Bố Con Cá Gai

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8
8

❊ ❊ ❊

Đứa trẻ đang nằm sấp ngoài hiên nhà đọc truyện Bảy viên ngọc rồng. Đó là cuốn thứ bảy, cũng tương ứng số ngày đã trôi qua sau khi họ rời Seoul.

Họ đã trải qua ba ngày ở Bunam, một ngày ở Dae I nơi có động Hwanseon, lại một ngày ở Sabuk tồi tàn như chiếc áo cũ sờn rách, và hôm nay là ngày thứ hai họ lưu lại Sarakgol, Jeongseon. Trong suốt mấy ngày qua, dù có mệt mỏi vì bị sốt nhẹ, nôn mửa rồi tiêu chảy, nhưng đứa trẻ không hề kêu đau đớn. Chỉ riêng điều này cũng làm anh thấy biết ơn.

Giá như có thể thì anh đã muốn nán lại bờ biển nơi đứa trẻ vẫn luôn ao ước thật lâu. Nhưng vì đang là mùa tránh nóng cao điểm, và ở bãi biển họ không thể làm gì khác ngoài việc ngồi dưới ô che nắng nhìn ra ngoài, hơn nữa hoàn cảnh của anh cũng không cho phép họ ở lại lâu trong khu nhà trọ mà phải trả đến sáu mươi nghìn won một ngày. Và với sức khỏe của đứa trẻ thì tìm một nơi thưa thớt người qua lại sẽ tốt hơn là bãi biển đông người.

Lý do...

Sau khi họ ăn xong bữa phụ ở Yeorang, Jeongseon, lúc anh quay trở lại nơi đỗ chiếc xe Grace, đã thấy đứa trẻ ngồi trò chuyện với ông cụ trên tấm phản gỗ dưới bóng cây. Đứa trẻ đang cầm trên tay bắp ngô, có vẻ như được ông cụ cho.

“Bố ơi, ông cho con ngô này. Con ăn có được không ạ?”

Sượt qua đầu ý nghĩ ngô liệu có dễ tiêu hóa không, nhưng rồi anh nhanh chóng tặc lưỡi. Dù đã vô số lần thề rằng sẽ gạt đi mọi điều cấm cản và gây ức chế cho đứa trẻ nhưng rồi lần nào cũng vậy, anh chỉ càng đẩy nó lún sâu hơn vào cái hố ấy.

“Con cảm ơn ông đi đã chứ.”

Ông cụ lắc đầu cười khà khà rồi đáp lời:

“Cháu nó đã cảm ơn tôi đến hơn mười lần rồi. Đúng là đứa trẻ ngoan ngoãn lễ phép hiếm thấy.”

Ông cụ đặt hai chiếc bọc lớn ở dưới chân như thể vừa đi chợ về và đang đứng chờ xe buýt.

“Ông ơi, ông đi đến tận đâu ạ?”

Anh định đi về phía Pyeong Chang còn ông cụ thì đi về hướng ngược lại. Nhưng thật ra đó cũng không phải là nơi nhất định phải đến. Và anh cũng không chắc đến đó có nơi nào để trú ngụ hay không.

“Tôi là lão già lẩm cẩm sống trên núi ấy mà.”

Ông cụ nói rằng ông hái các loại rau rừng hay thuốc rồi mang xuống chợ Yeo Rang bán và cứ mồng mười hay ngày rằm là ông lại đi mua lương thực. Hôm nay ông mải bán hàng quá mà lỡ cả xe buýt.

Về đến nơi, ông cụ đưa cho anh mấy cây linh chi núi bán còn sót lại. Anh từ chối nhưng ông cụ bảo cứ coi như đó là tiền xe. Thấy anh đi du lịch với con trai thế này thật là thích, vừa nói ông cụ vừa mở cửa xe bước ra ngoài.

Từ đằng sau anh nhìn không rời mắt khỏi bóng lưng ông cụ. Ông cụ bước qua cây cầu cắt ngang khe suối và khi đến con đường lồi lõm chưa rải nhựa, anh gọi với theo ông cụ.

“Từ đây còn phải đi thêm bao xa nữa ạ?”

Ông cụ ném ánh nhìn về phía trước và nói ông sống ở phía bên tay phải, tính từ khe suối đến đó phải mất đến gần hai tiếng đồng hồ.

“Nếu xe chạy tới được đó thì con muốn đưa ông về tận nhà.”

Con đường núi kéo dài xuôi theo khe suối, gần đến làng thì bị cắt đứt, thay vào đó là một con đường mòn mà những người sống ở trên núi đã làm nên. Sarakgol, nơi ông cụ muốn tới, từ làng cũng còn phải leo lên dốc núi thêm khoảng ba mươi phút nữa mới tới nơi. Ông cụ bảo vì bình thường vốn sức dẻo dai nên ông sẽ từ từ mà đi cũng được.

Anh vừa hỏi rằng liệu gần đây có nơi nào ở lại được hay không thì ông cụ liền nhìn anh chăm chú.

“Nơi người ở thì sao lại không có nơi nghỉ lại được cơ chứ? Nhưng cũng hiếm khi có người ở lại nơi núi sâu hẻo lánh này.”

“Vì sức khỏe của cháu không tốt nên con đang tìm nơi giúp nó an dưỡng.”

Có lẽ ông cụ cũng đã đoán biết đứa trẻ không được khỏe, ông hỏi thêm điều này điều kia. Anh đều thành thực trả lời.

Sarakgol là nơi núi tiếp núi, tạo nên một vùng núi non trùng điệp, rất thích hợp để điều hòa và hồi phục hệ hô hấp. Ông cụ kể rằng cách đây vài chục năm, khi ông cụ lần đầu tiên đến đây, ở nơi này đã có sáu hộ gia đình làm nương rẫy và sinh sống. Nhưng rồi một hai nhà bắt đầu rời núi mà đi và đến giờ chỉ còn lại một mình ông trơ trọi bám trụ canh giữ núi rừng.

Ông cụ nói rằng anh và đứa trẻ cứ ở lại đây đến bao giờ cũng được và dành cho họ một góc phòng. Dù sao thì ở đây cũng có điện, thế là quá may mắn rồi. Vì dạo này đứa trẻ đang ham mê chơi game trên máy tính.

Cuộc sống trên núi đã bắt đầu như thế. Anh thấy thật mãn nguyện vì bầu không khí trong lành và tươi mát, vì cả mạch nước ngầm trào lên từ giữa những phiến đá, và không có lý do gì đụng phải con người vốn là nguyên nhân gây bệnh. Có lẽ đây chính là mảnh đất nghỉ ngơi cuối cùng được chuẩn bị dành cho họ.

Không biết đứa trẻ cảm thấy thế nào nhỉ? Ở đây nó thường ngẩn ngơ ngước nhìn đỉnh núi. Mới chỉ hai ngày trôi qua. Nhưng đứa trẻ còn quá nhỏ để có thể đón nhận được chiều sâu của tự nhiên. Có lẽ nó đang phải cố gắng nén lại nỗi lưu luyến với cuộc sống nơi thành phố và kiềm chế cảm xúc của mình.

Đứa trẻ đang chậm rãi giở từng trang của cuốn Bảy viên ngọc rồng. Nó cũng không có lý do gì phải vội vàng cả. Mỗi ngày trôi qua thật lề mề, và đứa trẻ có vẻ như cũng nhận ra sự thư thái đến dư thừa của thời gian.

Anh bước xuống sàn nhà phía hiên ngoài với ý định đi dạo cùng đứa trẻ. Vừa hay lúc ông cụ cũng bước ra khỏi phòng, chuẩn bị đi lên núi.

“Nếu chú thấy chán thì hay là cùng tôi lên núi?”

Bảo chán thì có lẽ không phải anh mà là đứa trẻ. Anh đã định nắm tay đứa trẻ và thư thái bước đi trên con đường mòn, nói cho nó biết tên của các loài hoa và chim núi, rồi ngồi tựa lưng vào phiến đá nơi khe suối, hát cho đứa trẻ nghe bài đồng dao mà nó biết. Hoặc nếu không thì cùng đứa trẻ đi quãng đường ba mươi phút xuống làng, tìm đến ngôi trường bỏ hoang cũng thật là thú vị.

“Chú chuẩn bị rồi đi cùng tôi.”

Nhưng anh liền xua tay từ chối, vì phải xa đứa trẻ dù trong giây lát thôi anh cũng không muốn chút nào. Có vẻ đoán được tâm tư của anh, ông cụ quay sang hỏi đứa trẻ. Đứa trẻ hỏi sẽ mất bao lâu, và ông cụ đáp rằng khoảng hai giờ đồng hồ thì sẽ quay lại.

“Bố ơi, bây giờ con sẽ chơi ‘Thời đại hàng hải’. Cho đến khi bố về con sẽ tìm ra Vương quốc Zipang.”

Đứa trẻ đã nhận nhiệm vụ tìm kiếm vương quốc Zipang từ hoàng đế Carlos nước Bồ Đào Nha. Zipang chính là Nhật Bản, trong bối cảnh thời đại của trò chơi thì ở thế kỷ 16 Nhật Bản vẫn còn là một vùng đất xa lạ. Đứa trẻ phải xuất cảng từ Lisbon rồi vượt lên trước hạm đội Tây Ban Nha để tìm ra Nhật Bản.

Phải đến khi ông cụ giục giã thì anh mới rời khỏi nhà.

Cây tần bì, cây bu lô, cây đoan, cây phong, cây sồi, cây bạch dương... Anh hớt hải đuổi theo bóng lưng ông cụ đang phăm phăm len lỏi giữa rừng cây rậm rạp để lên núi. Chưa đi được nổi mười phút anh đã bắt đầu thở hổn hển. Nhưng ông cụ đã ngoài bảy mươi tuổi vẫn chưa một lần thở dốc. Ông quen thuộc và dẻo dai như một con dê núi đang trèo lên những mỏm núi đá. Như thể ông đang đi xuyên qua một cách chính xác khoảng trống của rừng núi.

Lách qua những khoảng trống đó rồi leo lên núi, ông cụ tìm hái các loại nấm và thảo dược rồi bỏ vào trong chiếc bao tải mang theo bên mình. Dường như từng động tác của ông đều hài hòa một cách hoàn hảo với núi rừng, và tự lúc nào có một cảm giác thật thần bí, như thể ông đã hòa vào thành núi rừng vậy.

Chờ anh bị tụt lại phía sau hồi lâu, rồi lại mải miết leo lên thêm mấy chặng nữa, phải tận khi lên đến đỉnh núi ông cụ mới chịu tìm chỗ nghỉ ngơi. Sau khi anh lấy lại sức, ông cụ mở lời:

“Từ mai chú hãy chăm chỉ lên núi, dựa vào núi mà sống.”

“Hoàn cảnh của con không thể làm thế được ông ạ.”

“Chẳng phải bệnh viện người ta đã nói không thể làm được gì nữa hay sao?”

Anh gật đầu thay cho câu trả lời, còn ông cụ thì thở dài.

“Thật là đáng tiếc.”

Ông cụ nhìn xuống núi một hồi lâu. Còn anh thì vô tình đạp trúng, làm gẫy mất một cành cây.

Những ngọn gió thổi đến quấn lấy đỉnh núi rồi lắc lư. Một chú chim sẻ thông vội vã vỗ cánh bay từ bên này sang bên kia thung lũng. Ở dưới kia, nơi góc núi, chỉ còn lại một mình đứa trẻ trong căn nhà hiu quạnh hẻo lánh.

“Tôi đến ở tận cái nơi núi rừng này, thật ra cũng có lý do riêng.”

Ông cụ đã ra vào nơi hầm mỏ từ khi mười tám tuổi. Cho đến khi số lần đi lang thang trong các hầm mỏ nằm rải rác ở Gohan, Sabuk, Taebaek đã bằng gần nửa cuộc đời ông thì có một điều không hay xảy ra.

Ông thở khó nhọc và toàn thân thì mệt lử, còn chân tay rời rã đến mức không muốn cử động. Cơ thể sưng phù và sút cân, những cơn ho dữ dội kèm theo đờm thì cứ nặng dần lên, khiến khuôn mặt ông ngày một thêm xanh xao. Đó là chứng bệnh bụi phổi, căn bệnh kinh khủng do bụi than chồng chất khiến cho phổi bị cứng lại.

Ông đã nhập viện điều trị trong suốt hơn một năm, nhưng căn bệnh không hề có dấu hiệu thuyên giảm. Bệnh bụi phổi là chứng bệnh nan y hoàn toàn không có cách nào chữa khỏi. Chỉ có thể áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa biến chứng và phòng ngừa bệnh diễn biến xấu đi một cách nhanh chóng mà thôi.

Ông chỉ muốn xuất viện. Ông không có lý do gì ở lại bệnh viện để chờ đợi cái chết cả. Hoàn cảnh gia đình ông khi ấy vô cùng khó khăn, tiền học cho các con rồi còn sinh hoạt phí của cả gia đình, tất cả đều trông chờ vào đồng lương công nhật ít ỏi ngày ngày người vợ chật vật mang về. Cuộc sống vốn đã khốn khó, ông thấy thật vô liêm sỉ nếu bắt người vợ cực nhọc phải vất vả chăm sóc bệnh tật cho cả mình nữa.

Hơn một tháng sau khi xuất viện, ông đã viết một bức thư coi như di chúc rồi đi khỏi nhà. Ông mang theo một đấu gạo và một bát đậu tương rồi đến Sarakgol, tự khoét cho mình một căn hầm trên triền núi. Ông đã ở trong căn hầm giống như ngôi mộ ấy, chờ đợi cái chết sau khi leo lắt sống hết cuộc sống như ngọn nến trước gió.

Đến lúc một đấu gạo đã hết sạch mà sự sống vẫn chưa kết thúc, thì thay vì cái chết, cái đói lại trở thành vấn đề hết sức cấp thiết. Ông đã xoa dịu cái bụng đói khát bằng các loại quả và nấm tìm được xung quanh. Đôi khi người dân Sarakgol lại cho thêm ông ít lương thực như khoai tây hay hạt kê. Một người bán dược thảo nói rằng độc xà là tốt nhất cho bệnh phổi nên ông cũng đã nấu xúp rắn để ăn nữa.

Dần dần cơ thể ông có sự thay đổi. Hồi đầu, khi mới đến Sarakgol, ngay cả quãng đường ngắn đi xuống khe suối để uống một ngụm nước cũng khiến ông phải dừng lại đến mấy chục lần mà thở dốc. Nhưng rồi thời gian càng trôi đi, số lần ông phải nghỉ ít dần, và hy vọng sống của ông càng lớn hơn. Thế rồi ông bắt đầu ăn tất cả những thứ có thể ăn được. Hái được chút dược thảo rau rừng nào ông ăn ngay thứ đó, và còn đặt bẫy để bắt thú rừng nữa. Đặc biệt ông không còn gì vui mừng hơn nếu nhìn thấy rắn.

Bốn tháng trôi qua, sức khỏe của ông đã hồi phục đến mức còn có thể theo người hái thuốc đi lên núi. Thật là một việc đáng ngạc nhiên. Vậy mà mới trước đó mấy tháng, vào thời điểm xuất viện phổi của ông đã bị xơ cứng đến hơn 60% và y học hiện đại cũng phải bó tay. Ông xuống núi tìm về nhà. Khi mà người thân trong gia đình đã hoàn toàn mất hy vọng, lần theo những tung tích cuối cùng chỉ mong tìm được thi thể nếu ông đã chết, thì điều này chẳng khác nào người từ cõi chết trở về.

“Tôi đã phải đến bệnh viện ngay. Tôi muốn xác nhận rằng có đúng thật là mình sống được hay không. Nhưng mà chú có biết bệnh viện người ta nói như thế nào không? Rằng nếu không nhập viện ngay thì sẽ nguy hiểm đấy.”

Thay vì nhập viện thì ông cụ quay trở lại Sarakgol, và suốt mấy chục năm qua ông đã sống ở sâu trong núi chỉ với 40% chức năng phổi. Nhưng rồi tự lúc nào đó, quen với núi rừng, ông đã trở nên rắn rỏi đến độ chưa một lần bị cảm cúm. Và bằng việc bán dược thảo, ông đã lo được cho cả hai đứa con đi học đại học, vậy là xem như đã hoàn thành được nghĩa vụ tối thiểu của người trụ cột gia đình.

Trong khi nghe câu chuyện của ông cụ, anh không ngừng suy nghĩ. Lý do hồi phục của ông cụ là gì? Liệu có phải là do tác dụng thần kỳ của dược thảo mà ông đã ăn ngay khi vừa mới hái lên hay không?

Trong lòng anh không thừa nhận điều đó. Đó chỉ là ngẫu nhiên, chỉ là một loại may mắn mà thôi. Như thể tin đồn ảo tưởng vọng đến từ một nơi xa xôi. Đã có quá nhiều những tin đồn thất thiệt không có căn cứ như thế, rằng cái này rồi cái kia có hiệu quả đặc biệt đối với những bệnh nhân mắc bệnh nan y.

Rõ ràng là anh đã đón nhận câu chuyện của ông cụ hết sức hoài nghi. Giống như phản ứng khi nghe những chuyện kiểu người ta xào giòi lên ăn, hay đun loại dược thảo nào đó trong một loại nước nào đó mấy lần rồi uống và gọi đó là một phương pháp chữa bệnh dân gian, hay uống thần dược do một vị thần y dồn mọi tâm huyết chuyên chú nghiên cứu thảo dược để tìm ra, lại nữa, hay là tìm đến một chốn cầu nguyện nơi có một bậc cao nhân sở hữu năng lực phi thường, có thể chữa khỏi những căn bệnh nan y...

Bệnh nan y đơn giản chỉ là bài toán mà nền y học hiện đại chưa tìm ra lời giải. Giống như người ta đã khắc phục được bệnh dịch hạch hay bệnh đậu mùa từng biến thời Trung cổ thành một thời kỳ tăm tối, thì một lúc nào đó, cái ngày mà người ta có thể dễ dàng đẩy lùi căn bệnh máu trắng nhất định cũng sẽ đến. Đúng vậy. Thà rằng hãy giận dữ vì sự bất lực hiện tại của y học hiện đại, còn hơn là nghi ngờ vào bản thân nền y học ấy.

“Tôi không dám quả quyết là có thể cứu sống đứa trẻ. Nhưng mà không phải là hoàn toàn không còn cách. Từ ngày mai chú hãy cùng tôi đi đào dược thảo và bắt rắn.”

Anh nhã nhặn từ chối lời đề nghị của ông cụ.

Anh đã sớm chấp nhận cái chết của đứa trẻ. Anh không muốn thừa nhận nhưng đó là sự thật. Và điều mà đứa trẻ mong muốn ngay lúc này chỉ là có bố ở bên cạnh. Điều mà anh mong muốn cũng chính là không phải rời xa đứa trẻ, và có thể kéo dài một phút thành một giờ đồng hồ, có thể xem một ngày như một năm mà sống.

Nhưng ngay ngày hôm sau, anh đã bắt đầu theo ông cụ lên núi.

Không phải xuất phát từ lý do anh tin vào sự hồi phục của ông cụ đến mức phải thay đổi suy nghĩ của mình. Sự thật là câu nói của ông cụ rằng có thể cứu sống đứa trẻ là một cám dỗ mãnh liệt, khiến cả đêm anh băn khoăn không ngủ, nhưng không phải ngay từ đầu anh đã có ý nghĩ sẽ dốc sức đuổi theo cám dỗ ấy.

Buổi chiều hôm qua, ông cụ đã lấy nấm tùng và nấm đông cô ra để chuẩn bị cho bữa tối. Nêm nếm một chút tương ớt rồi xào nấm trong chảo. Anh chưa hề biết rằng đứa trẻ cũng thích ăn nấm như thế. Trước giờ đứa trẻ chưa bao giờ xin thêm cơm, thế mà lần này nó đã ăn một mạch hết veo hai bát cơm.

Điều này thật đáng ngạc nhiên. À không, điều này phải nói là khiến anh biết ơn và vui mừng đến rơi nước mắt. Đúng như người ta đã nói về tấm lòng cha mẹ, chỉ cần nhìn con mình ăn thôi đã thấy no rồi...

“Bố ơi, nấm ngon hết sảy ạ. Giá mà ngày nào cũng được ăn thì tốt biết mấy.”

Có vẻ như thế đã đủ là lý do rõ ràng để anh phải lên núi.

Nấm đông cô, nấm bụng râu, nấm sò, nấm hương, nấm tùng, nấm bông... Anh chỉ mải miết đi lang thang trong núi tìm nấm. Thế nhưng lòng anh lại thấy nặng trĩu. Cái suy nghĩ rằng đứa trẻ đang ngồi thu lu ngoài hiên nhà chờ đợi làm anh cứ chốc chốc lại đưa mắt nhìn xuống phía dưới núi.

Ngày thứ hai lên núi, đang đi phía trước, ông cụ gọi anh và bảo:

“Chú biết đây là cái gì không? Là khúc cây thủy tùng sống cả nghìn năm, chết cũng đã nghìn năm, mà truyền thuyết kể rằng giúp ngăn ngừa tai ương đấy. Thế nên anh hãy mang nó về đặt trong phòng đi.”

Đứa trẻ xem xét hết chỗ này chỗ kia trên khúc cây thủy tùng có màu bàng bạc rồi nói:

“Con có thể làm gì nó tùy ý đúng không ạ?”

“Đương nhiên rồi.”

“Nếu vậy thì con sẽ làm đồ chơi. Bố cho con mượn dao xếp đa năng với.”

Anh sờ thử khúc gỗ thì thấy nó khá mềm nên điêu khắc rất thích hợp. Nhưng nếu lỡ đứa trẻ cắt vào tay thì nguy to. Vì đứa trẻ thiếu tiểu cầu nên nếu bị thương có thể sẽ rất khó cầm máu.

Anh liền ngay lập tức cùng đứa trẻ đến Yeorang mua một bộ dao điêu khắc và giấy nhám. Nếu nghĩ về quãng thời gian còn lại thì làm quen với thứ mới lạ quả là một việc vô nghĩa. Tuy nhiên, anh đã mong mỏi thiết tha rằng đứa trẻ sẽ say mê điêu khắc, và quả nhiên đứa trẻ đã chăm chỉ điêu khắc hơn là đọc truyện Bảy viên ngọc rồng hay chơi game Thời đại hàng hải.

Vậy là anh bắt đầu tìm những miếng gỗ mang cho đứa trẻ như chim mẹ tha mồi về tổ mớm cho chim con. Đứa trẻ đã làm quen dần với việc gọt đẽo rồi đánh giấy nhám cho tới khi miếng gỗ nhẵn bóng lên, và chẳng mấy chốc đã cho thấy có năng khiếu nổi trội trong việc này.

Đó là tuần đầu tiên anh loanh quanh tới lui trong thung lũng và sườn núi.

Lên gần tới đỉnh núi Pakji, có hai tảng đá nằm tựa lưng vào nhau, tạo nên một không gian hình chữ “nhân” vừa đủ cho một người chui vào ngồi trong đó. Có vẻ là chỗ lý tưởng để trú mưa, nghĩ vậy anh toan đi ngang qua, nhưng rồi bỗng một thứ gì đó lôi cuốn ánh nhìn của anh. Đó là xương của một loài thú lớn. Hình dáng của bộ xương vẫn còn nguyên vẹn, phần xương đầu gác lên trên chân và hướng ra bên ngoài.

Có lẽ là một con voi già yếu tự biết mình đã tới những giây phút cuối cùng, bèn tách khỏi đàn, hướng tới hang này để từ từ đón nhận cái chết, trong khi nhìn về thế gian vẫn đang tiếp tục ăn uống và sinh sôi.

Lẽ ra anh đã định đi qua thật nhanh. Nhưng anh cố lấy lại tinh thần và nhìn về phía bộ xương của con thú, và một nỗi buồn từ bên trong anh tỏa ra như làn khói. Vì chính anh dường như cũng phiêu bạt đến Sarakgol này để tìm nơi đón nhận cái chết.

“Một con hươu.”

Giọng nói vang lên từ phía sau lưng anh, không biết ông cụ đã đứng đó từ lúc nào.

“Nhìn xương của nó còn nguyên vẹn không bị rải rác tứ phía thế này thì có vẻ như nó không hề bị các động vật khác làm hại mà thịt cứ thế rữa khỏi lớp xương thì phải. Được chừng này thì đúng là thứ hàng tốt nhất rồi. Nấu xương hươu thành cao thì sẽ được cao hươu, có hiệu quả tức thì với bệnh viêm xương cốt đấy.”

Ông cụ nói thêm, hẳn là uống thuốc kháng sinh trong thời gian dài đã làm cho xương cốt của đứa trẻ bị yếu đi, thấy anh thường xuyên nắn bóp tay chân cho đứa trẻ thì ông hiểu ra ngay nên vẫn đang đế ý kiếm xương hươu bấy lâu nay.

Ông cụ cẩn thận nhặt từng mảnh xương của con hươu rồi cho vào bao, như một chuyên viên khám nghiệm lão luyện bước vào hiện trường vụ án. Hình ảnh sau cùng đầy tội nghiệp của con hươu cứ chập chờn xuất hiện trước mắt làm anh muốn thử ngăn ông cụ lại nhưng không được.

Ông cụ bảo với đứa trẻ đây là nước cốt xương bò hầm và cho nó ăn một ngày mấy bữa cao hươu. Và đúng là hiệu quả tức thì y như lời ông cụ nói, chỉ sau ba bốn ngày, cơn đau ở tay và chân đã thôi không còn hành hạ đứa trẻ nữa.

Không chỉ có vậy. Khuôn mặt đứa trẻ cũng đang khác đi từng ngày, dần dần nó đã có da có thịt hơn, da dẻ cũng trắng trẻo hồng hào. Nó đã ăn ngon miệng hơn, không bị nôn mửa hay tiêu chảy, các triệu chứng như sốt cao đột ngột hay chảy máu chân răng và co giật cũng không xuất hiện nữa. Nó cũng không còn trằn trọc trở mình rồi tỉnh giấc nhiều lần giữa đêm như trước.

Thật là đáng ngạc nhiên. Tuy không phải khỏi hoàn toàn mà chỉ là số lượng tế bào ung thư máu trắng đã giảm xuống. Như vậy cũng có nghĩa đứa trẻ đang ôm trong mình một quả bom hẹn giờ, chẳng biết khi nào sẽ trở nên tồi tệ. Nhưng rõ ràng là đứa trẻ đã không còn dáng vẻ kiệt quệ như trước kia.

Hay là khả năng nhận định của anh đã cùn mòn mất rồi, cả ngày cứ chốc chốc anh lại lắc đầu nghi ngờ. Mỗi lần như thế, anh lại đưa tay thử mân mê vành tai của đứa trẻ. Nếu hạch bạch huyết dưới tai sưng lên thì dấu hiệu bệnh được cải thiện trông thấy trước mắt chỉ là hão huyền.

Nhưng mỗi khi chạm vào đứa trẻ bằng bàn tay run rẩy, anh lại hồi hộp không biết liệu rằng đứa trẻ có thể hồi sinh như một kỳ tích hay không. Anh chỉ muốn chạy ngay đến bệnh viện để kiểm tra tình trạng của đứa trẻ.

Chỉ cần không đánh mất hy vọng, con người sẽ không chết.

Suốt một thời gian dài anh đã quên điều này. À không, suốt một thời gian dài anh đã phủ nhận cái sự thật ác nghiệt ấy đi. Anh chỉ mong sao đứa trẻ có thể đón nhận giây phút sau cùng không đau đớn. Nhưng đứa trẻ đang ngày càng khỏe lên. Giờ đây, ai nhìn vào cũng thấy nó chẳng khác nào một đứa trẻ bình thường, cả ông cụ cũng công nhận điều đó.

“Chắc là ông Trời đã cảm động trước tấm lòng thành của chú đấy.”

Nghe ông cụ nói vậy, anh bắt đầu quyết tâm vào núi kiếm thức ăn thức uống cho đứa trẻ. Suốt cả ngày anh lang thang trong núi tìm thảo dược, rồi để hái tam chi cửu diệp thảo, anh đã treo mình trên cả vách đá dốc đứng mà không biết mệt mỏi. Hễ nhìn thấy rắn độc là anh lập tức vươn tay ra bắt không hề sợ hãi.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Cho Chang-in

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.