Đó hóa ra lại là bữa tiệc cuối cùng của tôi ở London.
Từ khi làm việc ở hộp đêm Gstaad tôi phải chăm lo cho bản thân, ngủ đủ giấc và chạy thể dục, không kém gì chăm lo cho sự nghiệp thực sự của mình. Tôi tự nhủ rằng tôi phải gạt bỏ sự vụ với Đại tá Morris đi. Lão già khốn kiếp ấy đã thất bại trong nỗ lực thảm hại của lão, và điều duy nhất quan trọng đối với tôi là kết quả sau cùng. Tôi phải hoàn thành suôn sẻ việc định giá và đó là thứ duy nhất có ý nghĩa ở Nhà Đấu Giá. Vì vậy tôi phải khỏe khoắn và sảng khoái, ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải đặt đồng hồ báo thức lúc năm giờ để chạy vòng quanh công viên Hyde trước khi đến văn phòng. Từ khi James bắt đầu diễu vào hộp đêm cùng những trận mưa đồng năm mươi bảng, tôi bắt đầu thường xuyên đi làm mặt, làm móng và chi tiền cho vài buổi tập Pilate đắt đỏ ở phòng tập gym. Nhờ đọc loại báo mới, tôi biết rằng đây không phải là chi tiêu hoang phí, mà là Đầu Tư Cho Bản Thân. James bây giờ đã được coi là khách quen của tôi và vào các ngày thứ Năm và thứ Sáu Olly bảo tôi không cần phải tiếp bất kỳ ai khác, dù đôi khi tôi vẫn ngồi với một người khác nếu được đề nghị, để James phải ngồi một mình, theo dõi tôi chăm chú cho đến khi chai rượu bắt buộc đã cạn và tôi có thể dưỡn dẹo băng qua sàn nhảy cùng một nụ cười niềm nở trên mặt.
Tôi không khỏi mơ tưởng về những việc tôi có thể làm nếu giữ được sự ưa thích của James với mình. Công việc ở British Pictures hầu như chẳng trả nổi cho tôi mức tiền công tối thiểu. Dù việc học hành của tôi coi như miễn phí, nhưng tôi vẫn lấy một khoản vay tốt nghiệp mười ngàn bảng khi học xong để trang trải tiền nhà và chi phí sinh hoạt. Chẳng mấy chốc tôi sẽ phải bắt đầu trả nợ. Tôi từng nghĩ mình đủ khả năng giành được một vị trí không quá thấp trước khi đến kỳ trả nợ nên việc mạo hiểm này có vẻ hợp lý, nhưng hạn trả nợ sẽ đến vào mùa thu này, chỉ cách vẻn vẹn vài tháng, mà cho đến tận khi bắt đầu đi làm ở hộp đêm tôi vẫn chỉ gắng gượng qua ngày. Với một ngàn bảng mỗi tuần từ James, cộng thêm số tôi kiếm được từ những vị khách khác, tôi có thể hy vọng sẽ bắt đầu trả được nợ và dễ thở đôi chút, có thể còn kiếm được một căn hộ ở riêng. Tôi mở một tài khoản tiết kiệm và theo dõi số dư bắt đầu cao lên.
Điều James muốn đã rõ ngay từ đầu, nhưng sự ngạo mạn của ông ta được phủ trong một lớp do dự, như thể ông ta không biết phải bắt đầu từ đâu. Như phần lớn đàn ông khác, chủ đề nói chuyện ưa thích của ông ta là bản thân mình, nên moi tin từ ông ta rất dễ. Ông ta có vợ, Veronica, và một cô con gái tuổi teen, đang sống ở Kensington, gần công viên Holland. Ông ta tự nhận là thích đọc sách triết học trong thời gian rảnh, dù ý tưởng về tư duy nghiêm túc của ông ta thiên về “CEO Jesus” hơn là mỹ học Kant. Thế nhưng chúng tôi vẫn có khá nhiều đề tài để nói từ đó. Tôi nhờ ông gợi ý vài tựa sách rồi Google phần bình luận để có vẻ như tôi đã đọc. Veronica quản lý nhà cửa và giữ ghế ở vài hội đồng từ thiện khác nhau. Tôi có phần thắc mắc về bà ta, liệu bà có biết, có quan tâm xem chồng mình ở đâu buổi tối hay không. Tôi ngờ là không. Họ có làm tình không? Tôi không thể tưởng tượng được là James có khả năng đó - ngay cả khi lượng estrogen sản sinh từ ngần ấy mỡ không gặm nhấm hết của quý của ông ta, thì việc leo cầu thang lên hộp đêm thôi cũng đủ khiến ông ta chực nhồi máu cơ tim. Nhưng khi những buổi tối ngồi với nhau kéo dài ra, ông ta háo hức thuyết phục tôi rằng mình từng là tay chơi khi còn trẻ. Ồ James, ông ta từng có một thời tung hoành. Người phụ nữ có chồng hơn tuổi ở St Moritz, hai chị em ở Cap Ferrat. Ông ta đủ tuổi để tuyên bố mình từng là nguồn khoái cảm cho một quý cô nào đó, và tôi sẽ tha hồ được nghe những giai thoại về các “nường” chơi hết mình trên xe thể thao và các quảng trường của London, những bữa tiệc tại gia chết cười và những hộp đêm ở Soho. Có vẻ như, phần còn lại của xã hội London thập niên bảy mươi chính là một thiên đường khêu gợi cho kẻ béo phì.
“Bánh quy không, Judith?” Frankie, thư ký ban, hỏi, kéo tâm trí tôi trở lại với cuộc họp đồng thời đẩy đĩa bánh sô cô la nhuận tràng trên bàn họp về phía tôi. Laura cau mày. Chúng tôi đang dự cái mà Rupert gọi là Thảo Luận Ưu Tiên - tôi, Frankie, Rupert, Laura và chuyên gia tranh chân dung Oliver, người gầy hơn và sắc mặt màu lựu kém tươi hơn ông sếp của chúng tôi chút ít.
“Không, cảm ơn cậu,” tôi thầm thì đáp lại.
Laura cau mày nhìn về phía chúng tôi rồi kéo chiếc khăn quàng lên cao hơn che phủ lớp da rám nắng Barbados. Tôi đổi ý và lấy một chiếc bánh quy. Ít nhất Frankie còn dành cho tôi chút tình đoàn kết dịu dàng giữa nữ giới với nhau, không như Laura, đối xử với tôi gần như một cô hầu kém cỏi.
“Họ đây rồi,” giọng con gái vang lên. Một cô tóc vàng cao ráo với mái tóc chải phồng đầy nghệ thuật hổn hển đặt xuống một chồng catalog mới.
“Đây là Angelica,” Laura nói. “Angelica sẽ đến làm việc với chúng ta để lấy kinh nghiệm trong một tháng. Cô ấy vừa học xong trường Burghley, Florence.”
Nếu Dave có mặt ở đó tôi đã đảo mắt với anh. Burghley có những khóa học lịch sử nghệ thuật dành cho bọn nhà giàu đần độn quá lười biếng để vào được một trường đại học dù chỉ là vỏ bọc. Họ học một năm ở Disneyland Phục Hưng, tưởng rằng mình có thể tiếp thu văn hóa như kiểu ngấm thuốc qua hơi cần sa, và kiếm một tấm chứng chỉ đẹp đẽ.
“Chào mừng cô đến với ban, Angelica,” Rupert thân thiện nói.
“Cảm ơn các anh chị đã nhận em vào đây,” cô ta đáp.
“Angelica là con gái đỡ đầu của tôi,” Laura nói thêm, nâng lớp Botox của mình thành một nụ cười. Hóa ra là thế. Tôi ngồi thẳng lên một chút.
“Nào,” Rupert nói, “hôm nay là ngày trọng đại, các chàng trai cô gái. Chúng ta vừa nhận một bức Stubbs.” Anh ta phát catalog cho mọi người. Trông chúng như tờ chương trình của một vở opera thế kỷ mười tám. George Stubbs, bìa catalogue đề, Công tước xứ Richmond cùng phu nhân ngắm ngựa.
“Ồ ồ,” Frankie reo lên, đúng kiểu nhân viên gương mẫu, “Một bức Stubbs!”
Tôi hiểu được vì sao cô lại phấn khích. George Stubbs là một họa sĩ mang lại lợi nhuận khổng lồ, có tiếng là mang về mức giá hơn hai mươi triệu. Tôi cũng có chút hứng thú với ông - ông quê ở Liverpool, giống tôi, và dù đã từng bỏ công học về giải phẫu, có nghĩa tranh vẽ ngựa của ông là một trong những bức tranh xuất sắc nhất của thế kỷ mười tám, ông vẫn bị Viện Hàn lâm Hoàng gia đương thời coi là hạng “họa sĩ giải trí” và từ chối nhận ông làm thành viên chính thức. Tôi tò mò muốn xem chúng tôi có được tác phẩm nào của ông.
“Các cô nên đọc cho kỹ,” Oliver nói thêm. “Tôi đã nghiên cứu bức này khá lâu rồi.”
Tôi lật nhanh qua các trang, nhưng khi đến trang minh họa chính tôi đột nhiên lạnh toát. Tôi đã từng thấy bức tranh này, và không đời nào nó lại nằm trong một cuốn catalog được.
“Rupert, tôi xin lỗi,” tôi nói, “nhưng tôi không hiểu. Đây là bức tranh tôi đã thấy hồi tháng Một, bức ở gần Warminster ấy?”
“Đừng lo, đánh giá của cô ổn cả. Tôi đã đích thân quay lại đó xem. Cũng không thể mong đợi một thực tập sinh nhận ra tranh của Stubbs được mà!”
Tôi không nhận ra, vì nó không phải là tranh Stubbs. Và khi đó tôi không còn là thực tập sinh nữa, Rupert biết rất rõ. Tôi đã tận lực học hỏi để có thể đưa ra đánh giá đó. Tôi thử lại lần nữa.
“Anh có nói gì…”
Rupet ngắt lời tôi bằng một nụ cười gượng gạo.
“Muốn làm cô ngạc nhiên thôi. Nào…”
Tôi ngắt lời. “Nhưng tôi chắc chắn mà. Tôi còn chụp cả ảnh.”
“Tranh đã được vệ sinh sau khi tôi lấy về, Judith ạ. Những chi tiết cô nhận diện rất chính xác trước đó hóa ra là lớp vẽ phủ. Có vấn đề gì không?”
Tôi không dại gì thách thức anh ta thêm. “Không, tất nhiên là không.” Tôi cố tỏ vẻ nhiệt tình. “Tuyệt quá rồi!”
Một đợt xem tranh dài hai tuần được lên kế hoạch vào tháng Chín, trước khi bán. Rupert nghĩ tầm quan trọng của bức tranh đủ để tổ chức một buổi đấu giá riêng cho nó. Oliver nghĩ nó nên được đưa vào một buổi bán chung. Laura nói về những nhà sưu tầm cần liên hệ. Frankie ghi biên bản. Tôi thì sốc đến mức thậm chí không buồn quan tâm trong bộ não rộng lớn trống rỗng của Angelica đang lộn xộn những ý nghĩ gì. Tôi cố tỏ vẻ sốt sắng đặt vài câu hỏi ở cuối cuộc họp về việc sắp xếp buổi xem tranh riêng, để còn căn dặn người mẫu quảng cáo, rồi tôi làm bộ tự nhiên hỏi xem họ có vần tranh vào kho chiều nay không.
“Tôi nghĩ tôi có thể đưa Angelica xuống kho tham quan,” tôi gợi ý bằng giọng gần gũi.
Vần tranh, như tôi giải thích với Angelica trên đường qua những lối đi quanh co bụi bặm trong tầng hầm, là từ lóng ở Nhà Đấu Giá chỉ việc bốc dỡ tác phẩm, gọi như vậy vì chúng phải được vần bằng xe lăn lên một đoạn dốc lát ván mỏng để đưa vào kho. Đây là cơ hội cho nhân viên cấp dưới được lại gần ngắm các tác phẩm khi chúng được mở gói trong phòng kiểm định để chuyên gia đến xem. Tôi giải thích, được ngắm các kiệt tác bày trên băng ghế gỗ thường ngày thay vì trong một phòng trưng bày trang trọng là một trải nghiệm tuyệt vời. Angelica cắm mặt vào điện thoại.
“Ờ,” cô ta đáp chiếu lệ, tay lùa qua mớ tóc bạch kim, “tôi thấy cả đống ở Uffizi rồi. Như kiểu, ừm, Branzini ấy?”
“Tôi nghĩ chắc cô định nói Bronzino?”
“Ờ. Đúng rồi.”
Như tôi hy vọng, Dave có mặt ở đó. Anh và đồng nghiệp đang vần mười bức Pompeo Batoni cho buổi đấu giá “Grand Tour”.
“Được đấy, Judith, trông ổn đấy. Có người mới à?”
“Anh biết anh là bạn trai duy nhất của em mà Dave,” tôi đùa lại. Tôi đã đặt mua cả một bao truyện tội phạm có thật trên Amazon và đã làm nhàu một ít viền đống sách bìa mềm. Trong khi giới thiệu Angelica, tôi đưa chúng cho anh và nói tôi mua được chúng ở hàng giảm giá ở Marylebone Oxfam.
“Hôm nay có gì thế?” tôi hỏi cho Angelica, vì cái tạm coi là sự chú ý của cô ta vẫn ghim chặt trên điện thoại.
“Batoni ở Rome.”
“Họa sĩ Ý kìa!” tôi reo lên. “Vừa khéo, Angelica! Sao cô không giúp đo tranh nhỉ?” Tôi ra hiệu hút thuốc với Dave và anh tập tễnh bước vào khu tầng hầm tối om để làm điếu thuốc với tôi.
Tôi kể tóm tắt cho Dave về chuyến đi đến Warminster. Rupert nói anh ta nhận được cuộc gọi từ một người bạn có hiệu đồ cổ ở Salisbury, người này đã thấy bức tranh tại một bữa tiệc tối và nghĩ nó có thể là tranh thật. Tôi được cử đến đó chỉ vì Rupert bận đi tập bắn. Chủ nhà, một cựu vệ binh tự giới thiệu đầy nghiêm túc rằng tên mình là Tiger, giải thích rằng gia đình anh ta đã sống ở đây khoảng một thế kỷ, anh ta nghĩ bức tranh do cụ cố của mình mua. Tôi không hỏi nhiều, vì Rupert đã lệnh cho tôi tuyệt đối không để lộ rằng chúng tôi nghĩ bức tranh có thể là hàng thật.
Tôi tháo bức tranh khỏi tường phòng ăn và đặt nó lên ghế bên cửa sổ để xem thật rõ. Ban đầu, tôi có thể thấy bạn của Rupert phấn khích ở chỗ nào. Bố cục bức tranh rất có tiết tấu, một nhóm phu nhân, quý tộc, cùng người giữ ngựa chiếm phần nền bên trái, ngắm nhìn ba con ngựa có vẻ đang phi nước đại qua đồi cỏ về phía người xem. Lũ ngựa được khắc họa đẹp đẽ, hai con màu hạt dẻ và một con màu xám, bốn vó vươn dài cân đối trong bước chạy; màu sắc được tô nhạt, như thể trong một buổi sáng mù sương, chỉ có bộ trang phục đỏ của những người giữ ngựa tranh đoạt ánh sáng với bộ lông sáng bóng của lũ ngựa. Tuy nhiên khi nhìn kỹ, tôi thấy kém ấn tượng với nhóm người xem, những người có vẻ vô hồn và kiểu cách, bối cảnh quanh họ bày bừa những đồ phục sức của một buổi dã ngoại thế kỷ mười tám rườm rà. Họ làm mất cân bằng bố cục bức tranh, phân tán sự chú ý khỏi những con vật duyên dáng đang đổ bộ, những con người chiếm chỗ trên bức toan khiến tôi cảm thấy không đúng với phong cách của Stubbs. Thấy không chắc chắn, tôi phát hiện một chữ ký có vẻ quá nổi bật, rồi quay mặt sau của bức toan lại để kiểm tra phần khung. Một tấm nhãn được dán trên khung, đề tên “Ursford và Sweet”, một phòng tranh London đã đóng cửa từ lâu. Trên nhãn có đề tên tranh, “Công tước xứ Richmond cùng phu nhân ngắm ngựa, và năm sáng tác, 1760. Sau hình người trong bức tranh là một tấm biển tên đường đề Newmarket. Stubbs là nghệ sĩ vẽ ngựa xuất sắc nhất đương thời, hay có lẽ mọi thời, nhưng cho đến giờ theo tôi biết ông chưa từng vẽ tại đường đua Newmarket. Tôi có đem theo một catalogue raisonné*, bản tổng hợp mới nhất mọi tác phẩm đã biết của Stubbs, tôi liền lật qua các trang cho đến khi tìm được một đại diện khác của cùng vị công tước và phu nhân đang ngắm ngựa nọ tại Goodwood, vẽ năm 1760. Có sự tương đồng giữa những khuôn mặt, dù theo tính thời đại hơn là tính cá nhân - mà hiện giờ tôi cho hẳn là điều đã thuyết phục Rupert. Rất có thể Stubbs đã vẽ các vị khách của mình ở Newmarket, dù trong catalog không hề nhắc đến điều đó, hay đến sự tồn tại của bức tranh trước mặt tôi. Một bức tranh Stubbs mới được phát hiện sẽ là sự kiện trọng đại, và có lợi nhuận rất lớn, nên tôi tiếc nuối chụp ảnh bức tranh thật cẩn thận và tóm tắt kỹ lưỡng vào sổ của mình, kèm theo ý kiến cá nhân ở cuối, rằng đây là một bức của người cùng thời bắt chước phong cách Stubbs. Rồi sau đó tôi có một tiếng đồng hồ trước khi tàu chạy, và Tiger đề nghị đưa tôi đi xem chuồng ngựa. Tôi nghĩ Dave không cần biết về cuộc phi nước đại vui vẻ của tôi quanh chuồng ngựa.
Danh mục hoàn thiện có ghi chú, liệt kê tất cả các tác phẩm nghệ thuật từng được biết tới của một nghệ sĩ.
“Thế nên em thấy rất lạ, Dave ạ. Em đã viết hồi tháng Một rằng nó là tranh ‘cùng trường phái’ và giờ nó lại xuất hiện dưới danh nghĩa một bức Stubbs. Và cái biển đề Newmarket đã biến mất - Rupert bảo nó là lớp vẽ phủ mà lúc vệ sinh bị xóa đi, với cả chữ ký cũng đổi chỗ.”
“Cô bảo nó từ đâu ra?”
“Chủ tranh bảo cụ cố anh ta mua nó. Nó có dán nhãn từ Ursford và Sweet ở phố Bond; chỗ đó đóng cửa hồi chiến tranh.”
“Ừm, nhưng cô nói nó đúng là từ thế kỷ mười tám?”
“Ừ…”
“Thế thì Urstord chắc phải kiếm được nó từ đâu đó.”
“Không phải từ đây. Nếu nguồn gốc của nó thuộc về bên mình thì Rupert đã ghi vào catalog rồi chứ.”
“Chỗ kia thì sao?”
Cũng như Oxford và Cambrige, việc hai nhà đấu giá hàng đầu ở London nhắc đến tên nhau là điều cấm kỵ.
“Tất nhiên có thể là một buổi bán tư nhân, nhưng có nhiều khả năng nó là của họ. Có điều muốn xin phép vào kho dữ liệu của họ thì lâu lắm.”
“Ừm, anh có bạn làm trong kho Danh Họa xưa ở đó. Anh ta có thể đưa cô vào kho dữ liệu của họ, không thành vấn đề. Cô có thể vào hôm nay, trong giờ nghỉ trưa. Mà sao cô quan tâm đến vụ này thế?”
“Em không biết nữa. Em chỉ không muốn có sai sót.”
Không thể nói với Dave rằng tôi đột nhiên biến thành thám tử Nancy Drew vì tôi nghĩ mình đã phát hiện một cách để cuối cùng cũng ghi chút công trạng trong ban, bằng cách cứu thể diện của họ khỏi một sai lầm tai tiếng. Stubbs là tin sốt dẻo; người Anh luôn thích những kiệt tác của mình có khía cạnh hoang dại trong đó. Tôi thấy phấn khích; tôi tưởng tượng tiết lộ xuất sắc của mình tại cuộc họp ban sắp tới, có thể cả một bữa trưa chúc mừng trong phòng họp của ban giám đốc, một sự thăng tiến thật sự. Để thể hiện rằng tôi có giá trị gì đó chứ không chỉ đáng cho thể loại như Đại tá Morris nổi hứng. Đây sẽ là một cơ hội để thành công nhờ những điều đúng đắn, tài năng và kỹ năng ứng dụng, một cơ hội để chứng minh rằng tôi biết làm việc.
Về lý thuyết tôi được nghỉ trưa một tiếng, nhưng tôi có thể dễ dàng đi lâu hơn vì những thành viên khác của British Pictures có vẻ coi như mình có quyền đương nhiên hưởng ba tiếng, và tôi băng qua Picadilly đến phố Bond Mới với bốn mươi phút trong tay.
“Anh là Mike, bạn của Dave? Tôi là Judith Rashleigh. Cảm ơn anh cho tôi làm việc này… ở ban tôi đang hơi gấp.”
Tôi mỉm cười khi thấy cuốn sách thò ra khỏi túi quần jean sau của Mike: Đổ vỡ: Câu chuyện có thật về tình yêu của người mẹ, sự phản bội của người chồng và một vụ sát nhân máu lạnh ở Texas.
“Tôi có thể đưa cô vào, rồi tôi đi ăn trưa. Cô đang vội cũng chẳng sao, nhưng nếu có ai hỏi vì sao cô không có thẻ thông hành từ trưởng ban, thì không liên quan gì đến tôi, rõ chưa?”
“Rõ. Chúng tôi biết ơn anh rất nhiều. Như tôi đã nói, chúng tôi đang hơi rối. Cảm ơn anh lần nữa nhé.”
Kho dữ liệu của đối thủ chúng tôi nằm trong một phòng trưng bày lát gỗ rất đẹp, nhìn ra Savile Row. Họ cũng chưa số hóa dữ liệu, và lục tìm trên những dãy dài tủ tài liệu hai ngăn từ đầu thập niên 1700, khó mà tin được là bộ não cơ học mạnh mẽ nhất sẽ không chảy tan thành một vũng lầy trước viễn cảnh rối bời đó. Có vài người đang làm việc, hầu hết trạc tuổi tôi, thực tập sinh và trợ lý đang mong chờ đến lúc ăn trưa, lén lút nhắn tin. Không ai chú ý đến tôi.
Nếu năm sáng tác 1760 của bức tranh là chính xác, thì có khoảng 150 năm nằm giữa ngày ra đời của nó và ngày Ursford đóng cửa năm 1913. Ursford mở cửa vào khoảng năm 1850, nhưng nhãn dán trên bức tranh được đánh máy, có nghĩa phòng tranh này thu được nó sau 1880, vậy thì điều logic là phải bắt đầu từ đó trở đi. May mắn là hai nhà đấu giá sử dụng cùng một hệ thống lưu trữ, nên tôi bắt đầu từ thẻ chỉ mục, mỗi tấm ghi chú một bức tranh duy nhất, thường kèm theo ảnh, và chi tiết về ngày và giá bán. Cập nhật chỉ mục là một trong những công việc buồn tẻ nhất tôi từng phải làm quen. Có nhiều cuộc bán tranh Stubbs, nhưng không có mục mô tả nào khớp với bức tranh tôi đã thấy. Có cả vài bức xếp loại “cùng trường phái”, những bức tranh mang phong cách và tên của họa sĩ, và cùng thời kỳ, nhưng không chắc chắn là do họa sĩ đó sáng tác, năm bức trong số đó có năm sáng tác từ 1870 đến 1910. Một trong số này quả thật tương ứng với bức có thể là Stubbs kia, mã định danh là ICHP905/19, có nghĩa nó từng là một tác phẩm do Important Country House Pictures bán vào năm 1905 và là món thứ mười chín được bán. Tôi vội quay lại chồng dữ liệu và túm cả hai tay lên tay nắm của một tủ tài liệu đề 1900-1905, vần một hồi cho đến khi có khoảng trống đủ rộng mở ra. Tủ tài liệu được đặt trên thảm lông nên rất khó đẩy ra đủ xa để vào đọc. Tôi lách người vào và bước nhanh theo dãy tủ cho đến số 1905, tìm cái tên “Important Country House Pictures”. Nó đây rồi. Tài sản của một Bá tước: Công tước xứ Richmond cùng phu nhân ngắm ngựa. Bán cho ngài W. E. Sweet, với giá 1.300 ghi nê. Bá tước vùng Halifax, tôi đoán, một trong những nhà sưu tầm tranh Stubbs lớn nhất nước. Vậy ra nó là tranh thật. Tôi không khỏi cảm thấy thất vọng một cách vô lý. Kế hoạch đỉnh cao nhằm cứu Rupert khỏi một sai lầm định danh tai hại đã thành công cốc. Một chuyên gia nào đó trước đây đã xác định sai bức tranh thật thành tranh “cùng trường phái”, chỉ có vậy mà thôi. Tôi mới là người đã nhầm lẫn. Tuy vậy, ít nhất tôi có thể đóng góp chút thông tin hữu ích về nguồn gốc bức tranh. Rupert hẳn sẽ hài lòng về điều đó.
Tôi đi bộ dọc theo Burlington Arcade trở về, nhìn vào cửa kính các shop lụa cashmere và hộp đồ trang sức mạ vàng mê hồn của hiệu bánh macaron Ladurée. Tôi nghĩ tôi có thể mua cho mình một chiếc áo len cổ chui cổ điển tử tế bằng tiền làm ở hộp đêm. Thế nhưng, vẫn có gì đó khiến tôi lấn cấn. 1.300 ghi nê là một số tiền lớn vào năm 1905, thế nhưng giữa không khí phấn khởi về bức Stubbs trong ban, lại không ai nhắc đến mức giá khởi điểm. Tôi hình dung lại cuốn catalog, đến con số in kín đáo trên trang bìa sau: 800.000. Thấp đến buồn cười. Không hợp lý chút nào. Nếu bức tranh đúng là hàng thật như tôi đã thấy, vì sao Rupert lại đồng ý đặt một mức giá tối thiểu thấp như vậy?
Khi tôi về đến ban chỉ có Frankie ở đó, cô đang gặm một miếng bánh mì nướng quết phô mai to tướng từ chiếc thìa đầy dầu ở Crown Passage. Ngoài trời ẩm ướt như mọi khi, và tôi không khỏi nhận ra áo khoác của cô, đang vắt trên thành ghế, sặc mùi chó Labrador. Nó khiến tôi cảm thấy quý mến cô.
“Frankie,” tôi hỏi, “cậu có nhớ cậu để tập ghi chép tớ mang từ Warminster về mấy tháng trước ở đâu không? Tập nghiên cứu về Stubbs ấy?”
“Chắc ở cùng chỗ tài liệu cho buổi đấu giá tới. Rupert phấn khởi lắm!”
“Ừ, ừ, tất nhiên rồi. Tớ chỉ muốn xem qua một tí.”
Cô với tay ra sau và nhặt một kẹp tài liệu lên, lật qua các lá, rồi lắc đầu. “Không có ở đây. Chỉ có ghi chép của Rupert và ảnh sau khi vệ sinh thôi. Tớ tìm lại lần nữa nhé?”
“Thôi, không cần đâu. Xin lỗi vì quấy rầy cậu ăn trưa nhé.”
Có điều gì đó trong chuyện này vẫn làm phiền tôi. Tôi kiểm tra con số trong nhật ký văn phòng và đi gọi điện thoại trong nhà vệ sinh bẩn thỉu của ban. Chị Tiger nghe điện. Tôi chưa gặp chị ta; lần tôi đến chị ta đang đi thăm chị gái ở Bath, có lẽ cũng là chuyện tốt, nếu xét đến những chuyện ông anh Tiger làm được với một cây roi ngựa. Chị ta có giọng nói ngọt ngào dễ chịu.
“Judith Rashleigh đây ạ. Mấy tháng trước tôi có đến Warminster. Chồng chị đã cho tôi xem bức tranh vẽ ngựa.”
“Ồ, phải rồi. Ưm, chúng tôi hài lòng lắm. Tôi giúp gì được cô?”
“Chắc là anh chị rất hài lòng với kết quả đánh giá bức tranh?”
“Ừ, thì, chúng tôi vốn cũng biết là nó không phải tranh Stubbs thật mà. Nhưng anh chàng kia trả chúng tôi giá khá tốt.”
“Người mua tranh ấy ạ?”
“Anh chàng đến hôm trước đấy.”
“Tất nhiên rồi,” tôi vội nói, “Rupert.”
Chị Tiger do dự. “Không… tôi nghĩ không phải là tên đó.”
“Ồ.” Tôi cố tỏ ra thật tự nhiên để che đậy sự bối rối của mình. “Tôi nhầm. Tôi chỉ muốn biết chắc là anh chị đã biết mọi chi tiết trong trường hợp anh chị còn có gì muốn cho chúng tôi xem. Chúng tôi muốn cập nhật tình hình.”
“Các cô đã rất tử tế khi giới thiệu cho chúng tôi một phòng tranh khác.”
“Chuyện đó… ừm… không có gì. Tôi sẽ không quấy rầy chị thêm nữa, nhưng chị có còn nhớ tên người đến mua không ạ?”
Giọng chị ta trở nên hơi cảnh giác.
“Không. Sao?”
Tôi lúng búng một tràng thuật ngữ, cảm ơn chị ta rồi cúp máy. Tôi ngồi xuống bồn cầu nghĩ ngợi. Chị Tiger đã buồn rầu thừa nhận rằng bức tranh không phải tranh Stubbs thật. Chị ta đã bán nó, và hài lòng với mức giá tốt cho một bức “cùng trường phái”. Thế mà bức tranh chúng tôi đang bán trong ban và nó lại là một.
Tôi xem lại lần nữa cuốn catalog chúng tôi đang chuẩn bị. Bức tranh được đề, theo phong cách truyền thống, là “Tài sản của một quý ông”. Theo lẽ đương nhiên tôi mặc định “quý ông” đó là ông Tiger, nhưng rõ ràng là không phải. Câu chuyện của Rupert khớp với nghiên cứu của tôi tại kho dữ liệu của bên kia: bức tranh bị định danh nhầm, nên người phát hiện ra nó là tranh thật hẳn phải là “anh chàng” bí ẩn đã đến mua nó từ vợ chồng Tiger và bây giờ đang định bán nó qua chúng tôi. Xui cho nhà Tiger, dù tôi còn lâu mới ngu ngốc đến mức đi nói cho họ biết. Nếu “anh chàng” kia đã chơi họ, thì đó cũng không phải chuyện của chúng tôi - rõ ràng anh ta đã trả một số tiền đàng hoàng dựa trên trực giác và sắp nhận được phần thưởng. Thế nhưng, chuyện này có vẻ không đúng. Tôi cảm thấy bất an, thấp thỏm một cách kỳ lạ, cảm giác ấy đeo bám tôi cho đến khoảng ba giờ khi Rupert lướt vào, rõ ràng là vừa ăn xong một bữa trưa thịnh soạn nữa, và lẩm bẩm gì đó về một cuộc gặp mặt ở thư viện Brook. Họ quả thực còn cung cấp gối cho hội viên đến ngủ trưa trong thư viện vào buổi chiều.
“Hẹn gặp cô tối nay nhé, Angelica,” anh ta nói trên đường ra.
Angelica thậm chí không buồn ngẩng lên, còn mải tập trung cho nên nhắn tin khẩn yếu. “Ờ, rồi, Rupes.”
Tôi đang tự hỏi “tối nay” có gì thì Rupert dừng ở bàn tôi, lục lọi cặp tài liệu.
“Ờ, Judith. Có lẽ cô muốn đến chỗ này,” anh ta nói, đưa cho tôi một phong bì cứng. “Angelica cũng đến. Gặp mặt xã giao một chút. Mặc đẹp nhé!”
“Tôi sẽ cố gắng, Rupert.”
“Tôi tin cô. Trông cô luôn rất, ờ, xinh. Hẹn gặp cô sau nhé!”
Tôi để nguyên phong bì tại chỗ anh ta đặt xuống, đề phòng Angelica nghĩ tôi không biết mình vừa được mời đi đâu, nhưng khi mở phong bì tôi phải cố lắm mới không toét miệng cười. Rupert đã đưa cho tôi một thiệp mời đến bữa tiệc Tentis ở Phòng tranh Serpentine. Tentis & Tentis là một hãng kiến trúc lớn vừa đàm phán xong với thành phố về một số căn hộ thuộc dạng đắt nhất London. Tạp chí người nổi tiếng ở hộp đêm Gstaad đăng đầy tin về chuyện đó. Rupert đã tìm cách tống được cho họ một lô giảm giá gồm những tranh đấu giá thừa lại từ thập niên tám mươi để trang trí cho tường nhà của các tỷ phú. Tôi đã mất cả tuần để gom đủ các giấy tờ nguồn gốc. Bữa tiệc nhằm ăn mừng sự hợp tác sắp tới với hội chợ nghệ thuật Frieze Masters. Rupert thực sự đã mời tôi đến đó. Sẽ có phóng viên chụp ảnh - bọn con gái ở hộp đêm có thể đọc được về nó. Biết đâu ngay cả bọn đĩ tôi đi học cùng cũng sẽ đọc được.
Quy định ăn mặc đề ở cuối tấm bìa dày màu kem cổ điển ghi “đồ đen”. Tôi không có váy dài, nhưng giờ không phải lúc tiết kiệm. Tôi ngóng đồng hồ đến đúng năm giờ, chạy ra ngân hàng ở Picadilly, rồi gọi taxi. Vào lúc sáu giờ, tôi đã về đến phòng trọ sau khi đi qua trung tâm thương mại Harvey Nicks, với một túi cotton chứa chiếc váy lụa đen tuyền Ralph Lauren buộc vòng qua một vai bằng sợi dây vàng mảnh đến gần nhu vô hình. Tôi không mấy quan tâm đến ý kiến của Rupert về gu thời trang của tôi, nhưng đây là cơ hội thực sự đầu tiên tôi có để làm quen với những người quan trọng. Tôi muốn trông mình phải hoàn hảo.
Nhưng tôi do dự về đồ trang sức. Đôi hoa tai kim cương mờ đục mẹ tôi tặng lần sinh nhật thứ hai mươi mốt đã bị đem cầm ở Hatton Garden từ lâu, nên tôi đi theo quan điểm rằng không đeo nữ trang luôn phong cách hơn là đeo nữ trang rẻ tiền, và không đeo gì. Chiếc váy không cần thêm thứ gì bên dưới, chỉ cần đi giày cao gót đơn giản. Tôi năn nỉ Pai cho mượn chiếc xắc Gucci đen cho đủ bộ. Hầu như không trang điểm gì, chỉ mascara và một vệt đỏ mận trên môi. Tôi gọi taxi để không phải đến nơi với vẻ rũ rượi. Vẻ mặt gã tài xế khi tôi vào xe đã cho tôi biết mọi điều tôi cần.
Một đám đông paparazi đang đợi ở cuối tấm thảm đỏ trải ra từ mái đình bằng kính trong công viên Hyde, phát sáng màu hồng và tím như một con tàu vũ trụ cổ điển. Một vài người trong số họ chụp vài kiểu ảnh lấy lệ, tôi đoán chỉ theo phép lịch sự, nhưng vẫn khiến tôi thấy vui. Tiếng ồn của bữa tiệc dội về phía tôi, đồng điệu, tươi vui, như tiếng rì rầm của một con thú khổng lồ. Tôi đưa tấm thiệp cho một người giữ cửa, anh ta vẫy tay cho tôi qua, rồi tôi nhắm mắt tận hưởng một giây háo hức ngọt ngào, chuẩn bị đón nhận tất cả.
Nàng lọ lem sẽ cảm thấy thế nào, khi cuối cùng đến được buổi dạ hội, nàng lại thấy mình đang đứng tại bữa tiệc văn phòng của cò nhà đất? Những hũ nến Jo Malone khổng lồ không thể che đậy được mùi hơi thở đầy sâm banh chua lòm choáng ngợp. Hàng trăm gã đàn ông bợt bạt trong bộ vest rẻ tiền bu quanh quầy bar miễn phí với vẻ háo hức như dân Mormon được thả vào thành phố Atlantic. Bất kể Tentis & Tentis đã thuê được đám đông này từ đâu thì nơi đó rõ ràng chưa từng biết đến Moët*. Tôi soi được cái đầu nhỏ xíu của một siêu mẫu quá đát thò ra khỏi đám đông như một cây cần tây hoang mang, nhưng ngoài cô ra nơi đây chẳng khác gì tối thứ Sáu ở All Bar One Hammersmith. Tôi thấy một nỗi ân hận kinh khủng về tấm hóa đơn Harvey Nicks đang nằm trên mặt tủ ở nhà. Người duy nhất không phớt lờ quy định ăn mặc là Rupert, bụng anh ta tạo thành một khu vực VIP mini riêng. Anh ta đang nói chuyện với ai đó tôi biết mang máng, một chủ phòng tranh tên là Cameron Fitzpatrick. Tôi bắt gặp ánh mắt của Rupert, và anh ta phục phịch bước về phía tôi. Rất ít người mặc đồ đen mà trông không bảnh lên, và Rupert là một trong số ít đó, nhưng lần đầu tiên tôi thấy mừng khi gặp anh ta. “Rupert,” tôi chào xã giao, vẫy cái xắc tay về phía anh ta. “Chào anh!”
Nhà sản xuất rượu vang hảo hạng Pháp và đồng sở hữu các nhãn hàng xa xỉ Moët-Hennessy-Louis Vuiton.
Trong một thoáng, trông anh ta có vẻ bối rối.
“Ồ, ờ, Judith. Đúng rồi. Tôi phải đi bây giờ. Có hẹn ăn tối.”
“Tôi không định giữ chân anh, nhưng tôi có tìm hiểu thêm một chút về nguồn gốc của bức Stubbs.”
“Gì cơ?”
“Ở cuộc họp ban hôm nay? Bức Stubbs ấy?”
“Judith, tôi phải đi đây, ngày mai ta sẽ nói chuyện,” anh ta nói với lại rồi chạy biến.
Hy vọng duy nhất của tôi về một người để trò chuyện cùng, Fitzpatrick, cũng đã biến mất vào đám đông. Tôi chen đến quầy bar qua một đám con gái ăn mặc thiếu vải với những đôi giày mà Kim Kardashian có lẽ muốn đòi lại. Tôi thậm chí không tận hưởng nổi những cái nhìn họ ném về phía mình. Rõ ràng họ đã nghe đến câu gợi cảm là sức mạnh, nhưng cũng chỉ nghĩ đến đó. Cố gắng bộc lộ vẻ quyến rũ của mình bằng cách nhét mông vào một chiếc váy gần như có thể thông báo về lần gần nhất bạn đến hiệu tẩy lông có lẽ không phải là con đường tốt nhất để đến với công cuộc giải phóng nữ giới. Tôi đoán buổi tối của họ sẽ kết thúc bằng một màn nhảy khiêu dâm thiếu lửa vào ba giờ sáng ở Vingt Quatre trước một đám đông trung lưu dính đầy mayonnaise. Không phải tôi, ồ không. Không phải cô Judith bán tranh nghệ thuật thành đạt kiêm nữ tiếp viên. Tôi không muốn uống lắm, nhưng vẫn uống hai ly cho có việc để làm. Tôi thong thả băng qua căn phòng một lần nữa, giả vờ đang tiến về phía ai đó, nhưng chẳng có chút hứng thú nào.
Angelica chẳng buồn ló mặt. Có thể cô ta không biết gì về hội họa, nhưng khóa học trường đời của cô ta rõ ràng đã bao gồm một lớp nâng cao về những bữa tiệc cần tránh. Rõ ràng là một mã bí mật nữa tôi chưa phá giải được. Sao tôi lại có thể phấn khích đến đáng thương như thế chứ? Tôi thực sự nghĩ điều gì sẽ có thể xảy ra? Trò chuyện lịch thiệp với một đám đông tỏa sáng, kể chuyện cười với Jay Jopling trước khi được đưa đến chiếc bàn Lucien Freud từng ngồi ở Wolseley để ăn tối chăng?
Điều đó sẽ không bao giờ xảy đến với tôi, vì tôi chỉ là một con nhân viên quèn, không phải sao? Một cô nàng bưng bê trà nước ảo tưởng sức mạnh. Tôi thấy nhục nhã. Ngay cả đám paparazi bên ngoài cũng đã bỏ đi làm những việc hay ho hơn. Cô siêu mẫu quá đát cũng đã biến mất, hẳn là đang nhét tờ chi phiếu béo bở trả cho việc xuất hiện vào bên dưới mấy miếng gà phi lê trong áo ngực, trên đường đi đến nơi những người thông minh thực sự có mặt. Chúa ơi, tôi thật là thảm hại. Tôi nghĩ tôi nên tự trừng phạt mình bằng cách cuốc bộ về nhà nhưng tôi quá trầm uất. Hai mươi bảng tiền taxi nữa thì đã làm sao? ít nhất tôi có thể kể với Dave rằng tôi đã đến một nơi sang trọng; anh ấy thích nghe những chuyện như thế. Nhưng có phải nó luôn thế này không? Có phải London là một loạt những không gian đóng chặt ngày càng nhỏ, như búp bê Nga, để khi bạn tưởng bạn đã vào bên trong thì chỉ có một cái rương bóng bẩy khác, được khóa chặt để ngăn bạn ở bên ngoài? Tôi giằng cái váy ngu xuẩn xuống ngay từ khi trả tiền xe. Sợi dây mỏng manh đứt phựt và tôi giận dữ đến mức túm lấy đường xẻ ở chân và xé thứ khốn kiếp ấy làm hai, trước sự ngạc nhiên của một cặp vợ chồng già đi ngang qua, tay túm chặt tờ chương trình từ nhà hát Albert Hall.
Căn phòng trọ nằm chờ tôi, âm ỉ một cơn giận trắng xóa. Sau khi lội qua mê cung gớm ghiếc chất đầy xe đạp, giày dép, mũ bảo hiểm thường trực chắn ở lối đi, tôi thấy một cái hộp trên bàn bếp với tờ giấy nhắn ghi “Judy” dán trên đó. Trong hộp là một chiếc cốc gốm màu hồng béo ị có tai thỏ. Tờ giấy ghi, “Rất xin lỗi. Tớ mượn cái tách của cậu rồi nhỡ tay làm vỡ. Tớ đền cậu cái này!” Bạn cùng phòng tôi còn vẽ một cái mặt cười nữa, con đĩ ngu xuẩn. Tôi nhìn vào thùng rác. Trong đó có mảnh võ tách và đĩa của tôi, chiếc tách men Villeroy 1929 hoàn hảo màu xanh lục sáng mà tôi đã phải đến tận chợ trời Camden Passage khổ sở suốt hai tuần mới có được. Nó chỉ có giá bốn mươi bảng mà thôi, nhưng vấn đề không phải ở đấy. Vấn đề không phải thế. Tôi nghĩ mình còn ít keo siêu dính trong ngăn kéo của cái tủ bát đĩa giả-Victoria xấu xí, nhưng tay nắm tủ bị kẹt và tôi đá vào chân cái tủ khốn kiếp quá mạnh khiến nó văng ra, và cái tủ vẹo về một bên khiến tất cả đống đồ sứ tởm lợm vỡ tan, rồi sau đó là một vài phút đáng hận mà sau khi bình tĩnh lại tôi phải mất khá lâu mới dọn dẹp xong.