Bậc Thầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Bốn

❊ ❊ ❊

Từ khi bắt đầu làm việc ở hộp đêm, chuỗi hổ thẹn diễn ra hằng ngày trong cuộc sống của tôi ở ban đấu giá bị quắng đi nhẹ hẫng. Tại Gstaad, ít nhất cũng có một ảo giác rằng tôi cầm trịch. Tôi cố gắng tự nhủ rằng mình thấy cũng vui với việc cuộc sống ngay thẳng, cuộc sống “thực” của tôi, cách Olly và các cô gái chỉ vài con phố London, bị tước đoạt mọi giá trị hay quyền lực. Tại hộp đêm, tôi cảm thấy mình được trân trọng mỗi lần bắt tréo chân, trong khi ở công việc thực sự của mình, công việc đáng lẽ phải là sự nghiệp của tôi, tôi vẫn chỉ là một đứa chạy vặt. Trên thực tế, Gstaad và phòng trưng bày tranh cao cấp nhất thế giới có nhiều điểm chung hơn nó sẵn sàng thừa nhận.

Làm việc ở Nhà Đấu Giá dù đáng thất vọng, nhưng tôi vẫn nhớ lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy một bức tranh, và kỷ niệm đó vẫn còn rực sáng trong tôi. Bức tranh biểu tượng của Bronzino, Venus, Cupid, Folly and Time, tại Phòng Trưng bày Quốc gia, ở quảng trường Trafalgar. Đến giờ tôi vẫn cảm thấy bức tranh này có tính xoa dịu, không chỉ vì sự duyên dáng bí ẩn, đầy phong cách trong bố cục - tinh nghịch và gợi dục đầy thuần khiết, hay ẩn ý đen tối về cái chết - mà vì chưa có lấy một học giả nào đưa ra giả thuyết nào về ý nghĩa của nó mà được chấp nhận. Vẻ đẹp của nó nằm đâu đó trong nỗi bực dọc mà nó khơi lên.

Lần đó là trong chuyến tham quan London của trường, nhiều giờ nóng bức trên xe buýt với mùi xúc xích và khoai tây phô mai, đám gái xinh buôn quàng quạc ở hàng ghế sau, các giáo viên trông có vẻ yếu ớt và ngượng nghịu đến kỳ lạ trong trang phục thường ngày không đặc trưng. Chúng tôi đã trầm trồ khi đi qua cổng Cung điện Buckingham, rồi lội bộ dọc trung tâm thương mại đến phòng trưng bày trong chiếc áo nỉ đồng phục màu xanh lính thủy - chỉ còn thiếu tấm thẻ tên nữa là giống hệt nhân viên tổng đài. Đám con trai trượt trên mặt sàn lát gỗ, đám con gái bình phẩm to và thô lỗ về từng bức tượng khỏa thân chúng tôi đi qua. Tôi cố gắng lỉnh đi một mình, muốn đắm mình vào trong những căn phòng tưởng chừng bất tận hình ảnh, rồi tôi tình cờ gặp được bức tranh của Bronzino.

Như thể tôi vấp ngã vào một cái hố, một cảm giác choáng ngợp vì sốc, bộ não bị bỏ lại sau cơ thể. Vị nữ thần đứng đó, và kia là con trai nàng, kia là ông lão bí ẩn đứng trên họ. Khi đó tôi chưa biết họ là ai, nhưng tôi nhận ra, một cách vô thức, rằng mình chưa từng biết thế nào là thiếu thốn cho đến khi nhìn thấy những nét màu tinh tế kia phát sáng và hòa quyện vào nhau. Rồi tôi cũng biết khao khát, lần đầu tiên tôi biết mình muốn gì và mình không có gì. Tôi ghét cảm giác ấy. Tôi ghét sự thực rằng mọi thứ tôi biết đột nhiên trở nên xấu xí trong mắt tôi, và rằng khởi nguồn của cảm giác ấy, sức lôi kéo và quyến rũ bí ẩn của nó, chiếu rọi vào tôi từ bức tranh này.

“Rashers thích ngắm đàn bà khỏa thân kìa!”

Leanne và vài đứa bạn bắt kịp tôi.

“Cái đồ les!”

“Đồ lesssss!”

Giọng điệu the thé sỗ sàng của chúng nó làm phiền đến những khách tham quan khác, họ quay lại nhìn, mặt tôi nóng rực lên vì xấu hổ. Hồi đó Leanne có mái tóc vàng ngả cam, uốn xoăn tít và xịt gel cứng ngắc thành một khối như mớ tóc giả trên đỉnh đầu. Cũng như lũ bạn, cô trát lớp phấn nền dày cộp và viền mắt đen bê bết.

“Đã không biết cư xử thì đừng có cho vào chứ,” tôi nghe thấy một người nói. “Biết là mở cửa tự do nhưng…”

“Tôi biết,” một người khác ngắt lời. “Bọn quỷ sứ.”

Họ nhìn như thể chúng tôi bốc mùi khó ngửi. Tôi tự hỏi có phải với họ chúng tôi thực sự bốc mùi. Tôi ghét âm điệu chán ghét trong giọng nói tròn trịa, có học của họ. Tôi ghét bị vơ chung vào với những đứa khác. Nhưng Leanne cũng đã nghe thấy.

“Các bà biến đi được rồi đấy,” cô hung hăng nói. “Hay các bà cũng là đồ les?”

Hai người phụ nữ vừa lên tiếng có vẻ sốc nặng. Họ không phản ứng lại, chỉ bình tĩnh bỏ vào sâu hơn trong nhà trưng bày. Mắt tôi thèm thuồng dõi theo họ. Tôi quay sang bọn con gái.

“Nhỡ họ đi mách thì sao. Bọn mình bị đuổi ra mất.”

“Thế thì sao? Đằng nào đến đây cũng hết rồi. Cậu làm sao đấy hả Rashers?”

Khi đó tôi đã khá giỏi đánh nhau. Mẹ tôi, mỗi khi có lòng để ý đến tôi, thường rất dịu dàng đối với vết bầm tím và quầng đen quanh mắt tôi, nhưng thường thì tôi cố gắng giấu mọi bằng chứng. Ngay cả khi đó, bà đã coi tôi như một đứa trẻ xa lạ. Tôi có thể nhảy xổ vào Leanne ngay tại đó, nhưng - có thể là vì bức tranh, hay có thể vì biết là có những người phụ nữ kia sau lưng - tôi không muốn làm thế. Tôi sẽ không hạ thấp mình như thế nữa. Vậy nên tôi chẳng làm gì cả. Tôi cố gắng bao bọc mình trong nỗi chán ghét như một lớp áo choàng lông, để cho chúng thấy rằng chúng ở dưới tầm tôi sâu đến mức chúng chẳng đáng để tôi chú ý. Đến khi tốt nghiệp, tôi đã khá thành công trong việc thuyết phục chính mình như vậy. Tôi đã tiết kiệm được tiền cho chuyến đi đầu tiên kéo dài hai năm tới miền Bắc nước Ý khi còn ở tuổi thiếu niên, làm việc ở trạm xăng, dọn lô nhuộm tóc trong thẩm mỹ viện, chịu đứt tay vì giấy gói bạc trong cửa hàng đồ ăn nhanh Trung Quốc, nhỏ máu vào món thịt lợn chua ngọt đặc biệt của tối thứ Sáu. Tôi tự trang trải cho một năm đệm ở Paris và sau đó là một khóa học cơ bản kéo dài một tháng ở Rome.

Tôi đã tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác khi tôi vào đại học. Tôi chưa bao giờ thực sự được thấy những người như thế, đừng nói đến một nơi như thế. Họ thuộc về nhau, những con người và những tòa nhà ấy; biết bao thế hệ được hưởng đặc ân không phải cố gắng gì đã hòa trộn đá vàng màu mật với làn da màu mật tới một sự hoàn hảo về kiến trúc trong từng chi tiết được thời gian mài nhẵn. Tôi có vài người yêu thời đại học, nhưng nếu bạn nhìn đời theo cách tôi nhìn và, nói thật lòng, thích những thứ mà tôi thích, có lẽ những người bạn gái sẽ không bao giờ là thứ dành cho bạn. Tôi tự nhủ rằng mình không cần họ, và hơn nữa, bên cạnh thư viện và việc làm thêm tôi chẳng còn mấy thời gian cho việc gì ngoài đọc.

Tôi không bám lấy giáo trình trong danh mục khóa học yêu cầu: bên cạnh Gombrich và Bourdieu tôi đọc hàng trăm tiểu thuyết, lục nát chúng để lấy chi tiết về những tập quán của xứ sở quý tộc xa lạ kia, về cách nói năng, cách dùng từ ngữ phân biệt những kẻ thuộc về câu lạc bộ vô hình ấy với những kẻ không thuộc về nó. Tôi không ngừng tự học ngoại ngữ: tiếng Pháp và tiếng Ý là ngôn ngữ của nghệ thuật. Tôi đọc Le Monde rồi Foreign Affairs, Country Life rồi Vogue rồi Opera Magazine rồi Tatler rồi tạp chí mã cầu, rồi Architectural Digest và cả Financial Times. Tôi tự học về rượu vang, về các loại sách hiếm và bạc cổ: tôi đến mọi buổi trưng bày miễn phí có thể đến, đầu tiên là vì nghĩa vụ rồi sau là vì thú vui; tôi học cách sử dụng dĩa ăn đồ tráng miệng và cách bắt chước giọng nói của đất nước mà mặt trời không bao giờ lặn. Khi đó tôi đã biết rằng mình không nên giả vờ là một người không phải mình, nhưng tôi cho rằng nếu tôi vào vai tắc kè hoa cho giỏi, sẽ không ai nghĩ đến chuyện chất vấn.

Tôi cố gắng theo đuổi không phải vì lòng háo thắng. Một phần là để tránh phải ở trong một môi trường mà việc thú nhận bất kỳ sở thích nào không dành cho các show truyền hình thực tế đều là một lời mời gọi để bị đấm vỡ hàm. Hầu hết thời gian, tôi trốn học chỉ để bắt xe buýt lên phố đến phòng đọc Picton ở Thư viện Trung Tâm, hoặc Phòng Trưng bày Nghệ thuật Walker, vì những không gian yên tĩnh đó phả vào tôi hơi thở của thứ gì đó hơn cả cái đẹp mà chúng chứa đựng. Đó là những nơi văn minh. Và văn minh có nghĩa là biết những gì là đúng. Dù người ta cố giả bộ rằng điều đó không quan trọng, thì nó vẫn đúng. Phủ nhận nó cũng ngu ngốc chẳng khác gì nghĩ rằng cái đẹp là không quan trọng. Và để lọt được vào giữa những thứ đúng đắn chuẩn mực, tôi phải lọt được vào giữa những người sở hữu chúng. Vì người ta còn luôn muốn được hiểu thấu đáo, những hiểu biết về sự khác nhau giữa một hầu tước dòng dõi và một hầu tước được phong luôn có lúc được việc.

Khi mới đến Nhà Đấu Giá, dường như mọi chuyện khá là suôn sẻ; mọi vấp váp được khắc phục mượt mà. Tôi có quan hệ tốt với Frankie, thư ký của ban, dù cô có giọng nói như một quý phu nhân đang ra lệnh cho phu khuân vác trên đồng cỏ bao la và những người bạn mà cô thực sự gọi là “Đười Ươi” và “Chuột Chít”. Frankie hòa nhập được theo một cách mà tôi không bao giờ có thể, nhưng đồng thời, cô có vẻ hơi lúng túng trong làn sóng tiền mới mẻ ngỗ ngược đang chậm rãi len lỏi vào Nhà Đấu Giá. Thế giới hội họa đã thức dậy từ giấc ngủ vùi lịch thiệp trong một sân chơi tỷ phú, nơi những cô gái như Frankie đang dần tuyệt chủng. Cô từng có lần khá buồn rầu nói với tôi rằng cô muốn sống ở vùng nông thôn nhưng mẹ cô nghĩ cô sẽ có nhiều cơ hội “gặp được ai đó” khi làm việc trong thành phố. Dù Frankie là độc giả tích cực của Grazia, dường như cô không bao giờ nghe theo bất kỳ mẹo hướng dẫn trang điểm nào - cô đeo một cái bờm nhung không nhăn và cặp mông trông như cái nấm vải tuýt khổng lồ. Có lần tôi đã phải tế nhị lái cô ra xa một chiếc váy dạ hội thảm họa màu xanh ngọc trong một chuyến trốn làm đến Peter Jones. Tôi nghĩ mẹ cô còn lâu mới cần lo lắng đến việc đặt thiệp mời cưới, nhưng tôi khâm phục phong cách bất cần của Frankie, thái độ phớt tỉnh tuyệt vời của cô đối với việc ăn kiêng và niềm tin lạc quan bất diệt rằng sẽ có ngày cô gặp được “Người Ấy”. Tôi thật lòng hy vọng cô sẽ tìm được - tôi có thể hình dung ra cô trong ngôi nhà kiểu Georgia, bày bánh cá ra đĩa trước chiếc bếp lò Aga cho một gia đình đông vui và yên ấm.

Thi thoảng chúng tôi ăn trưa cùng nhau, và trong khi tôi nghe không biết chán về thời thơ ấu cưỡi ngựa lùn của cô, cô có vẻ cũng thích nghe về những chuyến phiêu lưu (đã được biên tập kỹ càng) thời nhỏ của tôi. Frankie chắc chắn là một trong những điều tôi thích ở công việc của mình: còn lại là Dave, làm khuân vác ở nhà kho. Theo cảm nhận của tôi, Dave có lẽ là người duy nhất trong Nhà Đấu Giá thực sự quý mến tôi. Anh đã bỏ lại một chân ở Baghdad trong cuộc chiến tranh Iraq đầu tiên và bắt đầu tìm hiểu các tài liệu về hội họa trong khi dưỡng thương. Anh có cặp mắt tinh đời tuyệt diệu cùng đầu óc nhạy bén; niềm đam mê của anh là tranh thế kỷ mười tám. Anh từng nói với tôi rằng sau những gì mình chứng kiến ở Vùng Vịnh thì niềm đam mê đó, cơ hội để được gần những bức tranh vĩ đại đó, đôi khi là thứ duy nhất giúp anh tiếp tục sống. Tôi có thể thấy tình yêu trong cung cách anh nâng niu khi vận chuyển chúng. Tôi kính trọng sự chân thành trong sở thích của anh, cũng như kiến thức của anh, và tôi chắc chắn đã học được nhiều điều về hội họa từ Dave hơn từ bất kỳ cấp trên nào trong ban.

Tất nhiên chúng tôi có tán tỉnh nhau, hình thức gần nhất với chuyện phiếm bên máy nước lạnh mà tôi có được, nhưng tôi còn quý Dave vì anh cho tôi cảm giác an toàn. Sau câu đùa bạo dạn vào lúc này lúc khác, anh có sự quan tâm kiểu anh em, có phần cổ hủ dành cho tôi. Thậm chí anh từng gửi tôi thiệp chúc mừng khi tôi được thăng chức. Nhưng tôi biết anh đã có một gia đình hạnh phúc - vợ anh luôn được gọi là “bà xã nhà tôi” - và nói thẳng ra tôi thấy thoải mái khi ở bên một người đàn ông không muốn ngủ với mình. Ngoài tranh phong cách Rococo, thú vui còn lại của Dave là sách “tội phạm có thực” giật gân. Vợ chồng ăn thịt nhau là một trào lưu đang được ưa chuộng, với nhiều bà vợ biến chồng thành món pa tê ăn kèm một chai Chardonnay ướp lạnh, và Dave, người từng sử dụng các vũ khí dạng súng đầy hiệu quả, thích thú trước sự tài tình đậm tính Shakespeare của những món hung khí chết người họ sử dụng. Bạn sẽ phải kinh ngạc vì những chuyện bạn có thể làm với chiếc máy uốn tóc hay một con dao nhíp nếu bạn bỏ công sức vào đó. Chúng tôi đã dành nhiều giờ nghỉ giải lao rít đôi điếu thuốc vui vẻ trong khu nhà kho bụi bặm, phân tích những trào lưu giết chóc mới nhất, và đôi khi tôi tự hỏi những sở thích của anh liên quan thế nào với nhau, các vị nam thần và nữ thần được khắc họa đẹp đẽ và tinh tế qua lớp vải toan mà Dave yêu thích là nơi xoa dịu những bạo lực mà anh đã chứng kiến, hay là sự thừa nhận trong vẻ đẹp thường gợi dục của chúng rằng thế giới nghệ thuật cổ điển cũng tàn bạo và nhẫn tâm như mọi thứ anh từng chứng kiến trong sa mạc. Nếu tôi thán phục hiểu biết Dave có được thông qua tự học, thì anh đôi khi cũng ngượng ngùng tỏ ra nể trọng sự chuyên nghiệp của tôi.

Một buổi sáng sau hôm tiếp James, một thứ Sáu đầu tháng Bảy, có vài phút trước khi ban mở cửa, nên tôi lẻn vào nhà kho tìm Dave. Đêm qua là một đêm dài ở Gstaad và võng mạc tôi đau rát vì khói và thiếu ngủ. Dave nhận ra ngay khi thấy tôi đeo kính râm vào lúc chín giờ sáng.

“Đêm qua lao lực hả, tình yêu?”

Anh đưa cho tôi một cốc trà ngọt, viên Ibuprofen, và một phong Galaxy. Không gì chữa đau đầu bằng sô cô la rẻ tiền. Dave tốt bụng duy trì một ảo tưởng rằng như nhiều cô gái khác làm việc ở đây, tôi cũng có một đời sống xã hội hoành tráng trong vòng vây quý tộc ở Chelsea. Tôi không nói sự thật cho anh biết. Khi cảm thấy mình đã tương đối giống người thường để bỏ kính râm ra, tôi lấy sổ và thước dây từ cặp để bắt đầu đo một loạt tranh nhỏ vẽ phong cảnh Naples cho đợt bán “Grand Tour” sắp tới.

“Sốc chưa,” Dave bình luận, “đưa cái đó ra bán mức khởi điếm hai trăm với danh nghĩa Romney. May ra chỉ đáng xếp vào ‘cùng trường phái’.”

“Sốc thật,” tôi lẩm bẩm tán đồng, cắn bút. Một trong những điều đầu tiên tôi học được ở Nhà Đấu Giá là mức khởi điếm là mức giá thấp nhất một người bán phải thu được từ tác phẩm. Tôi hất hàm về phía túi quần sau của anh. “Sách mới hả Dave?”

“Ừ, nếu cô thích thì anh cho mượn. Đã lắm.”

“Romney ở Ý lúc nào ấy nhỉ?”

“1773 đến 1775. Rome và Venice là chủ yếu. Chuyện là, vợ thằng cha này làm thịt hắn ở cửa hàng Cuisinart. Ở Ohio.”

“Làm gì có, Dave.”

“Làm gì có chuyện bức đó là của Romney.”

Điện thoại tôi báo tin nhắn của Rupert, trưởng ban. Tôi phải đi định giá ngay sau khi ghi chép xong.

Rupert đang ngồi tại bàn ăn bữa sáng có lẽ là thứ ba trong ngày, một cái sandwich kẹp xúc xích đã chảy mù tạt lên một bên cổ tay áo đính khuy măng séc nặng trịch.

Sau đây tôi sẽ lại phải đến hiệu giặt là, tôi buồn rầu thầm nghĩ. Tôi có tội nợ gì với lũ đàn ông béo vậy nhỉ? Anh ta đưa cho tôi một địa chỉ ở St John’s Wood và chi tiết khách hàng, rồi bảo tôi đi ngay, nhưng khi tôi ra đến cửa văn phòng lại gọi với theo.

“Ờ, Judith?” một trong nhiều điều tôi ghét ở Rupert là việc anh ta coi “Ơ” là tên tôi.

“Vâng, Rupert?”

“Về mấy bức Whistler…”

“Hôm qua tôi đã đọc về chúng rồi, theo lời anh dặn.”

“Ờ, đúng rồi, nhưng hãy nhớ rằng Đại tá Morris là một khách hàng rất tầm cỡ. Ông ấy mong đợi sự chuyên nghiệp tuyệt đối.”

“Tất nhiên rồi, Rupert.”

Có lẽ tôi không ghét Rupert lắm, tôi thầm nghĩ. Anh ta tin tưởng giao cho tôi một vụ định giá quan trọng. Trước đó tôi đã từng được giao cho vài việc nhỏ, thậm chí đã vài lần ở ngoài London, nhưng lần này là cơ hội đầu tiên tôi được trao đổi với một khách hàng “tầm cỡ”. Tôi coi đó là một tín hiệu tốt, rằng lòng tin ông chủ dành cho tôi đang tăng lên. Nếu tôi có thể định giá đúng, chính xác nhưng hấp dẫn người bán, tôi sẽ dành được vụ giao dịch này cho Nhà Đấu Giá bằng cách mua được tranh về bán. Whistler là một họa sĩ lớn, một cái tên sẽ thu hút nhiều nhà sưu tầm có máu mặt, và điều đó có nghĩa là lọi nhuận béo bở cho Nhà Đấu Giá.

Để ăn mừng tôi tính tiền taxi vào tài khoản của ban, dù cấp dưới chúng tôi không được phép đi taxi. Khoản ngân sách đó để dành cho việc đi lại thiết yếu như đón Rupert từ Wolseley qua góc đường đến Piccadilly. Tôi xuống xe ở cách vài phố để có thể yên lặng dạo bộ dưới bóng cây rậm của mùa hè cạnh con kênh. Đầu tôi đã tỉnh táo, và có mùi tử đinh hương ẩm ướt từ những khu vườn có tường bao an ninh. Tôi mỉm cười khi nghĩ rằng những con phố này, với những nhóm vú em người Philippines nghiêm cẩn và công nhân người Ba Lan đang lắp đặt những bể bơi khổng lồ trong các tầng hầm, đã từng không hơn gì một nhà thổ cao cấp, đàn bà đứng đợi sau các tấm rèm xa hoa nặng trĩu, xếp hàng như những người mẫu khỏa thân của Etty, cho bạn tình ghé qua trên đường ra khỏi thành phố. London đã luôn và vẫn sẽ là một thành phố của gái điếm.

Một con mắt laser quét chòng chọc qua người tôi trong khi tôi ấn chuông căn hộ tầng trệt. Khách hàng đích thân ra mở cánh cửa dẫn vào ngôi nhà hai mặt tiền trát vữa màu kem. Tôi có phần chờ đợi người ra mở cửa là một người giúp việc.

“Đại tá Morris phải không ạ? Tôi là Judith Rashleigh,” tôi vừa tự giới thiệu vừa chìa tay, “từ British Pictures. Chúng ta có hẹn về bộ sưu tập Whistler.”

Ông ta thở ra một câu chào rồi tôi đi theo cái bàn tọa lồng trong quần Cavalry Twill của ông ta vào đại sảnh. Chẳng mong đợi sẽ được gặp một sĩ quan trẻ khỏe, nhưng tôi vẫn phải tự ngăn mình không co rúm lại khi bàn tay với những móng tay vàng xỉn chộp lấy tay mình. Cặp mắt nhỏ nanh ác giật giật trên bộ ria mép kiểu Hitler ngả bạc, bám lấy môi trên ông ta như một con sên trong cú nhảy khi trượt tuyết. Ông ta không mời tôi trà, mà dẫn thẳng tôi vào một phòng vẽ chật chội, nơi những tấm rèm kiểu cách màu nhạt tạo sự đối lập cục bộ kỳ quặc với những bức tranh tuyệt đẹp trên tường. Viên đại tá kéo rèm xuống trong khi tôi ngắm nhìn một bức Sargent, một bức Kneller và một tuyệt tác hoạt họa nhỏ xíu của Rembrant.

“Các bức tranh thật tuyệt vời.” Đáng giá ít nhất mười triệu. Đây thực sự sẽ là một vụ định giá tử tế.

Ông ta đắc ý gật đầu, dành cho tôi một nhịp thở phì phò như hải mã nữa. “Tôi để mấy bức Whistler trong phòng ngủ,” ông ta thở gấp, tung tẩy đi về phía cánh cửa thứ hai. Căn phòng này còn tối tăm và bí bức hơn nữa, với mùi ngai ngái khó ngửi của mồ hôi đã khô trộn với mùi hắc của nước hoa lỗi thời. Một chiếc giường lớn trải nệm và chăn lông màu xanh rêu, chiếm hầu hết không gian. Tôi phải lách vòng qua nó để đến chiếc bàn bày năm bức tranh nhỏ xếp hàng. Tôi lấy đèn pin ra kiểm tra kỹ lưỡng từng bức, kiểm tra sự nhất quán của chữ ký và thật khẽ khàng tháo khung để kiểm tra hình in chìm trên giấy.

“Rất đẹp,” tôi nói. “Dành cho series Thames Sonata, đúng như ngài đã gợi ý.” Tôi khá hài lòng với giọng nói tự tin, chuyên nghiệp khi định danh của mình.

“Tôi không cần cô nói với tôi chuyện đó.”

“Tất nhiên. Nhưng ngài đang có ý định rao bán chúng chứ? Chúng sẽ không thích hợp lắm cho đợt trưng bày tác phẩm Ý, nhưng sẽ rất lý tưởng cho catalog mùa xuân. Hẳn là ngài có văn bản nguồn gốc tranh chứ?” Nguồn gốc tranh là mấu chốt trong vụ làm ăn này - con đường một bức tranh đi từ giá vẽ của họa sĩ qua tay nhiều người chủ và phòng tranh khác nhau, con đường được ghi trên giấy trắng mực đen để chứng minh rằng nó là hàng thật.

“Đương nhiên. Có lẽ cô sẽ thích xem qua mấy cái này trong khi tôi đi tìm?” Ông ta đưa cho tôi một album nặng trịch. “Chúng thuộc cuối thời Victoria. Lạ mắt lắm đấy.”

Có lẽ là do hai bàn tay đang bấu lấy mông tôi quờ quạng, nhưng tôi đã có một hình dung rõ rệt đến đáng buồn về những bản khắc a xit của tay đại tá. Chẳng phải thứ gì tôi không xử lý nổi. Tôi thản nhiên giật hai bàn tay kia ra và mở cuốn album. Không tồi, theo tiêu chuẩn tranh khiêu dâm thế kỷ mười chín. Tôi lật giở vài trang như thể thực sự có quan tâm. Sự chuyên nghiệp là thứ tôi cần. Nhưng rồi tôi cảm thấy một bàn tay bò quanh ngực mình, và đột nhiên trọng lượng của ông ta đè lên tôi, thình lình đẩy tôi xuống giường.

“Đại tá! Buông tôi ra ngay!” Tôi cố gắng lấy giọng của một trưởng hội nữ sinh giận dữ nói với ông ta, nhưng đây không còn có vẻ là kịch câm nữa rồi. Cơ thể ông ta nặng nề đè lên phổi tôi trong khi ông ta lăn sang bên để tìm cách luồn những ngón tay nhọn hoắt thô bỉ xuống dưới váy tôi. Tấm chăn xanh lục làm tôi phát ngộp; tôi không sao ngẩng được đầu lên. Nỗ lực đẩy ông ta ra rõ ràng chỉ làm lợi cho ông ta, trong khi ông ta ấn một nụ hôn ướt át hôi thối lên cần cổ lộ ra của tôi và tiếp tục chồm lên người tôi.

Tôi thở gấp từng hơi - tôi không lấy được chút không khí nào, và đó là điều làm tôi hoảng sợ. Tôi thực sự không thích thế này. Tôi cố gắng luồn tay xuống dưới để nâng mình lên và hất ông ta ra, nhưng ông ta ấn chặt cổ tay phải tôi xuống giường. Tôi chật vật quay mặt sang phải và hít vào một luồng hơi hôi hám dưới nách ông ta. Mồ hôi ra ướt đẫm vạt trước chiếc áo sơ mi Viyella của ông ta và khuôn mặt nhăn nhúm của ông ta kề sát vào mặt tôi.

Ở khoảng cách này, hàm răng ông ta hiện rõ những chân răng ngắn ngủn màu nâu xỉn, nhỏ xíu gớm ghiếc.

“Cô thấy thế nào?” ông ta thở dốc, nheo cặp mắt tí hin với vẻ dụ dỗ. “Tôi còn nhiều thứ như thế lắm. Cả video nữa. Tôi cá đồ chó cái như cô sẽ thích thứ đó đấy nhỉ?”

Bụng ông ta cọ sột soạt lên lưng tôi. Tôi để cho ông ta có thời gian lần mò con ruồi nhỏ xíu của mình. Chúa mới biết được ông ta nghĩ mình sẽ tìm thấy gì ở đó. Rồi tôi cắn tay ông ta mạnh hết sức, cảm thấy da thịt ông ta lỏng ra dưới hàm mình. Trong tích tắc ông ta ré lên và nhổm dậy, tôi chộp lấy túi xách, tìm được điện thoại và nhắm thắng vào háng ông ta như một khẩu súng lục.

“Đồ…”

“Chó cái? Phải, ông nói một lần rồi. Vấn đề của chó là chúng nó biết cắn đấy. Nào. Tránh mẹ nó ra.”

Ông ta đang chăm lo cho bàn tay của mình. Tôi không cắn đến chảy máu, nhưng vẫn nhổ vào ông ta cho chắc ăn.

“Tôi sẽ gọi Rupert ngay bây giờ!”

“Tôi không nghĩ vậy đâu. Nói để ông biết, video bây giờ hơi lỗi thời rồi, Đại tá Morris ạ. Chúng ta đã có kỹ thuật số. Như điện thoại của tôi đây này. Nó có thể quay thứ này và tự động gửi mail cho tất cả bạn bè của tôi. Dù không có kính lúp để xem cái thứ ông đang giấu trong quần. Ông đã nghe đến YouTube bao giờ chưa?”

Tôi chờ đợi, dán mắt lên mặt ông ta, cảm thấy xương sống cứng lại dưới lớp áo vì căng thẳng, vẫn không có cách nào tôi đi qua được ông ta trong không gian tù túng này trừ phi ông ta chịu để tôi qua. Tôi hít vào rồi thở ra thật chậm rãi. Đây là một khách hàng rất quan trọng.

“Vậy thì, rất cảm ơn ngài đã dành thời gian, thưa Đại tá. Tôi sẽ không quấy rầy ngài thêm nữa. Tôi sẽ cho người của bộ phận kho đến đóng gói tranh vào chiều nay, được không?”

Khi ra đến cửa trước tôi có thêm một khoảnh khắc hoảng loạn nữa, nhưng chốt cửa mở ra, rồi khẽ khàng đóng lại sau lưng tôi với một tiếng lách cách nặng nề. Tôi vươn thẳng lưng đi đến đường Abbey. Tôi hít vào bốn giây, giữ bốn giây, rồi thở ra bốn giây. Rồi tôi lấy khăn trong túi ra lau mặt, sửa lại tóc và gọi về ban.

“Rupert? Judith đây ạ. Chúng ta có thể cử người đến lấy bộ Whistler vào chiều nay.”

“Ờ, Judith. Mọi chuyện, ờ, ổn cả chứ?”

“Có gì để mà không ổn đây?”

“Không có, ờ, rắc rối gì với Đại tá chứ?”

Anh ta biết. Rupes khốn kiếp biết. Tôi giữ giọng nói thật tự nhiên.

“Không có rắc rối gì hết. Mọi chuyện khá là… dễ xử lý.”

“Giỏi lắm.”

“Cảm ơn anh, Rupert. Tôi sẽ về văn phòng sớm.”

Tất nhiên là anh ta biết. Vì thế anh ta mới cử một cô em xinh tươi đến thay vì tự mình đi làm việc định giá quan trọng này. Vì sao mày lại dốt thế hở Judith? Sao mày lại tin rằng anh ta có thể cử một đứa vô danh tiểu tốt trong ban đi làm một việc tầm cỡ trừ phi khách hàng mong đợi xơ múi gì khác? Trong lòng anh ta đã biết rõ nên dùng tôi vào việc gì chăng?

Rồi, chỉ trong vài giây, tôi dựa vào tường và giấu mặt vào hai cánh tay, để adrenalin trào qua mình. Tôi run đến mức cảm thấy cơ bụng ê ẩm. Tôi cảm thấy mình bị bao phủ trong thứ mùi hôi hám của tay đại tá khốn kiếp Morris và tôi giận dữ đến rã rời, như bị thứ gì đấm mạnh vào tim. Tôi cau rúm mặt lại cố nén cơn thút thít. Tôi có thể khóc, tôi thầm nghĩ. Tôi có thể dúi mặt vào lớp gạch London lấm tấm và khóc than cho mọi thứ mà tôi không có, cho sự bất công, cho sự mệt mỏi rã rời nó gây ra cho tôi. Tôi có thể khóc như con bé bánh bèo vẫn luôn là một phần của tôi, vì tôi phải chấp nhận. Nhưng nếu khóc tôi có thể sẽ không dừng lại được. Không thể chấp nhận. Chuyện này chẳng là gì cả. Tôi phát hiện mình lại nghĩ rằng thực ra Rupert có thể đang biết ơn tôi, vì tôi không làm một chuyện đương nhiên, ầm ĩ lên về chuyện bị quấy rối và nằng nặc đòi báo cảnh sát, nhưng tôi dập ngay ý nghĩ đó cùng nỗi thương thân tủi phận của mình. Mong đợi được khen ngợi là chuyện lãng phí thời gian, cũng như chỉ tổ lãng phí thời gian đi hậm hực vì nó. Có thể tôi không có cái tên quý tộc, không được đi học hay được hưởng những kỳ nghỉ bắn súng cuối tuần cùng giới quý tộc, nhưng tôi không đố kỵ với những Rupert trên thế giới này, và tôi chưa đủ mặc cảm để khinh bỉ họ. Ghét thì tốt hơn. Căm ghét giữ cho bạn lạnh lùng, giúp bạn bước nhanh, giữ cho bạn cô đơn. Nếu bạn muốn biến mình thành người khác, thì cô đơn là một khởi đầu tốt.

Khi tôi đến dự phỏng vấn ở phố Prince, Rupert uể oải đưa cho tôi vài tấm bưu thiếp để nhận dạng; trò sơ đẳng - một bức Velazquez, một bức Cranach. Khi đó tôi tự hỏi anh ta có thèm đọc CV của tôi không, rồi sau đó, khi đề cập đến bằng thạc sĩ của mình, tôi liền nhận ra từ vẻ mặt ngạc nhiên nghi ngại của anh ta là anh ta đã không đọc. Tấm bưu thiếp cuối cùng, mà anh ta đẩy rất điêu luyện qua mặt bàn, cho thấy một cô gái bán khỏa thân mảnh khảnh bao bọc trong những tấm rèm mỏng manh.

“Allegoria dell’Inclinazione, của Artemisia Gentileschi,” tôi trả lời không do dự. Trong một khoảnh khắc chớp nhoáng, Rupert quả thực đã tỏ ra bị ấn tượng. Tôi đã đính bức bưu thiếp ấy trên tường kể từ chuyến đi đến Florence khi tôi mười sáu tuổi. Artemisia là con gái của một họa sĩ, là người xuất sắc nhất trong các thợ học việc của ông, một trong số họ đã cưỡng bức nàng khi họ thực hiện một tác phẩm ở Rome. Nàng đưa hắn ra tòa và, sau khi bị tra tấn bằng bàn kẹp tay để chứng minh rằng nàng nói thật, nàng đã thắng kiện. Đôi bàn tay chính là tương lai của nàng, và nàng chấp nhận nguy cơ chúng bị vặn tới không thể phục hồi, nàng đã đòi công bằng một cách mãnh liệt như vậy. Nhiều bức tranh của nàng bạo lực có tiếng, đến mức nhiều nhà phê bình cảm thấy khó mà tin được rằng một người phụ nữ đã vẽ chúng, nhưng tôi chọn bức này vì Artemisia đã dùng chính khuôn mặt của mình để làm mẫu.

Khi vẽ bức tranh này nàng hai mươi mốt tuổi, bị ép gả cho một họa sĩ cung đình hạng ba ăn bám vào tài năng của nàng, nhưng tôi cho rằng nàng đã thể hiện mình theo cách mình muốn, không chút hổ thẹn, khuôn mặt ngay thẳng của nàng bình thản, cầm một chiếc la bàn, biểu tượng của lòng quyết tâm của chính nàng. Tôi sẽ lựa chọn, bức tranh nói với tôi, tôi sẽ lựa chọn. Như mọi thiếu nữ khi yêu, tôi đã tin chắc rằng không có ai hiểu Artemisia như tôi hiểu nàng. Chủ thể có lẽ chỉ có một, nhưng cảm xúc thì vẫn như cũ. Tôi và nàng, chúng tôi thật giống nhau. Nếu nàng không chết ở thế kỷ mười bảy, chắc chắn chúng tôi đã có thể trở thành bạn thân suốt đời.

Chính Artemisia đã giúp tôi giành được công việc này. Buổi phỏng vấn ấy là lần duy nhất Rupert nhìn thấy tôi, tức là thấy một con người chứ không phải một sự hiện diện không đáng bận tâm. Nhưng ngay cả khi đó, thứ anh ta thấy chỉ là một đứa chạy vặt hoàn hảo, lanh lợi, sẵn sàng làm cu li cho anh ta mà không bao giờ ca thán. Lúc này, mắt ráo hoảnh đứng dựa vào bức tường ngoại ô, tôi cảm thấy một cuộn chỉ tình yêu uốn lượn trở lại với bản thân tôi năm mười sáu tuổi, đứng ở Casa Buonarroti với chiếc cặp sách chân phương và bộ quần áo xấu xí, ước gì tôi có thể xuất hiện như một hồn ma từ tương lai để nói với cô bé ấy rằng mọi thứ rồi sẽ ổn. Vì đúng là như vậy. Tôi sẽ không đi báo cảnh sát. Rupert sẽ đuổi việc tôi ngay khi tôi tố cáo. Không. Tôi có thể nhẫn nhịn, tôi có thể khiến mọi chuyện ổn thỏa.

histler là một họa sĩ lớn, một cái tên sẽ thu hút nhiều nhà sưu tầm có máu mặt, và điều đó có nghĩa là lọi nhuận béo bở cho Nhà Đấu Giá. Để ăn mừng tôi tính tiền taxi vào tài khoản của ban, dù cấp dưới chúng tôi không được phép đi taxi. Kho
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của L. S. Hilton

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.