Nghe tin có người hiến tủy, anh lập tức đưa đứa trẻ lên Seoul.
Không có lý do gì để chậm trễ cả. Sau khi phương pháp cấy ghép tủy, cách duy nhất để cứu đứa trẻ, không còn hy vọng nữa, anh đã rời khỏi bệnh viện. Nhưng giờ đây dường như hy vọng đó lại quay trở lại.
Cách đây hai ngày, anh đã có buổi gặp gỡ tư vấn đầu tiên với trưởng khoa Min.
“Chúng ta vừa uống trà vừa từ từ nói chuyện nhé.” Trưởng khoa Min bắt đầu câu chuyện như vậy, rồi chậm rãi nhâm nhi tách trà.
“Làm công việc của bác sĩ, tôi đã trải qua không ít chuyện. Nhưng hiếm khi tôi thấy đau lòng như ngày Daum xuất viện. Khi Daum tươi cười nói đến mấy lần câu ‘Cháu cảm ơn bác’ và chào tạm biệt, nói thật tôi chỉ mong có cái lỗ chuột ở đó để chui xuống.”
Trưởng khoa Min thổ lộ rằng sau khi đứa trẻ xuất viện, khuôn mặt nó không khi nào rời khỏi suy nghĩ của ông, rồi nói tiếp:
“Anh là một người giám hộ đặc biệt. Không chỉ tôi mà cả đội ngũ bác sĩ ở khu phòng bệnh trẻ em đều nói như vậy. Tất nhiên tôi đã chứng kiến nhiều bà mẹ hết lòng chăm sóc, hy sinh vì con. Nhưng người cha chăm nom đứa con bị bệnh một cách tận tụy như anh thì là lần đầu tiên. Nếu là tôi thì không biết liệu tôi có thể làm được như anh không? Không, chắc là không đâu. Còn về quyết định từ bỏ đứa trẻ thì sao? Tôi đã không thể không suy nghĩ cho anh. Đặc biệt là người làm thơ, chắc có lẽ quyết định đó còn khiến anh đau đớn hơn người bình thường rất nhiều.”
Anh không đồng ý với kết luận rằng người làm thơ thì nỗi đau đớn lớn hơn. Nhưng đấy không phải là điều quan trọng. Anh uống trà ừng ực như nước lọc rồi chờ câu nói tiếp theo của trưởng khoa Min.
“Trên thực tế thì hiếm có trường hợp nào mà chúng tôi phải nhờ cậy đến cơ quan nước ngoài. À không, phải nói là hầu như không có mới phải. Bởi dù có tìm được mẫu tủy phù hợp đi chăng nữa thì việc hiến tặng cũng gặp rất nhiều khó khăn. Dù sao thì chúng tôi cũng đã gửi mẫu tủy của Daum đến Hiệp hội tủy sống Nhật Bản. Và cả Mỹ nữa. Chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến Nhật Bản. Ở Nhật Bản tôi quen thân với khá nhiều bác sĩ trong thời gian đi du học. Vì vậy tôi đã trực tiếp nhờ cậy họ để ý giúp trường hợp này. Dù không có gì chắc chắn cả. Nhưng đã cố gắng đến nước này, tôi cũng bớt áy náy. Thật lòng mà nói thì đó là tâm trạng của tôi.”
Nhưng đúng là đã có kỳ tích xảy ra.
Kháng nguyên bạch cầu người được chia làm sáu nhóm, và họ đã tìm ra một mẫu khớp hoàn toàn với đứa trẻ. Một cô gái Nhật Bản hai mươi mốt tuổi tên là Midori. Midori lúc đầu hơi do dự trước việc hiến tủy cho người nước ngoài, nhưng trưởng khoa Min và bạn bè thuyết phục và cô đã đồng ý.
“Tuy nhiên lần này vấn đề nằm ở phía chúng ta. Vì tôi không có cách nào để liên lạc với anh. Anh không biết tôi đã mong anh liên lạc lại như thế nào đâu. May là đúng lúc đó thì mẹ của Daum tìm đến tôi.”
Chỉ là anh đang nghe kể lại những chuyện đã xảy ra. Nhưng anh vẫn có cảm giác như thể đứng ở trên bờ vực cao xa vời vợi. Theo lời trưởng khoa Min thì đó đúng là một kỳ tích, và chỉ cần lỡ chân bước hụt một cái thôi thì tất cả sẽ vụt biến thành bong bóng. Từ thành ý của trưởng khoa Min đã gửi mẫu tủy sống của đứa trẻ ra tận nước ngoài, đến việc tìm được người hiến tặng, sự xuất hiện của người vợ, và cuộc nói chuyện điện thoại với Yeo Jin Hee nữa.
Sau khi nhắc đi nhắc lại câu cảm ơn, anh đặt câu hỏi cho trưởng khoa Min. Đó là hoài nghi đã đeo bám anh suốt hai ngày qua, khiến anh lòng dạ rối bời, bồn chồn, lo lắng không yên.
“Tình trạng của Daum thật sự không tốt. Nếu muốn ghép tủy thì phải tác động đến tế bào ung thư, nhưng liệu nó có thể chịu đựng được quá trình trị liệu ung thư hay không, bác sĩ?”
Sau khi công nhận chỉ số bạch huyết cầu ác tính của đứa trẻ đang ở mức cao, trưởng khoa Min đột nhiên cất giọng hỏi:
“Thời gian vừa qua anh đã ở đâu?”
“Tôi ở trên núi.”
“Không biết có phải nhờ nguồn nước và bầu không khí trong lành hay không, mà thể lực của Daum đã tốt lên hơn mức tưởng tượng của tôi đấy. Tôi đã lo rằng nếu thể trạng của Daum xuống đến giới hạn, tới mức không thể tiếp nhận tủy ghép nữa thì không biết làm thế nào, nhưng hoàn toàn không như tôi nghĩ.”
Không biết có phải những loại thảo dược tươi mới hái và canh rắn mà anh cho Daum ăn khi còn ở trên núi giờ đã phát huy hiệu quả không nhỉ? Nếu đúng như vậy thì quả là không còn gì đáng mừng hơn.
“Điều quan trọng là ý chí chiến đấu với bệnh tật của bệnh nhân. Tôi tin rằng có anh ở bên cạnh, Daum nhất định sẽ chiến thắng được bệnh tật.”
Trưởng khoa Min nở một nụ cười tràn đầy tự tin nhưng lòng anh thì nặng trĩu. Đứa trẻ vẫn im lặng. Ở bệnh viện Wonju, họ đã đưa ra chẩn đoán đây là một dạng tự kỷ. Như vậy chẳng khác nào đứa trẻ đã nhụt chỉ trước khi bước vào cuộc chiến với bệnh tật, và chừng nào đứa trẻ còn chưa chịu mở miệng cũng tức là ý chí chiến đấu với bệnh tật còn chưa sống lại.
“Dấu hiệu tự kỷ sao? Nói quá rồi. Chỉ là thằng bé muốn nói mà không thể nói được thôi. Đó là do tác động của tế bào ung thư, khiến cho dây thanh quản bị tê liệt. Anh cứ đợi mà xem. Chỉ khoảng ngày mai hoặc ngày kia thôi là cháu có thể hét lên gọi bố rồi ấy chứ.”
Khi chỉ số bạch huyết cầu ác tính giảm xuống do tác dụng của thuốc kháng ung thư, thì dây thanh quản đang bị tê liệt sẽ tự nhiên trở lại bình thường, và điều đó không hề liên quan đến ý chí đấu tranh với bệnh tật. Anh đột ngột nắm hai tay lại và hỏi:
“Vậy chỉ cần ghép tủy là có thể khỏi bệnh hoàn toàn phải không bác sĩ?”
“Bắt đầu từ bây giờ chúng tôi sẽ thật sự tiến hành quá trình ghép. Khâu xử lý trước khi ghép là bước quan trọng then chốt, tiếp sau đó còn phụ thuộc vào thành công của việc ghép tủy, vấn đề cuối cùng là chờ xem cơ thể bệnh nhân có phản ứng đào thải tế bào ghép hay không, cần phải vượt qua tất cả các bước kể trên thì bệnh mới được điều trị dứt điểm.”
Ít nhiều thì với tư cách bác sĩ điều trị chính, câu trả lời của trưởng khoa Min là hợp lý. Tuy nhiên, đó không phải là câu trả lời mà người nhà bệnh nhân thật sự muốn nghe, và anh thì có cảm giác như trưởng khoa Min đang khéo léo tránh câu hỏi của anh.
“Trưởng khoa Min vẫn thường đưa ra con số về tỷ lệ thành công. Mặc dù lo lắng nhưng mặt khác thì nó thật sự cũng trở thành điểm tựa cho tôi.”
“Tỷ lệ sống sót xét về mặt y học là tính trên những trường hợp bệnh không tái phát sau bốn năm điều trị. Bởi vì khả năng bệnh tái phát trở lại sau bốn năm là cực kỳ hiếm, do đó có thể xem như bệnh đã được điều trị dứt điểm. Theo kết quả thống kê lâm sàng dựa trên các trường hợp bệnh máu trắng do hình thành bạch huyết cấp tính thì tỷ lệ sống sót sau khi ghép tủy gần như đạt tới 80%.”
Ôi, 80%.
Tim anh đập thình thịch. Cho dù không quá 20% đi chăng nữa, à không, chỉ cần 10% hy vọng thôi thì anh cũng sẵn sàng đánh đổi tất cả. Nhưng những 80% sao?
“Việc chuẩn bị ghép tủy sẽ được tiến hành ngay. Chúng tôi sẽ lập nhóm điều trị theo chương trình ghép tủy, và Daum sẽ được điều trị một cách bài bản. Bác sĩ chủ trị là tôi. Thông thường thì đây không phải là việc mà trưởng khoa đứng ra phụ trách nhưng tôi đã tự yêu cầu.”
Đó là điều anh mong muốn. Nhưng anh chỉ gật đầu mà không thể bày tỏ hết tâm tư của mình, và trưởng khoa Min thêm vào đó.
“Vì tôi đã nhiều lần nhắc đến việc tái phát nên tôi có thể đoán được tâm tư của anh. Tuy nhiên, lần này thì tôi dám mạnh dạn khẳng định. Hãy tin tưởng ở tôi. Hãy tin tưởng ở tôi và cùng nhau chiến đấu. Chúng ta có hy vọng. À không, chắc chắn là Daum sẽ được điều trị khỏi hoàn toàn và có thể xuất viện với nụ cười trên môi. Khi đó chắc chắn là tôi sẽ tự tin mà đón nhận lời chào tạm biệt của Daum.”