Abel Fischimyer không thấy Olive Murray có điểm nào đáng mến. Gã cao lớn, Murray thấp bé. Gã tự thấy mình rộng rãi, Murray đê tiện. Đôi bữa hiếm hoi phải ngồi ăn chung bàn vì công việc bắt buộc, Fischimyer đều phải cố che giấu vẻ khó chịu trước thái độ viên chủ sở hòa giải của nhà Hackett. Khốn nỗi Hackett lại là khách sộp nhất của nhà Burger. Ngày 8 mỗi tháng ngân hàng đứng ra trả lương cho sáu mươi nghìn nhân viên công ty dược phẩm này. Khoảng 120 triệu đôla chuyển từ tay Abel của nhà Burger qua tay Murray của nhà Hackett. Nên Fischmayer buộc phải bắt tay Murray. Gã quay số máy của Murray mà thấy ghê ghê nơi tay.
— Oliver! Khỏe không! Abel Fischmayer đây, tôi muốn hỏi về một tờ kê không hoàn toàn hợp lệ: Chỗ anh có tay nhân viên tên là Alan Pope phải không?
Tiếng Murray the thé làm gã phải nghiến chặt răng.
— Không có, ông Fischmayer. Trước kia mới có.
Thằng này khô khan như một quân cờ vô hồn mà lại còn cứ cố tình gọi gã bằng ông để giữ khoảng cách.
— Trước kia có?
— Người cộng tác viên này đã bị xóa tên trong sổ nhân sự nhà Hackett từ bốn hôm nay, ngày 22 thảng bảy này.
— Thật sao? Vì lý do gì vậy Oliver?
— Thu hẹp biên chế. Hắn là người đầu tiên, trong một danh sách dài. Nhưng thưa ông Fischmayer, ông hỏi làm gì vậy?
— Việc vặt hàng ngày ấy mà Oliver, theo lệ thường thôi. Bà xã thế nào?
— Rất khỏe, cảm ơn.
— Tay Pope hồi đó làm gì bên ấy?
— Phó phòng một bộ phận tài chính.
— Tôi đang có tờ phiếu ngân hàng của hắn đây. Thắc mắc không hiểu tại sao bỗng dưng bên ấy trả cho hắn 11.704 đôla?
— Bồi thường nghỉ việc, bốn thâm niên, ba tháng chuẩn bị, cộng thành bảy tháng lương.
— Cảm ơn Oliver thân mến. Hẹn gặp lại. Cảm ơn lần nữa.
Gã bảo tổng đài gọi cho Majestic ở Cannes; đến lượt cho Hamilton Price Lynch biết tiền bạc của nhà Burger đã rơi vào tay môt kẻ vô danh tiểu tốt như thế nào!
Xưa nay Alan vẫn thích đàn bà. Đôi khi họ cũng có đáp lại. Nhưng ngay cả những bận họ chủ động tấn công, anh chưa hề bao giờ cảm thấy mình là đồ chơi trong tay họ. Trái lại, ba món vớ bở được từ hôm đến Cannes đều để lại dư vị đắng chát. Nadia Fischler, Betty Grone và mụ lạ mặt trong túp lều nọ đã xô đẩy anh vào cuộc chiến khác thường giữa con đực và con cái, con này chiếm quyền con đực, tự nó chọn lựa, nắm giữ, vứt bỏ. Không trao thân, không âu yếm. Alan lướt nhìn căn phòng trống vắng vẫn lưu lại hương thơm dai dẳng của Betty. Vải trải giường lê thê dưới đất, nệm trơ trụi, gối tung hê bốn phía, anh đã phải làm cuộc hành trình sóng gió qua ba chiếc ghế bành mới thỏa mãn xong Betty trong lúc cô nàng gào to đến mức có thể làm nhân viên bảo vệ khách sạn cuống cuồng hét lên. Sau cơn bão táp quay cuồng, Alan mệt lử, xây xát khắp mình vì bị cào bị cắn, môi rỉ máu tươi. Thật lạ, anh không buồn ngủ. Vào phòng tắm xối nước thật lâu rồi trở ra nằm lại cố nhắm mắt mà không được. Anh châm thuốc hút suy nghĩ về tình cảnh của mình. Biết không chi phối được các diễn biến nữa. Đành phó mặc cho chúng cuốn theo. Trong trường hợp gặp may cũng sẽ bị bắt sau vài tiếng nữa là cùng. Tội danh không thiếu gì: lừa đảo, séc không bảo chứng - nhà Burger tất nhiên sẽ khiếu nại các tấm séc của anh - ăn quịt. Đằng nào cũng bị, thà ngồi tại chỗ chờ bọn cớm đến còn hơn bỏ đi nơi khác. Anh đứng dậy ấn nút mở cửa bước ra hiên. Năm giờ chiều mặt trời còn khá cao. Anh ngắm phong cảnh nơi mình đang sống những khoảnh khắc tự do cuối cùng. Cái gì cũng rất đẹp, tất cả đều hài hòa, như hương thơm của cuộc sống đúng như nó phải như thế. Xa tít tắp là bãi tắm nhan nhản người, khách bộ hành nhởn nhơ trên đường Croisette, bầy trẻ nhỏ cười vang dưới bể bơi phản chiếu vào mắt anh các tia nắng lấp lóa từ gợn sóng dội lên khi có người nhào xuống nước, những cánh buồm vẽ lên mặt biển những vệt xanh thẫm viền bọt trắng xóa.
Alan lao vào phòng, xỏ chiếc quần, mặc áo rồi quay số 165.
— Trạm xe? Alan Pope, dãy 751. Cho xe tôi ra.
Tranh thủ thêm một giờ ngồi xe Rolls trước khi chui vào xà lim. Norbert đã đi ngủ sau ngày lao động mệt đừ và chắc đang mơ thấy Nietschze và Kant. Đại sảnh chật cứng người đẹp, chó, các cụ già bận đồ du thuyền, các cô cậu bận đồ jean phô bày vẻ thanh lịch nhếch nhác.
— Thưa ông Pope, tôi là Serge sẵn sàng phục vụ. Ông cho biết có cần gọi tài xế không?
Alan đeo kính mát ngồi vào tay lái.
— Khỏi. Cảm ơn.
— Thưa ông Pope.
Alan nhìn ra người vừa gọi:
— Tôi là Marc Gohelan, giám đốc khách sạn. Rất tiếc chưa có dịp chúc mừng ông.
Tầm vóc trung bình, mồm kẻ cướp, mắt đen tóc vàng.
— Khi cần bất cứ điều gì, xin đừng ngần ngại. Chúng tôi chỉ mong ông được vui lòng mọi bề trong thời gian lưu tại đây!
Alan gật đầu cảm ơn, mỉm cười và cài số. Anh cắt ngang đường lớn, rẽ trái lao trên đường Croisette, ngạc nhiên trước niềm vui bản năng chợt đến khi điều khiển chiếc xe chạy rất êm này. Ngạc nhiên không hiểu tại sao mình còn cảm nhận được niềm vui mong manh này giữa lúc bộn bề trăm nghìn nỗi lo toan? Xe vụt qua Palm Beach men theo bãi biển, rẽ phải ở chỗ cây cột đề “Rừng Thông Juan".
Những thiếu nữ gần như trần truồng, da rám nắng biển quay đầu nhìn theo xe anh: họ có biết đâu!
***
Tuy thời tiết New York đang oi bức đến chết ngốt được, anh nhân viên này vẫn đóng bộ chế phục rất bó màu xám. Trên áo đeo chữ B.
— B là gì? - bác gác cổng hỏi.
— Burger. Ngân hàng.
Nhân viên liên lạc đưa bức thư.
— Đưa tận tay ông Pope.
— Được. Ngay khi nào gặp.
Người đưa thư chào rồi nhảy lên xe đỗ bên lề đường trước cổng khách sạn.
Hôm nay là 26 tháng bảy. Pope vẫn chưa thanh toán tiền trọ mà cũng không thấy trở về từ ngày 23 đến giờ. Đáng nghi... Hay là chuồn rồi? Bác gác cổng ngần ngại cân nhắc rồi quyết định bóc thư. Bác vào bếp đang đun nước pha trà, hơ lá thư vào hơi nước cho bong hồ rồi dùng lưỡi dao bào tách nhẹ mép trên phong bì. Lấy tờ giấy gấp tư trong đó ra, chắc mẩm đã đoán trúng nội dung lá thư. Đọc một lượt không hiểu, phải đọc lượt nữa. Bác choáng váng như bị ngựa đá phải dựa vào bàn mới đứng vững.
***
Tất cả chừng mười cô cậu túm tụm quanh chiếc ghế dài đặt dưới tán lá thông rợp bóng. Một cậu cao lớn tóc đỏ trán quấn khăn đỏ đang gẩy ghita. Một cậu khác nằm ngửa dưới đất đập vào chiếc binh toong rỗng đặt trên rốn hòa theo tiếng đàn. Vài cô lẩm nhẩm hát. Đều trông trạc tuổi từ mười tám đến hai nhăm. Thỉnh thoảng lại có khách qua đường bước chậm lại nghe họ đàn hát. Bãi biển đông đặc sinh viên từ khắp châu Âu kéo tới kiếm nước da đen dòn. Bánh mì không đến nỗi đắt, trái cây, cà chua cũng rẻ, ngủ ngoài trời, giải trí và gái đều miễn phí, biển cả trời cao chẳng phải của riêng ai.
— Chọc tức nhau chưa kìa! - Một gã Hà Lan nhẩn nha nhận xét, chỉ chiếc Rolls trắng mui trần đỗ cách gã vài mét.
— Bọn trọc phú mới. - cô bạn vừa ngáp vừa bổ sung.
— Bọn lái bò.
— Mày có gan đi bát phố trong cái của kia không?
— Nhìn kỹ mặt tao chưa?
— Đến năm lên bốn mươi, mày sẽ liếm đít thằng tổng giám đốc để nó thí cho một cái như thế.
— Thà chết còn hơn.
— Hans, có bình thuốc đấy không?
— Trong túi dết tao.
— Này này, đứng có giở trò ngu xuẩn các cậu ơi! Làm thế thì được cái chó gì?
— Được vẻ đẹp của hành động.
— Cứt! đang được chơi thoải mái.
— Hans, mang lại đây!
Hans lấy trong túi ra chiếc ống giống bình xịt thuốc cạo râu.
— Viết cái gì?
— Thằng tư bản cút đi!
— Ngu! Đây là nhà nó. Lại quá dài. Tớ ngại viết dài.
— Con lợn sụ? Được đấy!
Hans ngồi xổm bên hông chiếc Rolls. Sơn đen từ bình chảy ra thùng xe trắng muốt. Tất cả ré lên cười. Khách đi đường kéo đến rất đông hùa theo họ.
Hans là tay chuyên môn. Đêm đêm gã vẫn đi viết lén các tường nhà công cộng những câu vạch mặt các đảng phái chính trị lên án nạn ô nhiễm môi trường, năng lượng hạt nhân và các cơ quan chính quyền.
— Với tư cách một một cựu đại tá, tôi phản đối! - Một người đứng xem lên tiếng.
— Ô hay, xe của chúng tôi, ông lấy quyền gì cấm chúng tôi sơn lại hả đại tá? Gã gẩy ghita tức giận.
Tiếng cười càng rộ lên. Hans viết gần xong, đưa hộp sơn cho cô gái dài ngoẵng tóc xám vàng.
— Tiếp tục, Terry. Tớ mệt quá!
Terry thè lè lưỡi viết nốt. Cả diễn viên lẫn khán giả vỗ tay đôm đốp. Một khán giả giằng hộp sơn đi vòng sau xe, viết lên hông bên kia “PIG"[1]. Hans chạy đến trước mặt anh ta đứng nghiêm chào kiểu nhà binh và ôm hôn. Anh kia vùng ra giữa tiếng tung hô ồn ào, đưa trả Terry bình sơn, mở cửa xe lên ngồi sau tay lái, đút chìa khóa vào lỗ, khởi động máy vù đi. Tiếng cười tắt hết. Chỉ còn tiếng bầy sẻ chí chóe, tiếng reo của đám chơi ném quần, tiếng rì rầm từ thành phố vọng về xen lẫn tiếng nhạc, tiếng ồn ào huyên náo từ đám đông đang rời bãi tắm.
— Cứt chưa! - Hans kêu lên sau giây phút sững sờ.
Chiếc Rolls chạy xa chừng vài chục mét thì đỗ lại, chạy giật lùi về đúng chỗ ban nãy. Terry ngạc nhiên thấy anh chàng lái xe vẫy gọi:
— Mời lên xe.
Tay vẫn cầm bình sơn, Terry nhìn các bạn có ý hỏi nhưng chẳng ai nhúc nhích. Alan mở cửa xe.
— Cô em sợ à?
Tự ái bị thách thức, cô trèo lên ngồi bên anh ta.
Hans bất giác nhìn vào biển số, tức giận kêu lên:
— Kìa! Nó chở con bé đi, thằng khốn!
Chiếc Rolls đã chạy xa, quặt gấp.
— Cô em tên gì, - Alan hỏi.
— Terry.
— Người Anh?
— Việc gì đến anh?
— Chẳng có việc gì sất!
Anh nói với giọng vô cảm. Cô gái liếc trộm một cái nhưng không nhìn được cặp mắt dưới đôi kính đen.
— Đi đâu thế?
— Không biết.
Xe đã qua Juan chớm vào đường quốc lộ, rẽ phải.
— Tưởng thế này là hay đấy hử?
Không trả lời.
— Tôi muốn xuống.
— Ai cấm?
Anh nhấn thêm ga. Cô gái nhún vai, ngả hẳn vào đệm da.
— Chẳng ra cái thớ gì.
Anh quặt gấp sang trái, lái xe leo lên sườn một ngọn đồi.
— Cô thù ghét xe tôi cái nỗi gì?
— Nó lên mặt huênh hoang. Tởm. Mà anh đâu đã già?
Những cành hoa trúc đào cắm mốc ven đường. Lâu lâu giữa những lùm hoa dưới chân đồi nhô lên mái một biệt thự màu son.
— Còn xa không?
Alan đẩy một băng cassette vào máy stereo.
— Thôi đi. - cô gái giận dữ, - tôi ngán tiết mục của anh lắm rồi. Ừ thì tôi có bôi bẩn lên xe anh! Nhưng việc gì phải làm to chuyện! Có tiền tậu xe Rolls thì cũng thừa tiền để sơn lại chứ! Đỗ ngay!
Alan dẹp xe bên lề thấp, tắt máy. Cô gái nhảy xuống. Anh không giữ lại. Cô xuống dốc đi trở lại quãng đường vừa qua. Alan nổ máy quay đầu xe, vượt qua cô chừng năm chục mét, xuống xe. Đến tựa lưng vào bức tường đá thấp phía sau có mấy bụi mimosa. Không khí trong veo. Xa xa mặt biển lấp lánh phía sau những ngọn đồi chảy xuống như những dòng thác lặng lẽ lượn tròn với đủ màu xám, hoa cải, xanh lá cây đậm nhạt từng mảng rải rác đó đây. Khi đi ngang mặt Alan, cô gái quay mặt đi. Anh xông tới nắm tay cô.
— Bây giờ, tôi phải đét vào đít cô một trận.
— Cứ thử xem!
Anh lắc mạnh cô ta, tức tối vì không sao nổi giận được.
— Ai bồi thường thiệt hại cho tôi hử?
Cô nhìn anh hằn học:
— Sẽ có tiền, đồng tiền bẩn thỉu, anh sẽ có tiền!
— Bao giờ?
Cô phát hoảng. Có khi đây là một thằng điên, ma cô, hoặc gangster.
— Bỏ tôi ra!
Anh buông tay, lột kính, uể oải đưa tay dụi mắt rồi quay lưng đến tựa vào lan can.
Cô gái nắn nắn cổ tay, đứng im tại chỗ, sững sờ. Anh chàng này chưa quá hai lăm, ba chục xuân xanh. Anh ta bóc gói thuốc mới nguyên, châm một điếu, vẫn không để mắt đến cô.
— Này!...
Anh không quay lại.
— Tôi rất ân hận. Tuy không có ác ý, chỉ đùa thôi.
Anh nhún vai, rít thuốc.
— Anh vẫn giận à?
— Nghĩ gì lạ vậy? - anh nhếch mép cười gượng.
— Sau chuyện này chắc anh chả đời nào chở tôi quay lại nữa nhỉ?
— Đúng, không thiết.
— Được. Tôi đi bộ. - Cô đưa đẩy đôi chân.
— Anh tên gì?
— Alan.
— Kỳ thật.
Cô ngồi lên lan can nhìn theo luồng mắt Alan.
— Anh không hợp với loại xe này... trẻ măng, chui vào cái xe thùng ấy trông yếu quá.
Alan không nói gì.
— Đúng không? Mỹ à?
— Mỹ.
— Nghề gì?
— Vớ vẩn. Lặt vặt.
— Tôi đi học.
— Môn gì?
— Cuộc sống.
— Chương trình lớp cô đã có môn ấy rồi?
Anh quay lại nhìn. Cô bận quần jean, chiếc sơmi đàn ông quá rộng. Mái tóc xám vàng đồng màu với cặp mắt cô. Bàn tay nhỏ nhắn mềm mại, tay trẻ thơ.
— Cho xin điếu thuốc.
— Không có thuốc H.
— Thế là thế nào?
— Vì cô đánh bạn với bọn hippi.
— Chúng nó bằng tuổi anh nhưng trẻ hơn nhiều!
Cô hất hàm về chiếc Rolls. Anh liếc nhìn rồi châm điếu thuốc vào điếu anh đang hút đưa cho cô. Hai luồng mắt đan nhau. Anh thấy mắt cô phản chiếu hình dáng khuôn mặt cô. Anh quay mặt đi.
— Đi nhé?
Anh mở cửa xe. Cô trèo lên.
— Lớn lên cô định làm gì?
— Vẫn làm trẻ con. Còn anh?
Anh cài số, cho xe xuống dốc.
— Thử già đi xem sao.
— Anh đang đi đúng đường. Chắc anh có tài xế?
— Tất nhiên.
— Và thuê một dãy phòng thoáng mát trong đại khách sạn?
— Còn phải nói!
— Và tối tối đeo cravát vào cổ đi dự tiệc với bọn chuyên bốc phét?
— Diện smoking ấy chứ. Đi dự dạ tiệc.
— Có thích không?
— Thích muốn chết!
Cô phá lên cười.
— Đã thế sao lại thế?
— Cô có được làm những cái mình thích không?
— Luôn luôn.
— Cô gặp may thật, - Alan nhăn mặt thờ dài.
— Không gặp may. Mà là có gan để gặp may, khác đấy.
— Hoặc may mà có gan.
— Anh không có gan đó sao?
— Nói chung, rất ít.
— Lúc này có không?
— Chẳng có tí nào.
Cô đập tay vào bảng đồng hồ.
— “Mại" con bê này đi, vứt hết các thói ngu xuẩn xuống biển, làm việc khác đi!
Alan lại ngoặt gấp.
— Cô ở đâu?
— Vịnh Juan. Tôi thuê chung phòng với bạn.
— Cao một mét chín, có râu?
— Năm lăm kí nặng, vòng ngực chín mươi. Anh có bà nhân tình già bao à?
— Một lẻ ba tuổi xuân. Rất ghen. Sáng nào ngủ dậy tôi cũng phải dắt chó đi xi đái?
Lúc xe vào vịnh Juan, anh sửng sốt thấy cô gái đã giúp anh qua được một giờ quên bẵng tình thế chông chênh. Cuộc đạo chơi khiến anh được tắm mình trong làn suối mát rũ sạch mọi âu lo. Hơn nữa, còn được nhiều trận cười vui.
— Cô có điện thoại không?
Cô nhìn anh thương hại:
— Có cả phòng tắm ốp cẩm thạch nữa chứ? Chỉ có vòi nước lạnh ở chân cầu thang thôi. Mà nó chỉ són nước khi nào nó thích. Muốn tham quan không?
— Muốn lắm.
Anh đỗ xe trong đường phố nhỏ yên tĩnh của vịnh Juan. Mấy cầu thủ bóng đá tí hon cười bò ra khi đọc mấy chữ trên sườn chiếc Rolls. Terry giả bộ không nghe. Alan lơ đãng nhìn nơi khác.
— Nhà đây.
Alan chui qua chiếc cổng cuốn liền bên quán ăn Tony.
— Cơm phần 27 francs. Cá trích tươi nướng, xà lách, pho mát và trái cây.
Cô nguýt Alan, vẻ châm chọc.
— Dân chúng muốn gì? Anh có đủ sức leo tận lầu bốn không?
— Để thử xem.
Cô đi trước lên cầu thang xoáy trôn ốc. Bàn chân nhẹ lướt tưởng chừng cô không trèo lên các bậc thang mà đang bay múa trên đó.
***
— Thưa ngài, tôi đang lo lắng hết sức. Chính phủ tôi đòi báo cáo ngày giao hàng trước 48 tiếng. Họ không muốn lưu kho lâu trên sân bay quân sự.
— Phân tích lô hàng xem sao - Hoàng tử Hadad nói.
— Tổng số 100 máy bay. Có 40 Draken, 35 Vigger, 25 chiếc 105 - Honor Lassen đáp - không thể để 800 triệu đôla nằm ngủ trong kho mãi.
— Sao ông không giao cho một công ty nào đó của ông đứng ra giao dịch?
— Thưa, không được. Chúng tôi bị giám sát rất chặt. Mà không chỉ riêng bọn Thụy Điển.
Cuộc gặp gỡ diễn ra trên lầu bốn khách sạn Majestic, tại một trong vô số dãy phòng hoàng tử Hadad đã thuê. Hai người quen biết nhau đã lâu nhưng không để lộ mối quan hệ này. Công việc làm ăn của họ đòi hỏi phải hết sức kín nhẹm không một kẽ hở nhỏ. Chính trị dính chặt với kinh tế đến nỗi không thể thương lượng với nhau trong những điều kiện bình thường. Bị ràng buộc bởi những hợp đồng buôn bán đã ký kết với chính quyền Mỹ. Hadad chỉ được phép mua vũ khí của Mỹ để trang bị cho quân đội của ngài. Khốn nỗi Hoa Kỳ lại bảo trợ Israel nên thấy khó khăn trong việc bán vũ khí cho một vương quốc Ả Rập. Hadad bèn ngỏ lời với Pháp, Thụy Điển, Anh, Ý. Nhưng với các nước này cũng có chuyện khó xử: các quan hệ liên minh, các nguyên tắc cao cả khiến chính quyền các nước đó khó lòng thỏa mãn các yêu sách của vương quốc do hoàng tử Hadad đại diện, nhất là khi Hoa Kỳ đã từ chối. Vì thế, cuộc mặc cả không thể tiến hành chính thức, giữa hai nước với nhau. Phải đi vòng vèo để tránh được trở ngại, nhờ có người trung gian đứng tên giao dịch. Như thế, việc làm ăn vẫn trôi chảy mà nền đạo đức của chính trị vẫn nguyên vẹn. Cho đến lúc này, Thụy Điển vẫn cung cấp đều đặn các thiết bị hàng không cho vương quốc qua tay của Erwin Broker.
— Quả tình tôi không hiểu nổi điều gì đã xảy ra với hắn ta - Larsen rầu rĩ nói.
— Hắn đã nổ tung - hoàng tử đáp không có ý pha trò.
— Phải, nhưng tại sao vậy? Kẻ nào thủ lợi khi trói nó vào chiếc cầu bắn pháo hoa với khối thuốc nổ trên bụng?
— Nó được bao nhiêu hoa hồng?
Honor Larsen liếc nhìn thật sắc nhọn:
— Hai phần trăm.
— Vị chi 16 triệu đô la - hoàng tử thở dài.
Larsen lờ đi không nhắc đến khoản của Hadad: 8 phần trăm trên mỗi hợp đồng bán vũ khí cho vương quốc của hắn, chơi chơi cũng được 64 triệu đôla qua chuyến hàng đang mặc cả. Gã khổng lồ này chỉ ỳ ạch và ngây thơ với đàn bà thôi. Trong chuyện làm ăn óc gã chạy bằng điện cao thế, nhạy không kém máy tính điện tử.
— Thưa ngài, tôi sợ công việc của ta sẽ bị kẹt. Cái chết của Broker dồn ta vào ngõ cụt. Hoàng tử còn đàn em nào khác không?
— Không. Ông sao?
— Chẳng hơn gì.
Cả hai trầm ngâm suy tư. Làm sao kiếm được một đệ tử tin cậy trong có hai ngày. Nếu không có, sẽ gặp những rủi ro khó lường trong thương vụ này.
— Hoàng tử có còn liên hệ với bọn đã giới thiệu gã Erwin đáng thương tiếc ấy không?
— Không - hoàng tử giấu.
Hắn không muốn Cesare di Sogno chen vào công chuyện của hắn dù là sơ sơ. Cesare lộ mặt quá, nhiều người biết quá, và nói về người khác cũng nhiều quá. Bốn năm trước Hadad đã giới thiệu Erwin Broker với hắn và đã gặp vận may. Nhưng Broker vừa bị ám sát chết, và Hadad đánh hơi thấy Cesare là một kẻ đáng nghi. Dùng gã vào việc kiếm gái còn tạm được, dùng vào công việc làm ăn nghiêm chỉnh thì đừng.
— Đáng tiếc thật - Larsen thở dài. - Đêm nay hoàng tử đến dạ hội chứ? - gã đột ngột hỏi một câu thật lạ lùng.
— Dạ hội từ thiện mà, - hoàng tử đáp với vẻ rất đạo mạo.
— Có một người bạn thân của hoàng tử ngồi ở bàn tôi.
— Ai thế? - Hadad sửng sốt, hắn có quá nhiều tiền nên không thể tưởng tượng mình lại có bạn bè.
— Alan Pope.
Hadad cau mặt.
— Thiên hạ nói hai vị rất thân nhau. Họ vừa thấy sáng nay ngài ôm hôn ông ta ở bể bơi.
Hoàng tử cố nhớ lại xem. Và nhớ ra đã vô tình giữ cho thằng cha bị chiếc thuyền của con ngài đụng phải khỏi bị trượt ngã trên thành bể. Chính cái thằng đêm qua đã canh ty với Nadia Fischler chơi mấy ván banco với ngài.
— Tôi không quen hắn. Ông Larsen, ông định dẫn dắt đến chuyện gì vậy?
Honor bĩu môi.
— Chẳng đến đâu cả, thưa ngài. Tôi chỉ lo thôi. Và đang nghĩ cách. Nếu không tìm ra giải đáp sau 48 tiếng nữa, thương vụ 800 triệu đôla này sẽ đi đứt.
***
— Cẩn thận có xà đấy! Cúi xuống!
Alan cúi đầu. Terry đóng cửa. Qua các mái nhà tua tủa ăngten thu hình, nhìn được một mẩu đại dương lấp lánh trong khung cửa số sau mấy giỏ hoa mỏ hạc đỏ rực nở trong chậu. Trên tường quét vôi trắng treo tấm ảnh phóng to của David Browie. Chiếc mâm bồng bằng sứ đựng quả chuối, hai quả tảo, một quả bưởi và ba quả cam.
Alan chỉ hai chiếc giường trải vải chắp bằng những mảnh vụn:
— Em nằm giường nào?
— Giường bên trái. Bên phải là giường Lucy. Em pha cà phê cho anh nhé?
—Thế cơ à?
— Nếu anh không chê Nestcafe.
— Anh tưởng nhà không có nước.
Terry long trọng gạt tấm màn gió màu xanh lam để lộ ra một góc con con có vòi tắm, chiếc bể tắm, chậu rửa mặt và bếp ga.
— Đủ tin chưa nào?
— Trông như trong tranh của Matisse.
— Cái gì như?
— Căn phòng này, màu sắc, cửa sổ mở rộng...
Cô gái giả bộ rất đỗi ngạc nhiên.
— Anh có nghe nói đến Matisse sao? Đã giàu lại văn hóa cao, ghê thật!
— Trông anh có vẻ quê lắm à?
— Thoạt nhìn, tiền bạc thay cho văn hóa, duyên dáng, lịch sự và thông minh. Sao anh đứng mãi thế, làm em băn khoăn quá!
— Biết ngồi đâu bây giờ?
— Trên giường em, - cô đáp với vẻ quả quyết.
— Anh sẽ nằm cả người lên đây mất.
— Có ai cấm đâu nào?
— Không ngủ đã hai thế kỷ rồi đấy.
— Cởi giày ra. Tự nhiên đi!
Alan thoáng lo ngại: có khi lại tái diễn cảnh đã xảy ra với Nadia, Betty hoặc mụ lên cơn động đực ở Palm Beaeh.
— Chắc anh vừa chơi bời bê tha ở đâu phải không?
— Đêm qua anh ở Rome.
— Làm ăn?
— Mì ống, - anh thành thực đáp.
Cô cho hai thìa Nestcafe vào tách, hứng vào vòi nước nóng.
— Cho đường nhé?
— Có. Một viên thôi. Em không uống à?
— Em ghét thứ Nestcafe này. Con Lucy nó thích. Em thường nhảy ra quán góc phố làm một tách expresso.
Cô mang cà phê tới cho Alan, nhìn mặt anh rồi phì cười.
— Cười gì thế?
— Cười anh. Trông như cậu học sinh bị phạt ở lại trường, vẫn lo về chiếc Rolls à?
Alan ngồi ngắm cô đi đi lại lại, dùng chiếc cốc chải răng tưới cho mấy chậu hoa. Một cô gái trẻ trung, yểu điệu, lành mạnh, hồn nhiên. Đẹp. Tim anh thắt lại khi nhận ra rằng mình đã gặp một thứ rất hiếm có, rất quí giá nhưng không còn cơ hội hiểu sâu hơn được nữa vì anh không tránh nổi các đòn của số phận đang giáng xuống. Terry lấy một cốc sữa chua trong tủ, rửa chiếc thìa trong hộp Nestcafe rồi đến ngồi trên giường Lucy.
— Sao anh cứ nhìn em mãi thế?
Thực ra hai luồng mắt đang dán chặt vào nhau. Alan không thể nào nhìn đi chỗ khác. Terry nâng chiếc thìa lên được nửa chừng khoảng cách từ đùi đến miệng, cốc sữa đặt trên đùi. Không ai nói được câu nào. Tiếng bọn trẻ nô đùa dưới phố, tiếng nhạc từ vô số chiếc đài thu thanh trong ngôi nhà trước mặt vọng sang, vậy mà vẫn yên lặng. Bởi vì nếu hai người có nói lên lời và phá vỡ sự yên lặng này thì cũng chỉ là để xác nhận điều họ vừa nói với nhau bằng mắt, trong nỗi bàng hoàng trước sự thể xảy ra quá nhanh. Và ngoài ý định của cả hai người.
— Terry!
— Vâng!
Sự sống đang ngưng đọng bỗng tiếp tục dòng chảy sau khoảnh khắc thời gian dừng lại vừa qua, một khoảng trống không phải trong độ dài mà trong cường độ thuần túy của thời gian. Alan những muốn hỏi cô gái xem có có cảm nhận như anh không, nhưng cô quay nhìn đì chỗ khác.
— Anh muốn đến đón em ngày mai. Ta cùng đi bơi được không?
Chắc cô sẽ từ chối. Dù cô có nhận lời đi nữa, ngày mai anh đâu còn có tự do để đến gặp lại cô? Thời hạn được hoãn của anh có thể chấm dứt bất cứ lúc nào.
— Độ mấy giờ?
— Mười giờ.
— Vâng.
— Ở đây nhé?
— Ở đây.
Không riêng một mình Terry có thể cất cánh bay bổng. Lúc xuống cầu thang Alan cũng bay. Ghế trước xe bị trẻ con ném đầy giấy gói kem sôcôla nhầy nhụa. Alan chỉ nhẹ nhàng chùi sạch. Trên ghế sau các chú bé thân thương còn bày cả một chiếc bánh hỏi nhân cá xốt cà chua úp mặt ôliu xuống. Với mấy hàng chữ nguệch ngoạc trên cửa, xe trông giống thùng rác hơn là giống chiếc Rolls.
❀ ❀ ❀
[1] Con lợn.