Sau này, tôi có nhiều thời gian nghĩ về thời điểm mình đưa ra quyết định. Có phải nó đã lớn dần lên trong tôi suốt thời gian qua, chờ đợi như một khối u? Có phải chính từ khoảnh khắc lúc Rupert bắt tôi cuốn gói như một nhười hầu, chẳng hề có lấy một lời giói thiệu, hay là khi tôi nghe thấy sự cam chịu đầy kiệt quệ trong giọng nói của Dave? Có phải là khi tôi đồng ý làm việc ở hộp đêm Gstaad hay là khi tôi đồng ý với kế hoạch ngu ngốc của Leanne để được trốn ra ngoài chơi đêm, hay là khi tôi đóng cánh cửa giam cái xác của James lại và bắt tàu đến Ventimiglia? Nếu là người lãng mạn, tôi có thể tự tranh luận với mình rằng quyết định đã được đưa ra từ lâu, bởi Artemisia, một cô gái trẻ khác, người thấu hiểu thù hận, người đã bỏ lại người chồng bất tài và đến đúng những con phố này để vẽ tranh nuôi sống gia đình. Nhưng không có điều nào trong đó đúng cả. Khoảnh khắc ấy xảy ra khi tôi bước lên phòng mình và lẳng lặng thay đôi dép để xuồng tả tơi sang đôi sandal đế bệt. Tay tôi run lên khi thắt từng cái quai. Tôi đứng dậy chậm rãi và lập tức lên đường đến Corso Italia.
Ở Zara tôi tìm được một chiếc váy lanh đơn giản, kiểu chữ A ngắn, có túi sâu. Nhìn kỹ sẽ dễ dàng nhận thấy nó được may rất ẩu, nhưng đủ đơn giản để khi kết hợp với phụ kiện tốt trông sẽ giống đồ đắt tiền. Tôi lấy hai cái, một màu đen và một màu xanh lính thủy. Trong gian hàng đồ thể thao tôi mua một chiếc quần soóc rộng hơn hai cỡ, và một đôi giày chạy màu trắng cục mịch. Tôi thêm vào một chiếc áo phông “Tôi Love Rome” từ một quầy hàng cho khách du lịch ở góc đường gần đó. Tôi ghé thêm hai cửa hàng lưu niệm nữa, rồi ở đoạn dưới cùng của phố Veneto tôi tìm được một chiếc áo khoác Kenzo chất nhẹ in hoa văn hồng sáng và trắng. Trông khá nổi bật. Trong một cửa hiệu bán thuốc lá tươm tất, loại cửa hàng bán khung ảnh bằng bạc và hộp giữ ẩm cho xì gà, tôi mua cái cắt xì gà loại nặng và một túi da hình ống mà mấy người trên du thuyền dùng để vận chuyển xì gà Cohiba của họ. Tôi còn mua thêm một cái ba lô vải nylon đen, đủ rộng để vứt cái xắc da của tôi vào trong, và ghé hiệu thuốc mua gói băng vệ sinh cỡ lớn cùng một ít khăn ướt. Đến khi tôi xong việc thì đã sau sáu giờ. Tôi cảm thấy một khoảnh khắc hối tiếc về những bức tranh Pinturicchio ở Vatican. Tôi sẽ không kịp ngắm chúng, nhưng tôi muốn dành thời gian để tắm và sấy tóc cho cuộc hẹn với Cameron.
Tôi gặp lại ông ta ở khách sạn Hassler vào khoảng tám giờ. Ông ta đang đợi tôi ở sảnh và gợi ý uống rượu, nhưng tôi nói để sau. Trong thang máy lên tầng ba tôi thả vài gợi ý lộ liễu rằng mình rất mong muốn được làm việc tại một phòng tranh tư nhân khi trở về London. Tiện thay là tối nay nhà de Greci lại đi ăn tối với họ hàng. Ngay khi vào phòng ông ta, tôi chậm rãi cởi chiếc áo khoác Kenzo mới và thả lên thành ghế. Tôi có thể cảm thấy ánh mắt ông ta di chuyển chậm rãi dọc theo chân mình từ dưới lên, tôi để ông ta cảm thấy tôi đang tận hưởng điều đó và bắn cho ông ta một nụ cười dưới hàng mi rủ. Căn phòng có vẻ quá thân mật, như mọi phòng khách sạn. Sau tấm rèm ba lớp, cửa sổ mở trên một ống thông gió cáu bẩn. Một chiếc va li kéo nhỏ đã mở trên kệ hành lý, một đống báo cùng chìa khóa chiếm một góc bàn. Trên giường có cái cặp nhựa màu đen rẻ tiền, loại cặp mà sinh viên nghệ thuật dùng, nhưng khi Cameron cúi xuống mở ra tôi thấy nó được bọc đệm rất chuyên nghiệp. Nhẹ nhàng cẩn thận, ông ta nhấc lên bức tranh đóng trong khung kim loại đơn giản.
“Anh không bỏ vào thùng à?”
“Phiền phức lắm - thủ tục hải quan Ý ấy mà.” Vậy là không ai biết ông ta mang nó đến đây, ngoại trừ Rupert và khách hàng.
Nó kia rồi, Công tước và Phu nhân trong buổi dã ngoại vĩnh hằng của họ, ba con ngựa bổ vó trên đường đua. Trong ánh sáng chạng vạng ngả xanh của Rome trông nó hào nhoáng hơn - có lẽ người Trung Quốc thích một lớp sơn véc ni bóng bẩy. Ông ta đứng sau vai tôi khi ngắm tranh, nhưng ông ta không phải Đại tá Morris. Ông ta biết chờ đợi món pudding của mình.
“Đúng là,” tôi nói, “tôi rất ấn tượng về mặt làm ăn. Còn bây giờ, anh có muốn tưởng tượng mình là Marcello Mastrơianni không?”
“La Dolce Vita sẵn sàng phục vụ, thưa cô.”
Tôi nói với ông ta là mình vừa tìm được một nhà hàng từ trong cuốn hướng dẫn du lịch, dù tôi đã biết về nó từ khi đi học ở thành phố này. Nó rất cổ điển, nằm cạnh quảng trường Cavour đối diện Sant’Angelo, nằm trên piano nobile* có một hành lang có mái che để chúng tôi ăn ngoài trời. Gstaad đã cho tôi thực hành liên tục cái kiểu uống hết mà không nuốt gì mấy, và vào lúc chúng tôi ăn xong món hoa bí nhồi và cá nướng, Cameron đã gọi đến chai rượu thứ ba. Tôi ăn như nhai rơm, thật quá khó nuốt trôi bất cứ thứ gì khi có một cục căng thẳng cứ chẹn trong cổ họng. Cameron không phải người dễ đọc vị - tất nhiên, ông ta sẵn sàng lên hái sao trên trời tặng bạn làm trâm cài áo nếu bạn đòi, nhưng dưới cái duyên ấy tôi tìm kiếm thứ mà ông ta thực sự mong mỏi, cái công tắc nho nhỏ mà, nếu tôi biết ấn đúng cách, ông ta sẽ rơi vào tay tôi. Mọi người đàn ông đều có nó, và bí quyết ở đây chỉ là làm sao tìm cho ra và rồi, nếu bạn muốn, biến bạn thành bất cứ thứ gì họ thích nhưng họ lại không thể thoải mái tự thừa nhận. Khi ánh sáng rọi xuống biến phần còn lại của chai rượu từ màu ngọc bích nhạt thành xanh rêu, Cameron với qua bàn nắm lấy tay tôi. Tôi lật cổ tay và ông ta đưa nó lên môi mình.
Tiếng Ý: tầng chính.
“Thật kỳ lạ, Judith. Anh có cảm giác chúng ta rất giống nhau, anh và em.”
“Như thế nào?”
“Chúng ta đều là… kẻ cô độc. Chúng ta đứng bên ngoài mọi thứ.”
Ôi lạy hồn, tôi thầm nghĩ, đừng có nói đến tuổi thơ chứ. Có nỗi đau chôn vùi nửa vời nào khiến cả hai chúng ta đặc biệt nào? Ặc. Chia sẻ tâm tình không nằm trong chương trình tối nay. Tôi rút tay lại và miết các khớp ngón tay theo quai hàm mình với vẻ trầm tư.
“Cameron. Chúng ta giống nhau, anh và em.” Tôi dừng lại một hơi. “Em nghĩ anh nên ngủ với em.”
“Chờ anh tính tiền.”
Ngay khi ra khỏi khách sạn ông ta ấn tôi vào tường và hôn, uốn lưỡi quanh lưỡi tôi. Tôi thấy dễ chịu khi được bao bọc như thế, được trùm lấy trong bộ ngực rộng của ông ta. Tôi nghe thấy mạch máu ông ta rần rật bên tai tôi. Tôi nắm lấy tay ông ta và cúi xuống cởi quai sandal, kéo ông ta, thế là vài phút sau ông ta đã chạy theo một cô gái chân trần qua các con phố thành Rome giữa tháng Tám. Chúng tôi băng qua cây cầu ở Castello và xuống một trong các cầu thang, hôn nhau lần nữa ở chân cầu, rồi nắm tay bước dọc bến cảng. Một cây cầu, rồi hai. Sông Tiber không bóng lộn và hào nhoáng cho du khách đến chơi như sông Seine. Ở đây cỏ dại phất phơ giữa đá lát đường và từng đống rác chất trên bờ sông. Dưới cây cầu thứ hai chúng tôi đi qua một đám say rượu và tôi cảm thấy Cameron cứng người lại, ưỡn thẳng vai, nhưng họ chẳng buồn nhìn chúng tôi.
“Em lạnh.”
“Mặc áo của anh vào, em yêu.”
Ông ta choàng nó quanh vai tôi và tôi bật cười rồi lại bắt đầu chạy, mặt đá ấm áp trơn nhẵn dưới chân. Ông ta lật đật đuổi theo. Tôi muốn ông ta phải hết hơi. Dưới cây cầu thứ ba tôi kéo ông ta về phía mình, lắc cái áo khoác khỏi vai, và vội vã hôn ông ta, miết cả hai tay lên đùi, lần lên chỗ của quý ông ta đã bắt đầu nhô ra.
“Em muốn anh, Chúa ơi, em muốn anh ngay bây giờ,” tôi thầm thì. “Em muốn anh làm em ngay bây giờ.”
Lưng ông ta quay về phía mặt nước. Tôi quỳ gối xuống và cắn lấy thắt lưng ông ta. Tôi bắt đầu cởi nó ra, lựa qua nút khóa và dùng lưỡi bắt lấy cái móc, lật nó trở lại. Đó là một trò rẻ tiền, nhưng không khó làm và là tiết mục để gây sự chú ý. Tay ông ta đã nắm lấy tóc tôi.
“Ôi Judith, lạy Chúa.”
Tôi nhanh chóng lôi đầu của quý ông ta ra khỏi quần soóc và ngậm nó trong miệng. Tôi gần như muốn bật cười khi đột nhiên trước mắt nhoáng lên hình ảnh mình hát trong nhà tắm ở Eden Roc, dáng nằm sóng soài đầy chờ đợi của James trên giường. “Nào, Judith,” một giọng nói ác nghiệt thầm thì, “chúng ta lại đến đây rồi.” Dằn xuống, tập trung. Tôi nhắm mắt lại. Chỉ cần bước tiếp theo, không cần nghĩ xa hơn thế.
Cameron không thốt một lời khi tôi lấy con dao gập từ trong túi, mở ra và cắm nó vào hõm thịt ở cổ chân ông ta, ngay trên gân Achilles. Ông ta há miệng thở gấp và đổ nghiêng sang một bên như một con rối đứt dây. Tôi phải lần từ khuy quần ông ta xuống để rút con dao ra. Ông ta thét lên. Con dao đã trở lại túi phải của tôi; tôi lấy một miếng băng vệ sinh từ túi trái, bóc sợi keo dính ra rồi cuộn nó lại và đút vào giữa hai hàm răng ông ta, đẩy nó chặn lưỡi ông ta, giữ chặt bàn tay úp lên miệng ông ta để ngăn phản xạ nôn ọe. Việc này cũng có mẹo, khi bạn thổi kèn. Bạn phải mở cổ họng từ từ, thu a mi đan lại. Cameron là kẻ tiếp thu nhanh.
Số lượng đầu dây thần kinh tập trung tại gót chân khiến cho một vết thương ở nơi đó cũng đủ khiến cơ thể tạm thời ngừng hoạt động. Cameron sẽ không thể phản ứng trong một vài giây quý giá. Tôi đứng dậy và dẹp gọn túi xách cùng giày sang một bên. Ông ta co gập người lại, khò khè hớp từng hớp không khí trong cơn đau; ngoài ra chẳng thể làm gì khác. Ngồi đè lên ông ta, tôi túm một nắm tóc và vặn đầu ông ta sang bên, thô bạo quay mặt ông ta đi và dúi xuống. Khi tôi sờ đến tai ông ta, mắt ông ta mở bừng ra. Tôi nhận ra ông ta vẫn còn tưởng tôi đang tìm cách giúp mình.
Tôi đoán cặp mắt đó phải trợn ngược lên đầy hoảng loạn, nhưng tôi không nhìn kỹ. Tôi cắm thẳng con dao vào dưới dái tai ông ta, lút đến tận cán. Không dễ dàng như cắn vào một quả dưa, mà rắn rắn như bí ngô. Tôi nghĩ đến con thỏ chúng tôi ăn hồi trưa, vẫn không một tiếng động, nhưng một giây sau tôi thấy một mảng tối hiện trên nền áo sơ mi trắng sáng của ông ta và cảm thấy có gì ướt át âm ấm trên đùi tôi. Cơ thể to lớn của ông ta co giật và giãy giụa, rồi tay trái ông ta vung lên phạt ngang hàm tôi. Cú đánh vang dội đẩy tôi lùi lại, tôi vùng vẫy hít thở. Đã từ lâu không có ai đánh tôi như thế. Có bị bầm tím không nhỉ? Tôi chưa có thời gian lo đến chuyện đó; tôi phải làm cho xong. Nhanh nhẹn đến ghê gớm, ông ta vặn mình và nhảy bổ vào tôi, đầu chúi thấp, hai bàn tay mạnh mẽ chộp lấy chân tôi, với ra bắt lấy tôi. Tôi vẫn còn choáng váng vì cú đấm lúc nãy. Tôi cố gắng lùi vào bóng tối dưới cầu, nhưng tôi quá chậm, và toàn bộ trọng lượng của ông ta đè lên đầu gối tôi đẩy tôi ngã xuống. Cameron đang bò tới mặt tôi. Tôi cố gắng đá ông ta ra nhưng ông ta quá nặng, bò lên người tôi từng chút một, một đám bong bóng sùi ra từ cổ họng ông ta. Hai bàn tay với đến cổ họng tôi và bắt đầu siết chặt. Tôi đã quên mất đàn ông thực sự khỏe đến mức nào. Tôi cào lên gọng kìm siết cổ mình, nhưng hoàn toàn vô vọng, tôi bắt đầu há mồm đớp không khí, phần dưới không sao cử động được; tôi bị ấn chặt bên dưới ông ta, cố gắng lật ông ta đi, nhưng ông ta quá nặng, và rồi có ánh sáng kỳ lạ nhảy múa trước mắt tôi khi bàn tay ông ta siết chặt dần, chặt dần. Rồi nó thả lỏng. Ông ta nằm im. Tôi kháng cự lại ham muốn đẩy ông ta ra, tận lực đớp không khí ba bốn lần, cho đến khi hít thở được bình thường trở lại. Ông ta nằm một đống trên người tôi, hai tay xụi lơ như cành cây chết trên ngực tôi. Tôi lại hít thở, gồng chặt các thớ thịt, rồi thả lỏng, vặn hông để di chuyển ông ta, lật quỳ bằng cả tay và chân trong khi ông ta rơi sang bên.
Đấy chẳng phải tư thế đẹp đẽ gì. Tôi nhìn lên, nhanh chóng lướt mắt dọc hai bên bến cảng. Nếu có ai đến tôi sẽ phải giả vờ rằng chúng tôi đang làm tình, nhưng bờ sông vắng tanh. Tôi lựa mình tách ra khỏi ông ta, váy tôi cuộn lên và mặt đá gồ ghề cọ lên phần da bụng trần trụi của tôi, cho đến khi tôi duỗi hẳn người ra thật xa, chỉ có ngón tay đặt trên cán dao nối cánh tay tôi với cơ thể ông ta, như một sợi dây rốn lộn ngược gớm ghiếc. Rồi tôi rút ra. Tôi không nhìn vào kết quả. Tôi quay đi và rút cái ba lô ra khỏi túi xách, bình tĩnh lấy ra những thứ tôi sẽ cần và thầm đếm từng nhịp Mississippi. Ông ta sẽ cần ít phút. Tôi gập người lại chôn mặt giữa hai đầu gối. Hơi thở từ lỗ mũi ông ta trở nên ngắn dần và gấp dần lên. Mất máu. Nếu tôi chạm đến ông ta lúc này sẽ thấy ông ta đang lạnh dần đi.
Tôi từng đọc ở đâu đó về những người lính trong Thế chiến thứ nhất, họ kiệt sức, rồi nằm xuống vùng không người và ngay lập tức ngủ thiếp đi. Hơi ấm trong người tôi đều tập trung vào ngực, hơi thở của chính tôi thổi vào da ru tôi buồn ngủ. Phải đến khi nghe tiếng xe máy tôi mới tỉnh lại, rùng mình run rẩy. Chết tiệt, chết tiệt chết tiệt. Cái áo trắng của ông ta… Đầu óc tôi chạy đua qua một loạt tình huống ngẫu nhiên. Chúng tôi bị tấn công, tôi đã rút con dao ra… Tôi lắc lư, tập tỏ ra bị sốc, nhưng khi hé mắt nhìn qua kẽ ngón tay tôi thấy một con thuyền nhỏ mũi to bè, đang chạy lên thượng nguồn như một con cá mập vụng về, có bóng người lúi húi nơi cuối thuyền. Một ngư dân. Vẫn còn có lươn trong sông Tiber. Chỉ khi ông ta đã vượt qua và mặt nước trở lại thành một vạt phẳng lặng tôi mới nhận ra mình không còn thở dốc nữa.
Giờ đến ngón tay cái. Ông ta đã dùng tay trái để mở điện thoại. Tôi ấn lòng bàn tay ông ta lên đá và xòe các ngón tay ra, đặt con dao lên ngón tay và kề đầu gối lên trên, ấn. Sau khi tôi đã cắt đủ sâu, cái cắt xì gà sẽ lo phần xương. Tôi vứt cái cắt xì gà qua vai và nghe tiếng nó rơi tõm xuống nước trong khi tôi đút ngón tay cái vào hộp đựng xì gà. Trước đó tôi lo sợ rằng sẽ khó đưa được ông ta xuống nước, khi đó tôi còn chưa biết đống thịt kia nặng đến mức nào. Tôi phải giẫm cả hai bàn chân trần vào vũng máu mới nắm được vai ông ta, nhưng adrenalin cho tôi sức mạnh và tôi vần luôn được cái xác lên mép cảng. Cánh tay trái ông ta lại bật lên, một cú chộp co giật của zombie. Ông ta cong người lại, nhanh như một vận động viên thể hình, và gáy ông ta đập vào kè đá. Chẳng ảnh hưởng gì cả. Tôi ấn đầu gối lên ngực ông ta để lôi miếng bịt miệng ra, rồi đẩy đùi ông ta để lật cái xác cho đến khi nó lặn xuống nước. Một chiếc giày của ông ta tuột ra khi tôi đẩy ông ta khỏi bờ sông. Tôi nhặt nó lên và sờ phần khóa kim loại. Gucci. Sắc bén. Tôi quẳng nó theo ông ta.
Trong khoảng lặng sau tiếng tõm, tôi nghe thấy một tiếng chít và thoáng thấy một bóng đen vụt qua khóe mắt. Tôi kêu một tiếng chói tai và ngã lăn, suýt nữa rơi xuống nước theo Cameron. Chuột, chỉ là chuột thôi. Nhưng tôi lại thở gấp và tay run rẩy. Tôi có phần chờ đợi một bóng đen bước ra khỏi bóng tối, tôi có cảm giác quá mạnh rằng mình đang bị theo dõi. Chỉ là chuột thôi. Có lẽ bị thu hút bởi mùi máu tươi, một suy nghĩ kinh tởm.
Tôi vừa buộc mình thở đều trở lại qua kẽ răng vừa lột quần áo, lau qua loa bằng vài tờ khăn ướt và nửa chai Evian lấy từ trong túi. Tôi nhét đống khăn ướt qua cổ chai và chôn nó trong bụi cỏ giữa vùng đất đẫm mùi nước tiểu ở sau cầu. Cái váy mỏng manh màu xanh lính thủy tôi vừa mặc bị cuộn vào một cái băng vệ sinh lớn và buộc lại trong túi nylon trong suốt để lát nữa vứt. Không một người nhặt rác nào muốn mở thứ đó. Tôi lấy chiếc váy đen từ trong túi ra buộc quanh eo để tạo độ phồng, rồi mặc lên cái quần soóc và cái áo phông xấu xí. Dường như phải mất hàng thế kỷ để lồng được áo qua đầu. Tóc buộc cao, giày đút vào túi xách rồi vào trong cái ba lô nylon cùng với ống đựng xì gà và điện thoại của ông ta. Tôi lục qua các túi áo khoác trước khi cho nó xuống nước, nhét chìa khóa phòng vào trong áo lót. Không có hộ chiếu hay ví, việc nhận dạng nạn nhân sẽ bị chậm trễ. Bóng tối thật bất tiện, nhưng tôi lấy làm biết ơn nó - không có những cột đèn đường chan hòa để khuyến khích các đôi uyên ương đi dạo. Tôi đợi quầng sáng trên Castello bật lên, rồi nhìn con dao sáng lóe khi tôi chậm rãi lướt lưỡi trên từng mặt của lưỡi dao, hút vào thứ chất lỏng mùi sắt giữa kẽ răng. Chỉ là mê tín, nhưng tôi cảm thấy tôi đang liếm sạch đi hình phản chiếu của mình. Rồi tôi quẳng nó đi, nhìn nó vẽ một vòng cung và rơi vào nước cùng một tiếng tõm nhỏ xíu, trơn tuột.
Khi nhà Borgia muốn thể hiện thái độ, các sát thủ của họ sẽ trói mục tiêu lại, cắt cổ, tống vào bao và thả xuống sông Tiber, xác sẽ trôi tới Castello. Đôi khi người ta sắp đặt những bức mành rơm đặc biệt để bảo đảm đống xác chết sẽ được phát hiện. Dòng nước trôi nhanh đến mức nào? Tôi nghĩ tôi sẽ có ít nhất một giờ, có lẽ đến tận sáng nếu tôi may mắn, trước khi có người nhìn thấy ông ta. Cắm tai nghe vào, điện thoại kẹp trên cổ áo, tôi chạy dọc bờ sông trở về, nhạc ACDC khuấy động tôi suốt đêm.
Tôi trở lại khách sạn Hassler trong mười lăm phút, sau khi chạy qua Bậc Thang Tây Ban Nha. Khi thở dốc chạy vào sảnh khách sạn, tôi hầu như có thể tin rằng tôi đúng là người mình đang đóng giả, một du khách chạy bộ cho tiêu đống kem Ý trên bắp đùi Mỹ. Tôi chạy đến thang máy, và chẳng có ai nhìn đến. Căn phòng đã được dọn dẹp, rèm cửa kéo xuống và điều hòa nhiệt độ kêu rầm rì, sô cô la trên gối, thảm bông trải hai bên giường. Sau khi vào phòng tôi vã nước lên mặt, kiểm tra sơ qua chỗ hàm bị Cameron đánh xem có để lại dấu vết hay không. Tôi thay sang chiếc váy đen và giày cao gót và khoác lên chiếc áo sáng màu vẫn đang đợi trên ghế. Nếu có ai thấy tôi đi lên, họ sẽ thấy một người hoàn toàn khác đi xuống. Tôi nhanh chóng kiểm tra cái cặp trên giường phòng khi người hầu phòng đã động tới nó, nhưng bức tranh vẫn còn đó.
Giờ đến cái điện thoại. Tôi lấy một chiếc khăn tắm trải ra thảm, vặn mở ống đựng xì gà. Ngón tay rơi ra, trắng bệch và xám ngắt những chỗ không dính máu, như một con giời béo phì. Tôi trượt ngón tay trên màn hình, ấn ngón cái kia lên bàn phím. Màn hình rung lên, rồi một lời nhắn hiện ra: “Vui lòng thử lại”. Mẹ kiếp. Nhỡ nó có cảm ứng nhiệt nữa thì sao? Tôi mở vòi nước nóng tráng qua ngón tay, thử lần nữa. Nó mở ra. Ngón tay lăn xuống đùi tôi - ôi Chúa ơi. Tôi thận trọng đặt nó lên một góc khăn. Tôi muốn đọc thư và tin nhắn của Cameron, nhưng không có thời gian. Tôi lật nhanh qua các ứng dụng cho đến khi tìm thấy lịch. Tôi hy vọng Cameron đã ghi lại cuộc hẹn gặp khách hàng trong đó, nhưng chẳng có gì ngoài các chi tiết chuyến bay từ Fiumichino về London vào ngày kia. OK. Vậy thì tôi đã biết cuộc gặp phải vào ngày mai. Còn gì nữa không? Sổ ghi chép. Tôi cần mã mở bất cứ nơi nào ông ta định để tiền vào. British Airways, Heathrow Express, Boots, toàn những thứ thông thường. HSBC có vẻ nhiều triển vọng nhưng tài khoản mang tên Cameron và, hơn nữa, cần có mật mã và mã an ninh. Ông ta có định cho cả năsm triệu vào đó không? Nghĩ, Judith, nghĩ đi. Ngón tay cái nhìn lên tôi vẻ đắc ý. Chẳng lẽ Cameron không có phương án dự phòng? Rome vốn nổi tiếng là nhiều móc túi mà cái điện thoại thì trông như mới. Sao lại phải lưu giữ bất cứ thứ gì nhạy cảm trong đó chứ?
Khi tôi đứng dậy, đầu gối tôi làm nhăn cái khăn và ngón tay cái lại lăn.
“Mày biến được rồi đấy,” tôi nói với nó. Nhưng rồi tôi nhìn lại. Gốc ngón tay bẹp gí đang chỉ về phía hành lý. Có lẽ sẽ có một cuốn sổ nữa trong đó chăng, một cuốn sổ giấy? Tôi phải có những mật mã đó, tất cả nỗ lực này đều sẽ thành vô nghĩa nếu không có chúng. Tôi lướt tay qua mấy bộ quần áo, đồ lót, một cuốn sách. Tôi lật qua cuốn sách một lượt; biết đâu ông ta giấu một tờ ghi chú trong các trang sách. Chẳng có gì, dù tôi chợt nhận ra rằng người ta cảm thấy đỡ tội lỗi hơn nhiều về việc giết một người khi người đó đọc Jeffrey Archer để tiêu khiển. Phải có ghi chép gì đó. Tôi không dám nghĩ nếu tôi đoán sai thì sẽ thế nào. Sẽ có một cuốn sổ tay, bắt buộc phải có. Tôi kiểm tra ngăn cạnh và mặt trong va li để tìm kiếm bất kỳ mảnh giấy nào, rồi nghĩ đến túi đựng đồ cạo râu tôi đã thấy trong nhà tắm.
Quả nhiên, có một cuốn sổ Moleskine nhỏ màu đỏ trong ngăn cạnh của túi đựng đồ vệ sinh cá nhân. Chiếc khăn tắm chỉ dính một vệt máu nhỏ, máu của ông ta, nên tôi để nó trên thành bồn rửa và xịt một ít bọt cạo râu lên mép khăn cho chắc ăn. Còn cái ngón tay tôi gói vào giấy vệ sinh rồi xả xuống bồn cầu. Tôi gấp cái ba lô lại và nhét đồ của tôi vào túi xách, nhặt cái cặp lên và sau khi kiểm tra nhanh hai đầu hành lang tôi treo tấm biển Không Làm Phiền lên tay nắm cửa, tỏ một chút lòng kính trọng James già.
Tôi vẫn luôn tin rằng che giấu mọi thứ ngay trong tầm mắt là một phương châm tốt. Tôi bấm thang máy đi xuống, hy vọng mặt mình không quá đỏ sau quãng đường chạy bộ, băng qua sảnh ngược trở lại chỗ quầy lễ tân và hỏi ông Fitzpatrick có để lại lời nhắn nào cho tôi không. Không, thưa quý cô. Họ có thể vui lòng gọi lên phòng ông ấy không? Không có ai nghe máy, thưa quý cô. Tôi cảm ơn nhân viên lễ tân rồi bước chậm rãi ra cửa sau. Tôi cởi áo khoác ở ngưỡng cửa và cuộn chặt nó vào túi. Tôi bình tĩnh bước đến quảng trường Navona, vứt cái váy đẫm máu vào thùng rác, cái ống đựng xì gà vào thùng rác khác, quỳ xuống chỉnh quai sandal rồi vứt cuốn hộ chiếu xuống một lỗ thoát nước. Tôi lấy tiền mặt cùng thẻ tín dụng khỏi cái ví, bỏ chung số tiền vào với tiền của tôi và bỏ mớ thẻ vào một thùng rác khác. Có vài bức ảnh cùng một thứ có vẻ là một lá thư gập nhỏ, nếp gập cáu bẩn do bị gập đi gập lại nhiều lần; tôi cẩn thận không nhìn mấy thứ đó. Hẳn là Holofernes trong bức tranh của Artemisia cũng có gia đình. Cái ví và điện thoại có thể xuống sông trên đường về khách sạn của tôi. Tôi chọn quán cà phê gần đài phun nước Bernini nhất và gọi một ly cognac cùng cà phê sữa đá. Rồi tôi mở cuốn sổ ra. Tôi lật các trang giấy với sự chậm rãi cố ý. Danh sách đồ mua sắm, nhắc mua thẻ, tên một nhà hàng với dấu hỏi bên cạnh, ôi thôi nào, thôi nào. Trên trang cuối cùng, tôi tìm thấy chúng. Một cái tên và một dòng địa chỉ, cạnh đó ghi 11 giờ, gạch chân. Và trên trang đối diện, là các con số. Ăn mừng thôi. Tôi uống ly cà phê đá và nhấp cognac trong khi hút ba điếu thuốc lá, nhìn ngắm du khách vứt đồng xu và chụp ảnh. Rượu brandy ấm áp trôi vào. Tôi chạm tay lên má và thấy da mặt mình lạnh toát, bất chấp hơi ấm của buổi tối. Tôi nhớ để lại một phần tiền tip lớn và trao đổi một câu chào lịch sự với người bồi bàn, hy vọng anh ta sẽ nhớ đến tôi nếu được hỏi, rồi bước qua sông trở về.
Về đến phòng tôi cởi đồ, xếp quần áo thành một chồng gọn gàng và lật nắp bồn cầu lên, rồi nôn mửa đến khi chỉ còn khạc ra được một dòng nước dãi. Tôi tắm thật lâu, nóng hết cỡ tôi chịu được, quấn mình trong một chiếc khăn tắm rồi ngồi khoanh chân trên giường để nghiên cứu cuốn sổ. Tôi truy cập tài khoản bằng máy tính xách tay, nhập các số thật cẩn thận. Họ khá là thông minh, cặp đôi lừa đảo tranh nghệ thuật của tôi. Tài khoản nằm ở Đảo Cook, rõ ràng là mới mở vì chỉ giữ có 10.000 đô la, con số tối thiểu theo tiêu chuẩn quốc tế, cũng như tài khoản của tôi ở Thụy Sĩ. Có số IB AN, mã SWIFT, tên chủ tài khoản. Cái tên thì không được thông minh cho lắm, “Goodwood Holdings Inc.”, trong khi mật mã “Horsel905” thì nói thẳng là ngu ngốc. Tôi đóng nó lại. Tôi đoán Rupert cũng có thể truy cập vào tài khoản này, tôi tưởng tượng ngày mai anh ta sẽ căng thẳng ngồi đợi số tiền chảy vào. Ngày mai. Cuộc gặp. Tên của người Cameron hẹn gặp là Moncada. Cũng có thể đó là một cô làm đầu lòe loẹt ở Rome mà Fitzpatrick từng hẹn hò, nhưng vì lý do nào đó, tôi không nghĩ vậy.
Máu tôi kêu bùng bục vì mệt mỏi; tôi không dám nhìn đồng hồ nữa. Nhưng đây cũng không phải lần đầu tiên tôi thức trắng đêm. Tôi pha cho mình một tách cà phê hòa tan kinh tởm bằng cái ấm đun nước nhỏ của khách sạn và tạm nghỉ bên cửa sổ, rồi quay trở lại với máy tính. Cái tên Moncada hoàn toàn không thu về chút kết quả gì. Tôi thử các phòng tranh, những nhà buôn tranh nhỏ, báo cáo doanh số, khách dự tiệc của thế giới tranh nghệ thuật, giám tuyển bảo tàng, nhà báo - chẳng có gì. Rồi tôi thử tra địa chỉ ở Rome, trước tiên tìm mọi doanh nghiệp liên quan đến tranh nghệ thuật ở gần đó, rồi tìm trên Google Earth ra hình ảnh của một khu vực ngoại ô khá xập xệ. Vì sao Cameron lại tiến hành một giao dịch lợi nhuận khổng lồ ở nơi thế này chứ? Hoặc Moncada là một nhà sưu tầm tư nhân ẩn dật hoặc ông ta có gì mờ ám, và tôi đặt cược vào mờ ám.
Tôi kiểm tra chỉ mục của cuốn rửa tiền qua tranh nghệ thuật: Một cái nhìn từ tư pháp hình sự trên Google Books. Tôi đã từng đọc cuốn này hồi làm luận văn thạc sĩ, nhưng cái tên Moncada không xuất hiện. Tôi cố thử vài từ khóa tìm kiếm ngẫu nhiên khác, và “nghệ thuật lừa đảo Italia” mau chóng đưa về từ tôi mong đợi. Giới Mafia đã nhúng mỏ vào thế giới nghệ thuật, nhưng điều đó không có mấy ý nghĩa - mafia lâu nay vẫn là một thực tế cuộc sống ở Ý giống các cô tiếp viên bán khỏa thân trên game show truyền hình. Một trong những điều tôi thích ở người Ý là họ coi trọng văn hóa. Người ta sẽ không cho rằng tranh nghệ thuật là cái gì quan trọng đối với xã hội đen, giữa việc lũng đoạn chính phủ và trải nhựa đường trên khắp miền Nam, nhưng các băng nhóm là những kẻ chuyên nghiệp thực sự. Một nhóm đã từng thay thế thành công tranh Phục Hưng giả cho hai mươi tác phẩm thật tại một trong những bảo tàng nhỏ của Vatican chính trong lòng Rome này, và đã bán tranh thật ở chợ đen để chi tiền mua vũ khí cho một cuộc chiến giành lãnh thổ ở Calabria. Phải hàng thập kỷ sau, những bức tranh giả mới được tiết lộ và vài bức thật được thu hồi. Gần đây, đã có bắt bớ trong một vụ rửa tiền liên quan đến những đồ tạo tác Hy Lạp cổ đại giả được cho là khai quật từ một hòn đảo tí hon ngoài bờ biển Sicily, Penisola Magnisi, nơi nổi tiếng với hoa dại và là nơi nàng Calypso giam giữ Odysseus làm tù nhân tiêu khiển suốt bảy năm trong Odyssey của Homer. Những người có liên quan đến vụ lừa đảo rõ ràng là không lấy gì làm vui vẻ trước cách đối xử của cảnh sát Rome, và trả đũa bằng cách cho nổ vài người trong số họ trong khi họ đang giải lao uống capuchino ở một quán cà phê trên bờ biển. Nếu cái gã của Cameron có liên hệ với loại chuyện này, thì tôi cũng hơi chùn bước. Những dòng tít giật gân liên tục nảy lên, tả chi tiết số phận của những kẻ ngáng đường dân gangster. Bê tông và thuốc nổ xuất hiện nổi bật, mà nếu không phải là thật thì cũng khá nực cười. Đó là loại chuyện mà Dave sẽ thích.
Kết quả tra cứu lẫn cảnh vật trước mắt tôi bắt đầu quay mòng mòng, nên tôi bỏ cuộc. Nếu nhân vật Moncada này là loại người giữ kìm vặn tay trong cặp tài liệu, thì có lẽ tôi biết càng ít càng tốt. Hừng đông đang sáng dần lên dưới tấm rèm sáo acrylic của khách sạn, mà sau một ngày bận rộn, điều thiết yếu vẫn là phải quan tâm đến làn da, nên tôi uống hết cả hai chai nước khoáng trong tủ lạnh và vật lên giường tận hưởng vài giờ hiếm hoi ngủ quên trời đất.