Phải đến khi chúng tôi về đến phòng khách sạn của tôi và tôi rót cho ông ta một ly rượu mà không đòi tiền trước, Jean-Christophe mới bắt đầu hiểu ra rằng tôi không phải là gái điếm. Và ngay cả sau khi chôn mặt trong cô bé của tôi mười lăm phút, làm tôi ba lần từ phía sau trong sự cổ vũ của nhạc giao hưởng hợp tình hợp cảnh, để run rẩy chút ít trong vòng tay lông lá đến đáng ngạc nhiên của ông ta, ông ta vẫn chưa tin hẳn được điều đó.
“Anh không ngờ được chuyện này,” ông ta nói bằng tiếng Pháp.
“Đây là lúc em nói rằng thường thì em không bạo dạn đến thế, chỉ là em không cưỡng lại được thôi phải không?” Tôi giãy khỏi tay ông ta và trở dậy đi lấy một ly nước trong tình trạng trần truồng, bảo đảm ông ta được nhìn rõ lần đầu tiên.
“Ừm, thì đúng là em thích anh,” tôi nói tiếp, “nhưng em là người lớn và không còn thích diễn trò nữa.”
“Ra vậy.”
“Nhưng em không phải loại đeo bám. Nếu thích thì anh cứ việc ở lại.” Tôi trở lại giường và quấn chăn quanh người. “Không thì thôi.”
Ông ta choàng hai tay ôm tôi từ phía sau, giữ lấy ngực tôi và cắn vào gáy tôi. Việc này có lẽ sẽ không mấy khó nhọc.
“Sáng mai anh phải đến văn phòng.”
“Anh mặc áo cỡ gì?”
“Sao?”
“Em sẽ gọi lễ tân để kiếm áo sạch cho anh. Anh ta sẽ thích được khách yêu cầu đấy.”
Jean-Christophe ở lại thật, đêm đó và đêm sau nữa. Rồi ông ta hỏi tôi có muốn đến Courchevel nghỉ cuối tuần cùng không. Mùa này đang đứng về phía tôi, tôi thầm nghĩ. Không chỉ các bà vợ đã được gửi đi nghỉ mát an toàn (tôi tự hỏi liệu phu nhân Jean-Christophe đang tự giải trí với huấn luyện viên tennis tại Cap d’Antibes hay đang miệt mài tự bỏ đói mình ở Biarritz?), mà đồng thời, dù có đủ loại tài năng, tôi thực ra lại không biết trượt tuyết, một điều sẽ trở nên khó giải thích cho Lauren, nàng môi giới tranh đáng mến người Anh nếu là vào mùa đông. Lauren là kiểu cô gái sẽ mừng rỡ một cách hồn nhiên, nhưng không quá ngưỡng mộ, khi chiếc Jaguar của Jean-Christophe tiến vào khu Cảng Hàng không Chung ở sân bay Geneva. Rõ ràng tôi chưa từng đi máy bay riêng bao giờ, nhưng giờ thì tôi có thể hiểu được ý của Carlotta. Hai mươi phút trên chiếc trực tháng Sikorsky, trầm trồ trên khung cảnh uy nghi của dãy Alps rực sáng dưới chân chúng tôi, thế là chúng tôi hạ cánh xuống năm 1850. Đây là loại trải nghiệm có thể khiến một người biến chất suốt đời.
Chúng tôi nghỉ tại một căn nhà nghỉ mượn của một người bạn học cũ của Jean-Christophe. Chỗ nghỉ của chính ông ta thì ở Verbier; tôi tưởng tượng đây là kiểu thỏa thuận lâu dài thuận tiện cho cả hai người bọn họ. Trong khi ông ta hoàn thành nốt công việc ngày thứ Sáu của mình - các cuộc gọi buổi tối đến văn phòng, thì tôi dò xét một vòng xung quanh. Đây không phải là kiểu lâu đài thủy tinh trị giá hàng triệu triệu euro mà người Nga xây dựng trên những nơi trở thành đường trượt tuyết vào mùa đông, mà giống kiểu nhà nghỉ gia đình, ba phòng ngủ, mọi thứ đều bằng gỗ, trang hoàng trong sự kết hợp giữa phong cách lộn xộn sành điệu của vùng Alps và một vài món nghệ thuật phương Đông tầm thường mà xinh xắn. Giường trải nệm vải lanh sứ Basque kẻ sọc nhiều màu. Chi tiết xa hoa duy nhất là một bồn tắm sục bằng gỗ tuyết tùng xây dựng trên một bệ gỗ cao, nhìn thẳng xuống thung lũng. Trong nhà có những cuốn sách cũ nát và ảnh gia đình, người bạn cùng bà vợ đậm đà và ba đứa con tóc vàng béo tốt đứng trên sườn của một nơi nào đó trông như bờ biển miền nhiệt đới. Cô con gái trẻ hơn tôi khoảng mười tuổi. Tôi thầm thắc mắc về cuộc đời cô ta, về trường nội trú, quần áo và những kỳ nghỉ của cô ta, về việc lớn lên trong sự an toàn, sự bao bọc là như thế nào. Chắc hẳn cô ta sẽ hút thuốc mà sống qua ngày rồi than thở với bạn bè trên Facebook rằng sự tồn tại của mình mới khốn khổ làm sao.
Jean-Christophe xin lỗi vì ông ta không thể đưa tôi đến La Mangeoire, nhà hàng mà cứ vào mười rưỡi tối lại biến thành hộp đêm đắt đỏ nhất ở Courchevel, nhưng tôi vui vẻ trấn an ông ta rằng tôi thích làm điều gì đó đơn giản hơn. Chúng tôi thay sang đồ jean và áo len cashmere rồi nắm tay nhau đi dạo quanh thị trấn, dừng chân ở một quán rượu nhỏ mà người chủ rõ ràng nhận ra ông ta. Jean-Christophe lịch sự hỏi tôi có nghĩ raclette ngấy quá không, và tôi lịch sự trả lời rằng trên này vừa đủ lạnh để khiến món đó thành niềm vui. Vậy là chúng tôi cắt phô mai nóng chảy từ một thứ trông như dụng cụ tra tấn thời Trung cổ lên giăm bông hun khói và thịt thú rừng, và uống một chai Burgundy. Tôi khá thích Jean-Christophe, dù rõ ràng không được thắm thiết như tôi thể hiện ra. Không như James, ông ta có cử chỉ lịch thiệp, và một kho tàng chuyện gẫu phong phú chủ yếu xoay quanh du lịch. Ông ta không hỏi nhiều, nhưng tôi chủ động kể ngắn gọn rằng tôi có kế hoạch mở phòng tranh riêng. Khi chai rượu gần hết ông ta nắm tay tôi và hôn.
“Mats, que tu es belle.”*
Tiếng Pháp: nhưng em đẹp thế cơ mà.
Tôi muốn bật cười. Trong cuộc đời trước, đây sẽ là mọi thứ tôi mơ ước. Một người đàn ông lớn tuổi có máu mặt, một địa điểm biệt lập. Lạy Chúa. Trong khi sự thực là, tôi đang đếm từng phút cho tới khi tôi có thể an toàn đưa ông ta vào trong chiếc bồn tắm. Vậy là chúng tôi dạo bước trở về, và tôi cảm thán vài câu về vẻ đẹp của các vì sao, mà quả thực là lạ thường, lung linh gần gũi, rồi tôi chạy vào nhà trước ông ta và lấy một chai sâm banh cùng hai cái ly và mở cúc áo, để khi ông ta bước ra bao lơn tôi đã khỏa thân dưới làn hơi nước mời gọi cùng mái tóc óng ả buông trên lưng. Jean-Christophe bước vào với tôi, châm một điếu xì gà rồi ngửa đầu ra sau và chúng tôi lặng yên vài phút, nhấp rượu và ngắm nhìn cảnh đêm. Các ngón tay ông ta bơi về phía tôi, lơ đãng với lấy nhũ hoa tôi, nhưng tôi ngồi thẳng dậy.
“Cưng này, em muốn hỏi anh một chuyện.”
Ngay tức khắc, ông ta trở nên căng thắng. Nếu là một màn năn nỉ xin xỏ ông ta sẽ sẵn sàng đối phó, và chắc chắn là cực kỳ nhã nhặn, nhưng vô cùng thất vọng, có lẽ còn hơi buồn. Tôi cứ để ông ta tự tưởng tượng trong giây lát.
“Chuyện là, em có việc cần anh giúp.”
“Ừ.”
Giọng ông ta đều đều và thiếu thiện chí. Sẽ là cái gì đây, tôi có thể thấy ông ta đang tự hỏi đầy hoài nghi - ông chủ nhà cứng rắn, khoản học phí đắt đỏ? Bà mẹ ốm đau? Chắc không phải là bà mẹ ốm đau đấy chứ?
“Tất nhiên em sẽ trả tiền. Một khoản phí. Có lẽ là một trăm ngàn euro?”
“Em sẽ trả?”
“Vâng, tất nhiên. Tức là, em đang nghĩ… Anh còn nhớ lúc ăn tối em có nói đến phòng tranh không?”
“Có.”
“Em đến Geneva vì em có một nhà đầu tư. Ông ấy có ý định mua tranh nghiêm túc và đã sẵn sàng tài trợ cho em. Em đang xem xét tính khả thi. Khoản ngân quỹ thì bây giờ đang gửi ở ngân hàng Osprey.”
Ông ta đã tỏ ra hứng thú, bắt đầu nghĩ như một người làm ăn, chứ không phải một tay chơi nữa.
“Osprey à? Anh có người quen ở đó.”
“Nhưng em muốn chuyển tiền đi. Thân chủ của em rất là… chính xác. Ông ấy muốn thu thập một bộ sưu tập quan trọng và em biết rõ là ông ấy đang cho em cơ hội. Nhưng ông ấy cũng phải rất kín đáo - anh hiểu chứ? Ông ấy không muốn thế giới biết mình đang mua gì. Và em nghĩ Thụy Sĩ không còn được yên ắng cho lắm. Sau vụ UBS năm ngoái.”
“Vậy thì?”
“Thế nên em muốn chuyển tiền đi. Nhưng em cần chuyển nhanh, vì em nghĩ thân chủ của em sẽ không hứng thú lâu và nếu em không sớm mua tranh cho ông ấy thì ông ấy có thể mất kiên nhẫn. Hội chợ tranh đương đại Thượng Hải bắt đầu vào đầu tháng Chín nên em cần chuẩn bị sẵn sàng. Với cả có mấy họa sĩ trưng bày ở Art Basel Hồng Công vào mùa xuân nữa - em không thể đợi làm thủ tục được. Thế nên em nghĩ anh có thế giúp em,” tôi kết luận đơn giản, cố nhìn thật rõ mắt ông ta qua làn hơi nước.
“Em định thế nào?”
“Jean-Christophe, em không hiểu anh rõ lắm. Nhưng em cảm thấy có thể tin anh. Số tiền khá lớn - khoảng sáu triệu euro. Em muốn anh chuyến nó đến một tài khoản doanh nghiệp ở Panama cho em, càng nhanh càng tốt. Em muốn sắp xếp để rút các quỹ và tiền lương của chính em từ tài khoản đó như nhân viên công ty. Em sẽ trả anh một trăm ngàn euro, anh muốn chuyển tiền đến đâu cũng được. Chỉ thế thôi.”
“Sáu triệu?”
“Một bức Rothko rẻ. Thực sự cũng chẳng nhiều nhặn gì-”
“Em quả là cô gái đáng ngạc nhiên.”
“Vâng,” tôi trả lời, trước khi trượt mình xuống nước.
“Quả là đáng ngạc nhiên.” Tôi thấy mừng vì đã lấy chứng chỉ kỹ năng cấp cứu. Điều huấn luyện viên nói là thật: những kỹ năng đó sẽ luôn có lúc cần dùng đến.
Vậy là tôi có một cuối tuần khá tích cực còn Jean-Christophe có một cuối tuần rất thư giãn, rồi chúng tôi bay trực thăng về Geneva vào sáng thứ Hai và đi taxi tới thẳng tòa nhà Osprey. Tôi bảo Jean-Christophe là tôi không muốn vào, nhưng ông ta nói tôi phải đi cùng nếu không họ sẽ không đồng ý đóng tài khoản. Nhưng có vẻ cái phúc bạc tỷ của Steve vẫn còn lơ lửng trên đầu tôi như một bà tiên đỡ đầu. Người tiếp chúng tôi còn khúm núm và nhiệt tình hơn cả vị giám đốc lần trước. Tôi đưa mã số và cuối cùng quyết định để lại 10.000 ban đầu - biết đâu sau này cần đến. Tôi định gửi cho Steve một thứ gì đó có mức giá ấy ngay khi tôi đã ổn định rồi chúng tôi sẽ huề nhau. Nếu đầu mối của Jean-Christophe ở Osprey có ngạc nhiên, anh ta cũng không thể hiện ra, nhưng nói cho cùng đó chính là giá trị của Thụy Sĩ. Nếu bạn có tiền, bạn có thể giấu bất cứ thứ gì ở đó. Vậy nên khi chúng tôi bước ra Jean-Christophe đã có thêm 100.000 còn tôi đường hoàng là nhân viên duy nhất của Gentileschi Ltd., trụ sở tại Klein Fenyves, Panama, mức lương 100.000 euro một năm với quyền xuất tiền linh động để trả các khoản chi phí, ngân quỹ sẽ được xuất vào tài khoản do tôi lựa chọn. Tất cả đều được đánh thuế, công khai, an toàn, tất cả đứng tên tôi. Không còn liên hệ gì với vụ chuyển tiền của Moncada hay với cái tài khoản tầm thường ở đảo Cook nữa. Vẫn còn quá sớm để đi uống rượu mừng, nên chúng tôi gượng gạo bắt tay nhau trên bậc thềm ngân hàng và tôi nói vài câu xã giao rằng lần sau đến tôi sẽ liên lạc, dù cả hai chúng tôi đều biết tôi sẽ không làm thế. Tài xế của ông ta lái xe tới và ông ta biến mất, dù tôi cũng hơi cảm động khi thấy ông ta chịu khó ngoái lại nhìn qua cửa sổ cho đến khi rẽ ngoặt rồi mới quay sang với điện thoại. Tôi tự hỏi ông ta có cảm thấy mình vừa bị dắt mũi không, rồi quyết định rằng có lẽ ông ta cảm thấy thế thật, dù không có nhiều nạn nhân bị xỏ mũi được trả giá cao như thế, xét theo mọi nghĩa.
Tôi đi bộ trở lại Bergues qua một cơn mưa rào đột ngột. Có vẻ tôi đã mua một lượng đồ đáng ngạc nhiên, khi tôi nhìn đống đồ không ăn nhập trong gian hành lý. Tôi có thể sắm cho mình một bộ tử tế hơn. Hành lý tiệp màu, sang chảnh. Không hiểu sao việc đó không khiến tôi vui lên như tôi tưởng. Mệt mỏi, tôi đến phòng đợi gọi một cà phê, đăng nhập vào trang Carriere della Sera. Nó đây rồi: “Doanh nhân Anh bị sát hại dã man”. Tôi bắt mình chậm rãi đọc hết, ba lần. Không nhắc gì đến tên tôi. Chỉ nói rằng “Cảnh sát đã thẩm vấn một đồng nghiệp của nạn nhân, người này khẳng định ông ta có hẹn gặp một khách hàng chưa biết danh tính”. Nếu nó đã đăng ở Ý hôm nay thì chắc chắn nó sẽ có trên báo Anh vào ngày mai, đặc biệt là khi tháng Tám đang là mùa thiếu tin. Nhưng tôi an toàn rồi, đúng không? Rupert sẽ hoảng loạn, khi thấy tiền chạy vào một tài khoản Thụy Sĩ, nhưng giờ đã biến mất. Osprey sẽ không cung cấp thông tin về nơi chuyển tiền đến, dù đồ khốn béo ị ấy có giật dây nào đi nữa. Tôi đã dệt xong câu chuyện rồi. Dù anh ta có biết tôi đã gặp Moncada, dù có tìm được tôi, tôi chỉ cần nói rằng tôi đoán ra vụ lừa đảo Stubbs và thuyết phục Cameron cho tôi tham gia với phần chia mười ngàn. Số tiền bèo bọt mà một người như Judith Rashleigh sẽ cần. Rồi khi ông ta không đến, tôi đi một mình và thấy tiền đã được chuyển đến địa chỉ mà Cameron chỉ định, và tôi chỉ biết có vậy thôi. Rupert có thế đổ tội cho Moncada, có thể đổ tội cho Cameron, có thế đổ tội cho ai tùy thích, nhưng chẳng có liên quan gì đến tôi cả. Và vì sao tôi lại giữ im lặng về sự liên quan của Rupert mà không nói cho cảnh sát Ý? Lòng trung thành còn lại, tinh thần tuân thủ cuộc chơi, không làm nhà trường thất vọng. Một lần nữa, kiểu trung thành như chó với những nguyên tắc tự đặt cho bản thân mà tôi từng một thời nghĩ sẽ gây ấn tượng với họ.
Tôi nhắm mắt. Đã bao lâu tôi không được thở đàng hoàng? Tôi nên vận động, thu thập đống hành lý khốn kiếp kia, bắt một taxi đến ga tàu, làm bước tiếp theo, rồi bước tiếp theo. Nhưng tôi không làm. Tôi cứ ngồi đó, ngắm mưa rơi.
PHẦN BỐN