nặng ghê gớm đến nỗi, để thoát khỏi nó, một người đàn ông trẻ tuổi, giàu có, hạnh phúc như ông bá tước Hector de Trémorel đã lạnh lùng sắp đặt một tội ác, sẵn sàng chịu biến mất sau đó, để chấm dứt sự tồn tại hợp pháp, chịu mất đi tất cả, mất nhân thân, mất địa vị, mất danh dự và tên tuổi! Quá khứ gì mà sức nặng của nó có thể khiến một cô gái hai mươi tuổi phải quyết định tự tử!
Cha Plantat đứng lên, mặt tái nhợt, có lẽ là xúc động hơn cả mức diễn ra trong ngày qua.
- Ôi! - Ông kêu lên với giọng lạc hẳn đi - Ông đừng có nghĩ như những gì ông vừa nói. Laurence không bao giờ biết gì hết!
Ông Gendron, khi đó vẫn chăm chú quan sát khuôn mặt thật của ông Lecoq, tưởng như đã nhìn thấy một nụ cuời tinh tế lóe lên trên khuôn mặt quá thông minh của vị nhân viên an ninh.
Ông Thẩm phán già đã trở lại bình thản và nghiêm nghị, nói tiếp bằng một giọng không kém phần trịch thượng:
- Ông Lecoq này, không cần dùng mưu mẹo để bắt tôi nói ra những gì tôi biết đâu. Tôi đã tỏ ra quý mến và tin cậy ông đủ để tôi có thể tước bỏ được quyền của ông muốn dùng điều bí mật đau lòng - hoặc khôi hài, tùy ông nghĩ - mà ông đã chộp được để làm vũ khí chống lại tôi.
Dù là nguời vững tin đến mấy thì vị nhân viên an ninh vẫn có phần lúng túng và định phản đối.
- Vâng, - Cha Plantat chặn lời - tài năng điều tra đáng ngạc nhiên đã dẫn ông tìm ra sự thật. Nhưng ông chưa biết hết đâu, cả bây giờ nữa, có thể tôi sẽ không nói ra nếu những lý do buộc tôi im lặng không thôi tồn tại.
Ông mở chiếc ngăn kéo bí mật của một chiếc bàn viết bằng gỗ sồi cũ đặt gần lò sưởi, rồi lấy ra một tập hồ sơ khá dày, đặt nó lên bàn.
- Chuyện là thế này. - Ông nói tiếp - Cách đây bốn năm, ngày qua ngày, tôi phải nói: hàng giờ tôi đã theo dõi các giai đoạn khác nhau của một tấn bi kịch ghê tởm mà đêm qua, tại lâu đài Valfeuillu, đã dẫn đến kết cục đẫm máu. Khởi nguyên, đây là sự tờ mò thuần túy của một nguời vô công rồi nghề đã được ủy nhiệm từ lâu. Về sau, tôi đã hy vọng có thể cứu được cuộc sống và danh dự của một con người tôi vô cùng yêu quý. Tại sao tôi không nói gì về những điều mình phát hiện? Thưa các ngài, đó là điều bí mật của lương tâm, chẳng có gì phải chê trách tôi cả. Vả lại, mới hôm qua, tôi vẫn còn làm ngơ trước chứng cứ hiển nhiên. Tôi phải đợi cái bằng chứng khốc liệt của sự thật...
Trời đã sáng. Trên những lối đi ngoài vườn, những con chim hét trâng tráo đang bấy nhảy và kêu ríu rít. Con đường lát đi Évry vang lên dưới chân ngựa đang kéo những chiếc xe ra đồng sớm. Không âm thanh nào khuấy động được không khí im lặng buồn tẻ của thư phòng, không tiếng động nào ngoài tiếng sột soạt của tờ giấy trong tay ông Thẩm phán già và thỉnh thoảng có tiếng rên rỉ của gã thầy thuốc nắn xương bị nhốt trong buồng kín đang khổ sở kêu than.
- Trước khi bắt đầu, - Cha Plantat nói - thưa các vị, có lẽ tôi muốn biết sức lực của các vị thế nào, chúng ta đã thức trọn 24 tiếng đồng hồ rồi...
Nhưng ông bác sĩ và vị nhân viên an ninh phản đối rằng họ không cần nghỉ ngơi. Tính tờ mò háo hức đã thắng sự mệt mỏi. Cuối cùng thì họ sắp có lời giải cho sự việc bí hiểm đẫm máu này.
- Được rồi! - Ông Thẩm phán nói tiếp - Thế thì các vị hãy nghe đây.