Búng mạnh ngón chân Marina hất tung đôi dép. Cô phải đi bộ từ xưởng Harry về nhà Alan. Mồ hôi mồ kê nhễ nhại, cô gạt tay gỡ món tóc bết trên trán. Trên đường đi ngang qua phòng, cô làm được khối việc: bỏ chìa khóa vào gạt tàn, quăng túi xách lên ghế, cởi áo khoác ngoài, mở khóa chiếc quần jean, chỉ dừng lại một chút để tụt được ống quần bó chặt. Người cô trần trụi. Chặng thứ nhất: nhà bếp. Cô mở tủ lạnh, mỉm cười xúc động khi thấy có hai chai sữa. Alan ghét uống sữa. Marina đi khỏi nhà nhưng anh vẫn nhớ đến cô.
Cô mở nút ngửa cổ tu ngon lành. Rồi trở lại phòng ngoài, mở túi lấy chiếc mũ rơm, đôi găng da dê đen rơi ra. Nóng quá không thể đeo găng. Cô đặt mũ chon von lên đầu, mở cửa sổ: không khí bên ngoài càng bỏng rát. Cô vào buồng tắm, chờ đón lúc dòng nước mát tưới lên thân mình. Vòi đã mở, chẳng thấy gì. Cô vào bếp, cũng làm như vậy ở chỗ bồn rửa bát: vẫn chẳng có gì. Cô bỏ mũ, nhặt găng, vò một nắm nhét vào túi xách, mặc quần áo, đi dép, nhón chùm chìa khóa trong gạt tàn. Cô rất yêu Alan, nhưng yêu chưa đến mức nhịn được tắm khi muốn tắm.
Cô ngẫm nghĩ xem nên tạm thời ký gửi tấm thân vào đâu. Nghĩ vài giây rồi mở sổ ghi địa chỉ, nhấc máy, quay số.
Arnold Hackett bận áo ngủ lụa tím hoa cà đang nghỉ ngơi trên chiếc đivăng thấp trong nhà Poppie do lão trả tiền thuê gần hai năm nay. Lão còn thanh toán nhiều hóa đơn khác cho Poppie. Trước hết là khoản học phí đại học rất cao của người anh Peter đang mơ trở thành kiến trúc sư. Chưa kể 2.000 đô la tiêu vặt mỗi tháng. Lão thường nghĩ với ý bao dung vui vui: Poppie lúc nào chả kẹt tiền! Đôi khi cô ả trách lão không năng đến với cô. Lão thấy mủi lòng, nhưng công việc đâu có cho lão nhiều thì giờ rảnh!
Giả dụ có nhiều chăng nữa lão cũng không đến luôn được. Năm năm trước lão lên một cơn đau tim nhẹ. Các giáo sư khám bệnh đều khẩn thiết khuyên lão giữ sức. Lão hỏi: “Làm tình được chứ?” Thầy thuốc bảo: “Miễn đừng quá lạm”.
Dựa vào lời phán quyết đó, Arnold cứ mỗi tháng một hoặc hai lần tiêu khiển với các cô gái được gọi đến cùng bạn bè chuyền tay nhau số điện thoại của các cô với vẻ mặt háu đói. Riêng với Poppie thì khác, vì Poppie yêu lão. Cô là một đứa trẻ tinh tế, chưa đến hai mươi hai tuổi - xấp xỉ tuổi con gái lão, cô Gertrud. Nhưng khác hẳn với Gertrud, cô Poppie rất thiết thực. Không coi khinh đồng tiền, không hủy hoại cuộc đời với bọn quá khích vùng San Francisco như cô kia, Poppie nghiêm chỉnh theo học môn khiêu vũ trong một phòng học nổi tiếng ở đại lộ Sáu. Ngoài ra cô còn có một đức tính Arnold rất quý: cô yêu lão vì một lý do đáng lẽ phải làm cô lo ngại: tuổi bảy mươi mốt của lão. Cô ghét bọn trẻ trai, cho là nhạt nhẽo, vô duyên, thiếu cá tính, vô vị. “Giá anh biết được em chán ngấy bọn oắt con thò lò mũi xanh đến mức nào!” Mỗi lần cô thỏ thẻ nói ra câu dịu ngọt này với vẻ khinh miệt không che giấu, Arnold lại nở nang mặt mũi, âu yếm vuốt tóc cô, trong lòng tràn trề niềm vui sướng trước những kết quả xác thực mà độ tuổi thành thục thường trao tặng những người ngoi lên được trong xã hội. Đúng là lão không đẹp nhưng suốt đời lão vẫn nghe bọn đàn bà ca ngợi “tia lửa vui tươi lấp lánh trong đôi mắt” lão. Tất cả đều khen, trừ mụ vợ Victoria.
Việc làm ăn của Arnold cứ tự nó phát đạt mãi lên. Toàn nhân loại bị viêm phế quản, hen suyễn, mụn nhọt, đau nhức. Các dược sĩ của lão phát minh các thứ thuốc để chữa trị cho nhân loại, Arnold đút túi tiền lãi, quả đất cứ thế quay tròn. Sau bốn chục năm làm ăn, lão đưa công ty Dược Hackett lên thành một xí nghiệp thịnh vượng ở Hoa Kỳ: thuê mướn sáu mươi nghìn người làm, rải ra nhiều chi nhánh khắp nơi kể cả bên châu Âu, với doanh thu 459 triệu đô la, đứng giữa Sterling Drug (460 triệu) và Richardson Merell (457 triệu). Tất nhiên còn xa một tỷ đô lanăm của Hoffamnn Laroche, nhưng so với các đối thủ lão có thuận lợi ở chỗ kiểm soát được toàn bộ xí nghiệp của lão. Cuộc đời thành đạt của lão chỉ có một điểm đen tối: vợ chồng lão không có con trai để tiếp nhận bó đuốc Hackett. Đôi khi ngắm thân hình thon thả mềm mại của Poppie lão thầm ước sẽ bí mật có đứa con riêng để kéo dài cuộc sống của mình. Nhưng đẻ con ở tuổi này liệu có khôn ngoan không chứ?
Lão kéo tấm gương lớn ở tủ liền tường rồi phưỡn ngực, quyết một phen tự đánh giá mình không nể nang. Trút bỏ tấm áo ngủ lòa xòa dưới chân, lão hơi chần chừ khi cởi nốt chiếc quần lót sọc xanh trong lúc lão cố tìm “tia lửa tươi vui” nổi tiếng trong mắt. Lão nheo mí, cau mày, hấp háy mắt: kia rồi, nó sáng, nó giễu cợt, nó vui thích. Tất nhiên những thứ còn lại không được xôm lắm. Người không quen biết sẽ nhìn thấy trong gương hình ảnh không mấy ngoạn mục của một gã bé nhỏ đầu hói bụng phệ, cẳng cò lông lá rậm rì. Lão đã từng bố trí một toán chuyên viên nghiên cứu cách giải quyết bài toán nghịch đảo: triệt tiêu mọi thứ lông trên mình và làm tóc mọc dài trên hộp sọ. Lão kéo thêm hai tấm gương hai bên sườn nhưng chúng cho thấy hình lão trông nghiêng cũng chẳng hơn gì. Chỉ là một hình quả lê phình to chỗ dưới bụng đứng được nhờ hai que diêm lông lá.
— Anh đẹp trai thật cơ. - Poppie khen.
Cô đứng ở cửa phòng tắm ngắm nhìn lão. Che thân bằng chiếc khăn tắm. Đôi vú tròn xinh xắn tạo thành góc chín mươi độ với đường thẳng đứng kéo dọc theo lồng ngực.
Lúc này Arnold bỗng đủ tỉnh táo để bác lại:
— Em nhìn anh bằng cặp mắt tình yêu đấy!
— Em yêu thân hình của anh, - cô khẳng định - Đúng là một thân hình đàn ông.
Cô lại gần, dán bụng vào bụng lão, dụi đầu vào chỗ lõm sâu giữa hai vai lão. Arnold quàng tay qua cổ Poppie, ngây ngất vì hương thơm trong lành tỏa ra từ mái tóc cô, hương thơm của tuổi thanh xuân.
— Lại đây, - cô kéo lão lên giường.
Lão phân vân chưa biết làm cách nào thoát khỏi cơn sóng yêu đương đòi hỏi này. Cuộc tình vừa diễn ra cách đây nửa giờ đối với lão là đủ cho hai ba tuần tới rồi. Ngay lúc ấy, thấy mình kiệt sức vì cố lập thành tích lão đã hoảng, may mà Poppie đã kịp thời khen thưởng bằng một câu tuyệt vời chỉ Poppie nắm được bí quyết: “Anh làm em chết mất thôi...” Cô thủ thỉ bằng giọng trầm đục với những chuyển điệu nồng ấm và một chút mơ màng, khuất phục.
— Đừng vội, Poppie, đừng... Chưa được... Anh phải chủ tọa một hội nghị sau đây một giờ.
Cô khẽ gại đầu móng tay lên chiếc sọ nhẵn của lão:
— Anh làm em điên lên đây này... thế mai nhé, mai anh đừng đi!
— Họ đợi anh ở đấy. Không thể... Hay ta cùng đi?
Mắt Poppie nhòe nước:
— Để cậu em ở lại New York này một mình sao được.
Lão cúi xuống hôn chân cô, lảng ra, quay số điện thoại:
— Hackett?
— Hackett đây. Tôi nghe.
Nghe tên mình từ cô tổng đài dội lại lão thấy trong người râm ran niềm kiêu hãnh mà sau bốn chục năm quyền lực lão vẫn chưa thấy chán.
Móng tay Poppie mơn man rất khéo trên gáy lão.
— Cho gặp Murray.
Các tiếng linh tinh trong máy. Một nữ thư ký.
— Gặp ai?
— Murray.
— Ai cầm máy?
— Hackett.
— Để tôi xem ông Murray có rỗi không đã.
Mặt Arnold tím bầm vì giận dữ:
— Chính tôi là Hackett đây. Arnold Hackett, hiểu chưa?
— Xin ngài đừng bỏ máy ngài Hackett, có ông Murray ngay tức thì.
Poppie nắm tay lão, gặm đầu ngón tay. Arnold đút ngón trỏ vào mồm cô ả, ấn vào, rút ra.
— Murray hả?
— Thưa ông Hackett.
— Thế nào rồi?
Lão rút tay khỏi mồm Poppie, che ống nói và thì thầm:
— Đần độn, độc ác, ai cũng ghét nhưng làm việc rất hiệu quả. Đứa nào cũng phải sợ nó. Trưởng phòng nhân sự hành chính của chi nhánh New York đấy.
Poppie ngước nhìn lão đầy vẻ sùng kính.
— Murray! Rơi đầu nhiều chứ?
— Hẳn vậy, thưa ngài.
Arnold vốn vui tính. Lão buông ra câu bỡn cợt không ác ý:
— Bao giờ đến lượt cái đầu của anh?
Im lặng khá lâu.
— Đùa tí thôi, Murray. Công việc đến đâu rồi?
— Thưa ngài, tôi đã lập xong danh sách đầu tiên bốn chục thằng.
— Ít quá. Phải mạnh tay. Tôi cần những người giàu sáng kiến, nhiệt tình... Cần bọn trẻ! Anh bao nhiêu tuổi Murray?
Arnold cười kín đáo, nói thầm với Poppie:
— Tạo ra cảm tưởng bất an là cách tốt nhất làm tăng năng suất.
Lão trở lại giọng ra lệnh:
— Bao nhiêu, Murray?
— Thưa ngài Hackett, năm mươi hai.
Đến lượt Arnold im lặng một lúc lâu.
— Tất nhiên... Không sao cả, Murray. Những nhân vật thiết yếu không có tuổi. Không khí chung thế nào?
— Hơi găng.
— Anh bó tay à? Đuổi ngay bọn đầu sỏ. Tôi che cho.
— Toàn bọn cựu trào. Hai mươi năm thâm niên, chúng lên mặt, tưởng không ai dám đụng đến.
— Ví dụ?
— Đông lắm, thưa ngài.
— Một thằng xem nào!
— Bannister.
— Làm gì?
— Ngành hòa giải, trưởng ban.
— Cho đi!
— Xin tuân lệnh, thưa ngài.
— Không để một con vịt què nào ở lại Hackett nghe không? Năm chục đầu, hiểu chưa? Không thương xót!
Lão mạnh tay gác máy, phì cười, nhìn Poppie như bố nhìn con:
— Anh biết là đã làm tổn thương tính nhậy cảm của em. Nhưng nếu thỉnh thoảng không tống khứ bớt độ một trăm thằng, những đứa khác sẽ mất đi cảm giác về cái gậy chỉ huy.
***
Alan xuống xe ở đại lộ số Sáu, trả tiền taxi nhập vào đám đông dưới trời nóng nực và đàng hoàng bước vào chi nhánh số 11 ngân hàng Burger, lời thách thức của Bannister tạm thời xua tan nỗi lo sợ kinh hồn đã tràn ngập anh ta trong hai lần thử trước. Anh dừng chân ở một guichet, lấy sổ ngân phiếu ghi số tiền 20.000 đô la. Mỉm cười với đôi chút ngạo nghễ, anh ký lên tấm séc rồi đưa cho thủ quỹ.
Việc anh đang làm hoàn toàn xa lạ với anh đến nỗi anh không còn thấy khiếp sợ nữa. Một hiện tượng phân thân kỳ lạ khiến anh trở thành khán giả của chính mình, bị sự việc lôi cuốn đến mức quên phắt mình đang là diễn viên chính.
— Thưa ông Pope, ông muốn lãnh toàn tiền mặt?
— Dĩ nhiên.
Thủ quỹ tỏ vẻ ngần ngại:
— Xin đợi một lát. Tôi phải tới két bạc xem.
Anh ta rời chỗ thường vẫn phải dán vào suốt tám tiếng một ngày, sau cửa guichet. Rõ ràng anh ta đi báo động. Alan chỉ rời khỏi đây để vào thẳng nhà tù. Anh bình tĩnh châm thuốc hút. Chạy trốn làm gì? Vì đã quá muộn! Anh thấy thủ quỹ quay về, đồng thời thấy hai cớm đến đứng kèm hai bên mình, nghe tiếng một người lạ mặt bận bộ đồ xám nói vừa đủ nghe:
— Tôi là Abel Scott, phó giám đốc chi nhánh. Xin phép được mời ông vui lòng đi theo hai ông này.
Alan ngoan ngoãn đưa hai tay chịu còng.
— Thưa ông Pope số tiền ông lãnh khá lớn. Hai ông này sẽ hộ tống ông ra tận xe.
— Mới đây vừa xảy ra một vụ cướp, viên cớm cao to nói tiếp rất mềm mỏng. Cẩn thận vẫn hơn.
Alan ngượng ngùng khi nhận ra mình, vẫn còn chìa hai cánh tay. Để sửa chữa động tác nguy hiểm đã kéo dài, anh lúng túng xoa tay rồi buông xuống, dọn giọng:
— Cảm ơn. Không cần thiết.
Abel Scott nhìn anh tỏ ý không yên tâm nhưng đành chấp thuận. Thủ quỹ đặt lên quầy chiếc phong bì lớn màu be.
— Có cần đếm lại không, ông Pope?
— Xin mời. - Alan buột miệng nói.
Các ngón tay ngắn cũn của thủ quỹ bay trên xấp giấy bạc với tốc độ vũ trụ, trước con mắt kính phục của hai cớm.
— Chào ông Pope. - Abel cáo lui. - Tôi rất sung sướng được tiếp riêng ông khi ông có dịp trở lại.
Alan lẩm bẩm một câu khen ngợi mơ hồ, dửng dưng nhặt chiếc phong bì dày cộm đôla, nhởn nhơ đi ra cửa. Đường phố nuốt lấy anh. Anh phải đi chừng một trăm mét mới thấy có quán rượu. Alan bước vào, vội vã chạy tìm buồng toilet, nôn thốc tháo.
***
— Nhưng mà Alan này! Mình biết nói thế nào với Christel?
Bannister liếc trộm Patsy. Cô vội quay đi, làm ra vẻ bận rộn, giả vờ nghí ngoáy viết lên sổ. Thực ra cô vẫn dỏng tai nghe Bannister úp tay che kín miệng.
— Chỗ nào? Tên là gì? Chờ, mình ghi đã...
Anh ghi địa chỉ.
— Nhắc lại số nhà... Được, mình sẽ tới.
Alan không nói rõ mọi chuyện, chỉ một mực đòi Bannister tới cùng ăn tối. Giọng nói khác thường, khó hiểu. Cuộc hẹn gây phiền toái cho Bannister. Đôi lần anh vắng nhà vào buổi tối sớm trước kỳ hạn mười lăm ngày, thể nào Christel cũng mở cuộc điều tra đến nơi đến chốn để xem cái lý do bận việc chuyên môn của anh đưa ra có đứng vững không. Bây giờ biết nói sao đây?
— Ông Bannister.
— Gì vậy chị Patsy?
— Xin lỗi. Tôi muốn hỏi ông câu này, tuy nó không dính dáng với tôi. Cũng có, nhưng ít thôi. Nghĩa là, không hẳn là việc của tôi...
— Ông Murray đang đợi.
— Tôi biết, thưa ông. Số là trong cơ quan, mọi người rất kích động. Nhiều tin đồn...
Bannister nhún vai:
— Làm sao tin được những lời xoi mói ngoài hành lang. Chị ở đây lâu, chị thừa biết họ đồn đại lung tung chẳng thiếu thứ gì.
— Đúng thế thưa ông, nhưng không có lửa sao có khói?
— Vào dịp nghỉ phép năm bao giờ chẳng thế. Mọi người đều lo lắng.
— Người ta đồn ông Alan Pope.
— Làm sao?
— Rằng ông ấy bị thải hồi.
— Thôi đi, - Bannister bị bất ngờ hí lên. Không biết có nên nói ra sự thật hiển nhiên mà mọi người sắp biết rõ. - Vụ fluor đến đâu rồi?
— Tôi đang bơi.
— Cố làm cho xong. Tôi lên lầu.
Câu chuyện xảy ra tiếp theo với Bannister rất ngắn gọn. Murray bảo:
— Mời vào, Bannister. Có tin mừng cho anh.
Bannister co rúm. Murray chỉ báo tin mừng khi có người chết vì tay hắn.
— Hôm nay là 23 tháng bảy. Tôi vui mừng báo để anh biết: đến 31 tháng chạp này anh sẽ được lĩnh 28.472 đô la.
Thấy Bannister trợn mắt nhìn hắn, Murray nói tiếp:
— Từ ngày 1 tháng giêng, anh bắt đầu nghỉ hưu.
***
Thiếu phụ nhẹ nhàng lướt trong quán rượu, tới trước phòng bida thì đụng một gã từ trong đi ra.
— Hello, Jones!
— Hello, Poppie!
— Có trong ấy không?
— Đang bị chúng nó vặt lông.
Cô tặng anh chàng một nụ cười rồi bước vào căn phòng mù mịt khói. Chừng một chục gã đàn ông đứng trong vòng vây của luồng sáng dữ dội chiếu xuống mặt thảm xanh đang chăm chú nhìn gã cao to mặc áo dệt kim ngắn tay đang chuẩn bị một cú khó. Poppie bước lên hai bước:
— Peter!
Gã cao to quay lại, ném một cái nhìn chết người:
— Thế nào, dám không? - Maxie sốt ruột, gã trắng trợn dòm mặt Poppie rồi nói to. - Đây là phòng bida, không phải phòng trà!
Poppie lúng túng:
— Xin lỗi, Peter.
Nhiều người khúc khích cười châm chọc. Peter rít qua kẽ răng:
— Cút ngay.
Poppie gật đầu lia lịa.
— Em đợi trong phòng bên.
Peter gập đôi người trên tấm thảm xanh, chỉnh que chọc trong tay phải, đứng im không nhúc nhích trong vài giây. Xung quanh hoàn toàn im lặng. Viên bi đỏ vụt đi.. .
Maxie tuyên bố:
— Chỉ ra 800 đô la!
Peter kéo hắn ra xa:
— Chờ cho mười phút. Mình thu xếp công việc xong sẽ trả cho cậu ngay.
Maxie nhìn tỏ ý nghi ngờ:
— Thôi được. Mười phút.
Peter ra ngoài, thấy Poppie ngồi trước quầy rượu:
— Cô làm tôi thua rồi!
— Nhiều không?
— 1.500 đô la. Jones, một đúp!
Poppie rụt rè đặt tay lên cánh tay Peter. Gã vẫn dán mắt lên dãy chai đủ màu xếp trên giá, dường như không cảm giác được.
— Giận em sao?
— Đâu có, anh khen em thì có, hoan hô! - Gã nói, mắt vẫn nhìn chỗ khác.
Đến bên Peter, cô ta chỉ còn là đứa trẻ lên mười. Vẻ đẹp trai của gã làm cô mê mẩn, mất hết tự chủ.
— Peter!
— Im mồm!
Cô cảm đôi tay cứng cáp, cái mũi thanh tú, đôi vai rộng gân guốc chắc lẳn dưới tấm áo dệt màu trắng.
— Em đến chậm. Vì Arnold tới.
Peter châm chọc, giọng mỉa mai:
— Mụ già Hackett.
— Em có thể đỡ cho anh, Peter!
Cô lại bóp mạnh cánh tay Peter. Bắp thịt gã tự khắc co rúm, nhưng gã để mặc cô.
— Có bòn được của lão keo kiệt ấy ít nào không?
— Tí tẹo.
— Bao nhiêu?
— Hai thiên.
— Đưa đây!
Cô ả đưa cho gã cuộn giấy bạc. Gã tuồn ngay vào túi, phá lên cười:
— Tớ không hiểu sao một thằng ngu như thế mà lại giàu đến thế! Tưởng tớ là kiến trúc sư, ừ thì còn cho qua được. Nhưng cho đằng ấy là em gái tớ thì...! Em gái! Tớ mà lại ngủ với em gái!...
***
Bà ta thật không xứng với cái tên Victoria[1]. Người dài, dịu dàng, tóc vàng, cam phận, da trắng như tờ giấy, lông mày lông mi bạc phếch. Được tiệt trùng triệt để. Ngay từ hồi Arnold mới làm quen, bà đã mảnh mai, trong veo. Sau ba mươi bảy năm, lão gần như không ngó ngàng đến nữa. Con gái độc nhất một ông dược sĩ giàu có đã khuất núi, từ nay chỉ còn một mình bà ta cô đơn trong ngôi nhà mênh mông ở đại lộ Park, mờ ảo như bóng ma, trắng toát, sống bằng thuốc ngủ giữa bầy chó cảnh và bọn đầy tớ.
— Được đi, em có thích không? - Arnold hỏi.
— Anh bảo gì?
— Anh hỏi em có thích đi không?
— Ôi, có chứ, anh Arnold.
— Richard đã báo cho Gohelan biết chúng mình đến chưa?
— Rồi.
— Mình vẫn ở dãy phòng mọi khi?
— Vâng. Phòng khách lớn, hàng hiên và hai phòng đầu hồi tầng hai.
— Richard đã dặn Gohelan thay thảm màu khác chưa?
— Em không rõ.
— Trời đẹp chứ?
— Rất đẹp.
— Tốt.
— Gohelan nói với Richard rằng Koroky đã sẵn sàng. Ông ta đang nóng lòng đợi anh.
— Ai vậy?
— Koroky. Người vẫn chơi cờ tào cáo với anh.
— Năm nay thằng đốn mạt ấy đừng hòng lấy của anh được một xu. Anh sẽ đánh tennis.
Victoria nhìn lão lo ngại. Lão trả lời câu hỏi mà bà ta không đặt ra:
— Tim anh rất tốt. Biểu thế nào?
— Hai nhăm độ.
— Có vé chưa?
— Lúc chiều em đã bỏ vào ví anh trước khi anh đi.
Arnold bất giác nắn các túi: Không thấy ví. Lão nhìn Victoria. Bà ta không để mắt đến lão nữa. Lững lờ giữa những đám mây quen thuộc, bà quay ra nghịch con chó quý Tristan. Arnold sực nhớ ra: chắc để quên ở nhà Poppie. Người nóng bừng lên khi nhớ lại kỳ công nhục dục vừa rồi.
— Victoria!
— Gì cơ?
— Anh bỏ quên ví ở phòng làm việc.
— Bảo Richard đi lấy.
— Không. Anh phải đi lấy. Hắn biết chỗ nào mà tìm!
Lão nhấc máy nội đàm, bảo tài xế kiêm bếp trưởng đánh chiếc Cadillac đen tới trước cửa. May ra Poppie không đến chỗ anh trai. Lão lại có thể ôm cô vào lòng một lần nữa.
***
Mọi vật vẫn nguyên chỗ, nhưng có cái gì đấy lởn vởn trong không khí làm Alan biết có người đã vào phòng. Anh đứng im một chỗ, đánh hơi, đưa mắt lục soát phòng khách rồi đi vào phòng ngủ. Giường vẫn y như lúc anh ra đi: nhàu nát, bừa bãi, vải trải giường thòng xuống đất trên cả chiều dài tấm đệm.
Anh vào bếp, mải nghĩ đâu đâu, anh vô tình mở vòi ở bồn rửa bát: chỉ có tiếng ọ ẹ khó chịu tuôn ra.
Anh nhún vai, bất giác mở tủ lạnh. Một dòng điện truyền lan khắp người: một chai sữa gần cạn, Marina đã đến đây! Anh quay ra cửa, xem kỹ coi có thư từ gì nhét phía dưới, rồi nhấc các đồ chơi trang trí lên, ngó dưới bàn điện thoại, xem phía sau các mảnh hóa đơn thực phẩm, ngộ nhỡ cô ta có viết gì lên đấy.
Anh bật cười: trong lúc vội vàng anh vừa quăng gói 20.000 đô la như quăng nắm giấy lau không giá trị.
Tuy số tiền ấy là tất cả những cái mà mọi người mơ ước, tự do, chuộc lại thời gian đã qua, du lịch, cuộc sống xa hoa. Bannister trông thấy nó chắc phải ngạc nhiên. Anh bỗng ân hận vì đã buộc Bannister vào cuộc hẹn gặp sắp tới. Không phải vì Christel, kẻ đầu độc cuộc sống của anh ta, mà vì Marina có thể bất chợt quay về nhà. Cô vốn là người tính khí bất thường, lúc ẩn lúc hiện như bọn mèo, vừa buông mồm đã quên ngay lời hứa hẹn, quên chỗ giấu găng, mũ, kính mát, không bao giờ đến khi có người đợi, lúc không ai nghĩ tới thì bất thình lình hiện ra.
Alan thờ ơ nhìn gói tiền lăn lóc trên thảm. Anh rất vui lòng đem cho người nào chỉ chỗ tìm ra Marina vào đúng lúc này.
❀ ❀ ❀
[1] Chiến thắng.