Mười lăm ngày sau khi ghép tủy.
Đứa trẻ vừa đi qua đường hầm của nỗi đau khổ dài đằng đẵng. Giờ đây việc còn lại thật giản đơn và rõ ràng. Hoặc là hoàn toàn thoát khỏi đường hầm và tiến ra giữa ánh sáng, hoặc là quay lại phía sau và vùi sâu vào trong bóng tối.
Thời gian vừa qua đứa trẻ đã uống không biết bao nhiêu thuốc kháng sinh, thuốc giảm đau, tiêm dưỡng chất và tiếp thêm rất nhiều tiểu cầu. Bị ảnh hưởng bởi thuốc kháng sinh và xạ trị trước khi ghép tủy nên nó đã kiệt sức với những trận nôn mửa, tiêu chảy, đau đầu và đau khớp. Suốt hai ngày liền, nhiệt độ cơ thể đứa trẻ liên tục lên cao, và đủ loại kháng sinh đã được kê đơn. Mồm miệng sưng tấy, còn thực quản thì đang dính chặt nên nó chỉ truyền đạm chứ không ăn uống gì được.
Bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi ghép tủy, đứa trẻ bị tắc nghẽn khí quản. Đó là tác dụng phụ của xạ trị. Vì vậy đứa trẻ được đặt ống nội khí quản, để oxy trực tiếp cung cấp tới phổi. Đương nhiên là không thể nói to được. Nhưng dẫu sao điều an ủi là đã không phát sinh biến chứng tắc tĩnh mạch mà hơn một nửa bệnh nhân ghép tủy đều gặp phải.
Đứa bé vì quá mệt mỏi và kiệt sức nên rũ xuống như một cái chổi nhúng nước và nhìn vào khoảng không ánh mắt vô định. Nỗi khổ sở đã dồn thể xác đứa trẻ đến đỉnh điểm, và đứa trẻ dường như mất đi cả ý chí phản kháng. Cũng có thể nó chỉ đang chịu đựng từng ngày từng ngày bằng bản năng động vật.
Và anh thì đang cố kêu gọi bản năng động vật của đứa trẻ, trong lúc bồn chồn chờ đợi kết quả thành công của việc ghép tủy.
Bất chấp thời gian gặp mặt chỉ giới hạn trong ba mươi phút, phần lớn thời gian trong ngày của anh là trong phòng vô trùng. Đó là sự ưu ái của trưởng khoa Min. Có lẽ vì ông cũng đoán rằng làm vậy sẽ giúp đứa trẻ có thêm ý chí chiến đấu với bệnh tật, hoặc có thể ông thấy tội nghiệp cho tình cảnh anh, suốt ngày đứng tì trán vào bức tường kính phòng vô trùng nhìn đứa trẻ ở bên trong.
Từ giây phút đứa trẻ không thể nói được anh đã kể cho đứa trẻ nghe câu chuyện của mình.
Anh đã có ý nghĩ rằng đứa trẻ cần được biết bố nó đã nghĩ gì, ở đâu và sống như thế nào. Rồi đây nó sẽ là đứa trẻ sớm phải sống cuộc sống không có cha. Giá như sau này đứa trẻ không phải nhớ đến bố nó với một ký ức mịt mờ thì tốt biết mấy.
Anh bắt đầu từ thời thơ ấu với những ký ức vẫn còn nhớ được. Anh vừa xoa bóp tay chân cho đứa trẻ, vừa giúp nó vận động nhẹ nhàng và kể chuyện.
Đột nhiên anh có tâm trạng như một người cha đang để lại những lời trăng trối cho đứa con ngồi bên cạnh giường mình. Mặt khác, việc kể cho người mình yêu thương câu chuyện quá khứ cũng khiến anh có cảm giác như đang bày tỏ tình cảm yêu thương vậy.
Đôi lúc, có chuyện khiến anh thấy nghèn nghẹn. Thỉnh thoảng nhớ đến một ký ức nào đó, anh bỗng lén mỉm cười hoặc thở dài. Dù là chuyện gì đi chăng nữa anh cũng kể lại một cách điềm tĩnh và tỉ mỉ, không hề phóng đại hay khoa trương.
May mắn là khi nghe kể chuyện, khuôn mặt của đứa trẻ như có thêm sinh khí. Tuy ánh mắt có mệt mỏi, nhưng ánh mắt ấy không hề rời khỏi anh.
Mười ngày sau khi ghép tủy, đứa trẻ đã có dấu hiệu hồi phục. Đứa trẻ đang dần dần đi từng bước về phía ánh sáng.
Cuối cùng thì ống nội khí quản mà ngày hôm kia vừa làm đứa trẻ sợ hãi, đã được lấy ra.
“Daum à, con buồn chán quá đúng không? Bây giờ con có thể nói được rồi đấy. Con nói gì đó với bố đi. Con muốn ăn gì hay làm gì thì nói với bố nhé.”
Nhưng câu nói đầu tiên đứa trẻ thốt ra hoàn toàn khác với những gì anh mong đợi.
“Mắt của bố... vẫn... đau... à?”
Có vẻ như đứa trẻ đã bận tâm suốt về con mắt bên trái đang dán bông băng của anh. Đó chẳng phải điều gì to tát, nếu vì đứa trẻ thì ngay cả con mắt còn lại anh cũng có thể lấy ra, có gì đáng kể đâu cơ chứ... Nhưng câu hỏi của đứa trẻ làm anh cảm động đến đau nhói tim, và nó trở thành nguồn sức mạnh giúp anh duy trì thể xác bệnh tật của mình.
Đó là ngày thứ hai mươi bảy từ khi anh nhận được thông báo về căn bệnh ung thư gan.
Tế bào ung thư đang hoành hành mỗi ngày. Mỗi lần anh leo lên bàn cân là cân nặng của anh lại giảm như quả bóng bị xì hơi. Chỉ cần di chuyển một chút thôi anh cũng thấy thật khó thở. Đặc biệt những cơn đau ở mạn sườn bên trái mỗi lúc một nặng hơn, và dù anh có nuốt cả vốc thuốc giảm đau thì cũng ít thấy dịu bớt.
Quãng thời gian còn lại, nếu có thể gia hạn dù chỉ là một ngày thôi, thì anh cũng nên điều trị ung thư mới đúng. Nhưng như thế thì anh sẽ phải rời xa đứa trẻ. Vả lại anh cũng không dư dả về kinh tế như thế.
Số tiền kiếm được bằng cái cách hổ thẹn ấy, sau khi trả khoản tiền nợ Yeo Jin Hee, thì anh vẫn còn hơn một nửa, và giám đốc Hong sau cùng cũng đã chuyển khoản mười triệu won cho anh một cách muộn màng. Tuy nhiên, số tiền đó còn phải trang trải chi phí điều trị không biết sẽ kéo dài đến bao giờ cho đứa trẻ. Dù chỉ là một xu thôi anh cũng không thể tiêu xài bừa bãi được.
Anh khao khát mong cơ thể mình có thể chống đỡ được ít nhất là đến khi xác nhận việc ghép tủy của đứa trẻ đã ổn định. Và bây giờ anh đang chờ đợi kết quả xét nghiệm máu và di truyền học tế bào trong phòng vô trùng. Đứa trẻ giờ đây đang đứng trước ngã rẽ. Nếu ở phía này là cuộc sống, thì ở phía kia sẽ là cái chết.
Anh nhìn đứa trẻ nằm trên giường qua tấm mành che ni lông. Đứa trẻ đang ngủ. Thật là một điều may mắn. Giây phút nghẹt thở và lo lắng đến cháy ruột cháy gan, chỉ cần một mình anh chịu đựng là đủ.
Phát hiện ra trưởng khoa Min đi vượt qua bức tường kính, anh đứng bật dậy khỏi chỗ ngồi. Chiếc ghế bị xô và đổ xuống sàn nhà, đứa trẻ vừa chìm vào giấc ngủ một cách khó khăn đột nhiên mở đôi mắt lấp lánh.
Cánh cửa phòng vô trùng khẽ mở ra không một tiếng động. Trưởng khoa Min kiểm tra đứa trẻ vừa thức dậy, xong xuôi ông không quay đi mà lại bước thẳng về phía anh, không hề nhìn về phía đứa trẻ một lần nữa.
Cắn chặt môi dưới, anh nhìn chằm chằm vào mắt trưởng khoa Min.
“Chỉ số bạch huyết cầu trung tính là sáu trăm, tiểu cầu là hai vạn năm nghìn!”
Giọng nói của trưởng khoa Min vọng đến như một tiếng vang vọng lên từ đáy động sâu.
Sáu trăm và hai vạn năm nghìn.
Để nhận ra hai con số đó có ý nghĩa gì, anh cố gắng hết sức dò dẫm trong ký ức. Người ta nói rằng khi chỉ số bạch huyết cầu trung tính là năm trăm và tiểu cầu là hai vạn thì có thể gián tiếp xác nhận rằng việc ghép tủy đã ổn định. Nhưng đứa trẻ còn vượt trên cả chỉ số sau đó.
Trưởng khoa Min nói thêm với vẻ mặt rạng rỡ:
“Thành công rồi. Việc cấy ghép đã ổn định. Việc kiểm tra di truyền học tế bào cũng đã xác nhận điều này.”
Ôi, đứa trẻ đã thoát ra khỏi bóng tối âm u của cái chết.
Anh muốn được ôm chặt lấy trưởng khoa Min, hò reo thật lớn và cả hát rồi nhảy múa nữa. Tuy phòng vô trùng yêu cầu yên lặng và ổn định tuyệt đối nhưng có lẽ vào giây phút này thì sẽ không có ai nói gì cả đâu. Bố con anh đã phải đi một quãng đường thật dài và mệt mỏi mới đến được giây phút đó.
Anh quay đầu về phía đứa trẻ một cách hết sức từ tốn. Đứa trẻ đang khẽ hé miệng nhìn về phía anh.
Giọng nói của trưởng khoa Min vọng tới từ phía sau lưng anh.
“Daum cũng nghe thấy điều bác sĩ nói với bố rồi chứ? Tủy sống của chị gái người Nhật Bản đang lớn lên trong người Daum đấy. Giờ thì Daum không còn gì phải lo lắng nữa cả. Daum sẽ sớm được ra khỏi phòng vô trùng thôi.”
Độp, đột nhiên nước mắt từ hai mắt của đứa trẻ rơi xuống.
Anh mở màng che ni lông và gọi tên đứa trẻ.
“... Daum à, con trai của bố, để bố thử ôm con một cái xem nào.”
Sau khi kết thúc bữa ăn trưa cùng trưởng khoa Min ở nhà ăn bệnh viện thì đã quá giữa trưa, nên anh ngồi lại trên băng ghế dài cạnh cây hoa tử đằng suốt gần hai giờ đồng hồ.
Dù gió thổi hay không, lá rụng hay không, với anh chẳng phải là điều đáng bận tâm. Anh vẫn chỉ muốn là một người đàn ông bình thường. Anh vẫn muốn bước đi dẫu con đường còn nhiều gập ghềnh và ngang trái.
Hai giờ mười phút chiều. Theo giờ ở Pháp sẽ là sáu giờ mười phút sáng.
Cuối cùng thì thời khắc này cũng đến như đã định, thời khắc mà anh không hề muốn đối diện. Anh kiểm tra số điện thoại ghi trên tờ giấy rồi nghĩ lại lời nói của trưởng khoa Min.
“Thời gian vừa qua thường xuyên có nhiều cuộc điện thoại từ Pháp gọi đến hỏi về tình hình của Daum. Tôi đã định nếu ca ghép thành công sẽ liên lạc nhưng dù sao thì có lẽ anh Jeong trực tiếp liên lạc sẽ tốt hơn... Khi điều trị bệnh ung thư ở trẻ em tôi cũng đã trải nghiệm qua một số việc này việc kia. Có cả việc vợ chồng vì đứa trẻ mà mâu thuẫn rồi cãi vã, nhưng thỉnh thoảng cũng có trường hợp vì đứa trẻ mà họ hòa giải và tái hợp. Tuy tôi không hiểu hết được sự tình của anh, nhưng thành công của ca ghép tủy lần này, nếu như trở thành kết quả tốt với cả hai người thì tốt biết mấy. Cũng tốt cả cho việc hồi phục của Daum nữa.”
Hòa giải, tái hợp? Không nhất thiết phải làm rõ sự thật vốn đã không còn ý nghĩa gì nữa. Cho dù người vợ có quay trở lại thì giờ đây anh cũng không thể nào đón nhận cô được nữa. Không phải là vấn đề tình cảm. Trong quãng thời gian còn lại, ngay cả việc anh có thể sắp xếp được một cách ổn thỏa quá khứ đã qua hay không cũng là một câu hỏi lớn.
Dù sao thì việc người vợ thường xuyên hỏi thăm tình trạng của Daum qua trưởng khoa Min cũng không phải là không hay. À không, thực lòng anh rất biết ơn vì điều đó.
Tín hiệu điện thoại vang lên một hồi dài rồi ngưng. “Alô?”
“Alô?”
Khoảng cách giữa anh và vợ xa xôi như khoảng cách giữa châu Âu và châu Á vậy.
“Có việc gì vậy?” Người vợ hỏi bằng một giọng ngái ngủ, nhưng vẫn lạnh lùng.
Anh đổi điện thoại từ bên phải sang bên trái rồi nói:
“Anh xin lỗi vì gọi lúc sáng sớm. Em khỏe chứ?”
“Daum sao rồi?”
“Tủy xương được cấy ghép đã bắt đầu phát huy tác dụng. Thành công rồi.”
“Thật chứ?”
“Anh biết là em sẽ vui khi nghe tin này. Bây giờ nó đang điều trị phục hồi.”
“Không có biến chứng gì chứ?”
“Không có. Tuy nhiên, nếu có thì cũng không có gì đáng ngại cả. Và nghe nói là nếu gặp phải một lần biến chứng cũng không sao. Phải thế thì mới không tái phát.”
Ở phía đầu dây bên kia có một tiếng thở dài. Anh hiểu đó là biểu hiện của sự an tâm và vui mừng.
“Nếu em đến đây được thì tốt.”
Chờ đợi câu trả lời của người vợ trong khoảng năm giây rồi anh lại mở lời.
“Daum nó nhớ em. Và...”
Đừng có run, đừng có lắp bắp, đừng có thở dài hay đau lòng. Anh vừa tự động viên mình vừa tiếp lời.
“Và anh cũng đã nghĩ nhiều rồi, đúng là nên giao con cho em.”
“Anh đang nói gì vậy?”
“Có lẽ như thế sẽ tốt hơn cho con. Em cũng biết anh là kẻ nghèo xơ nghèo xác đến lo cho thân mình còn vất vả mà. Nếu ở bên cạnh một kẻ như anh thì liệu con sẽ thành ra thế nào. Để em lo cho tương lai của con thì sẽ tốt hơn, xét về mọi mặt mà nói.”
“Anh nói dối đúng không? Anh đang thử tôi đúng không?”
Sự thật thì, đó là vì... anh sẽ chết. Vì thế mà anh sắp phải rời xa đứa trẻ. Vì anh không thể gửi con vào cô nhi viện nơi anh đã từng phải sống qua. Anh mong người mẹ là em sẽ chăm sóc con tốt, đây là sự thật.
“Em hãy coi như là anh nhờ em đi.”
“Lý do khiến anh bỗng nhiên thay đổi suy nghĩ là gì vậy?”
“Đúng như em nói, con không phải là vật sở hữu riêng của anh. Vì thế anh không thể tham lam được... Dù sao thì em hãy quay về càng sớm càng tốt.”
“Sau một giờ nữa anh hãy gọi điện thoại lại. Trong thời gian đó tôi phải suy nghĩ một chút. Tôi cũng phải bàn bạc với chồng tôi nữa. Mà thôi, tôi sẽ liên lạc với anh nên anh hãy cho tôi số điện thoại đi.”
Anh tắt máy, thẫn thờ nhìn những cành cây tử đằng, và đột nhiên anh nhớ tới bố.
Anh đã từng có lần tha thiết mong tìm lại bố đến cháy bỏng ruột gan. Đó là khi anh vào đại học. Anh đã chịu thua bố rồi. Dù đến giờ anh đã sống hoàn toàn bằng nghị lực của bản thân. Nhưng anh không thể tìm thấy sự tồn tại của bố ở bất cứ nơi đâu.
Tâm tư của người bố đã phải để lại con trai ở trước đồn cảnh sát và tập tễnh bước đi xa dần. Dù không thể hiểu được trọn vẹn, nhưng dường như anh đã có thể tha thứ cho ông. Với tư cách người bố, đó là một việc không thể nào làm khác được. Giống như giờ đây khi anh phải để lại con và đi xa. Ôi, một ngày xa xôi nào đó liệu con anh có thể tha thứ cho anh dù không hiểu được sự tình một cách trọn vẹn hay không.
Khoảng ba mươi phút sau, tiếng chuông điện thoại vang lên.
“Dù có nghĩ thế nào đi chăng nữa thì tôi vẫn không hiểu được ý định của anh. Hay là anh sẽ kết hôn với Yeo Jin Hee?”
Yeo Jin Hee cứ hai ngày lại tìm đến một lần. Khi thì cô thuyết phục anh phải điều trị, khi thì cô giận dữ, khi thì cô lớn tiếng rằng thật sự anh muốn như thế này mà chết sao rồi òa khóc, rồi có ngày cô lại không nói gì mà chỉ nhìn anh trân trối rồi bỏ về.
“Anh không trả lời thì chắc là sự thật rồi đúng không? Yeo Jin Hee nói rằng không thể nuôi nó sao?”
“Tùy em nghĩ thế nào cũng được.”
“Dù sao thì tốt thôi. Anh hãy giao con cho tôi. Thay vào đó tôi có một điều kiện. À, có lẽ anh cũng có điều kiện nên anh hãy nói trước đi.”
“Anh không biết em đang nghĩ gì. Nhưng nếu nhất định phải có điều kiện... thì mong em hãy trở thành người mẹ yêu thương con nhiều hơn, quý trọng con nhiều hơn và hiểu con nhiều hơn. Chỉ thế thôi.”
“Tôi sẽ cố gắng. Thay vào đó thì anh phải làm trước một việc. Anh hãy chuẩn bị giấy cam kết đi. Anh hãy ghi rõ trong giấy cam kết ý định muốn từ bỏ con.”
“Nhất định phải làm thế sao?”
“Tôi nghĩ với những việc như thế này thì càng phải làm rõ ràng. Phải thế thì từ giờ về sau sẽ không có chuyện này chuyện kia nữa.”
“Sẽ không có chuyện gì đâu. Nhưng nếu em cần, để em có thể yên tâm nuôi con thì thế nào anh cũng sẽ viết.”