Mí mắt tôi cuối cùng cũng trở nên nặng trĩu vì buồn ngủ, đến mức tôi biết rằng ngoài mặt đất lúc ấy chắc hẳn đã là ban đêm; thế rồi chúng tôi dừng chân, và tôi nằm dài trên sàn cẩm thạch — nhân tiện xin nói thêm là mặt sàn này ấm áp một cách dễ chịu dưới thân chúng tôi; không khí ở đây cũng mang lại sự dễ chịu kỳ lạ cho lồng ngực, hoàn toàn không hề có thứ mùi của đất và hơi ẩm vốn rất quen thuộc trong những căn phòng ngầm rộng lớn.
Giấc ngủ của tôi kéo dài và rất sảng khoái; tuy nhiên, Bulger đã thức từ lúc nào khi tôi ngồi dậy và cố gắng nhìn ngó xung quanh.
Nó bắt đầu giật giật sợi dây mà tôi đã buộc vào vòng cổ của nó như thể muốn dẫn tôi đi đâu đó, thế là tôi chiều ý nó và đi theo sau. Thật vui mừng làm sao, nó dẫn thẳng tôi đến một vũng nước ngọt mát và ngon lành đến tuyệt vời. Ở đây, chúng tôi uống thỏa thuê, và sau một bữa sáng vô cùng đạm bạc với vài quả vả khô, chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình dọc theo Con đường Cẩm thạch.
Đột nhiên, điều còn tuyệt vời hơn cả niềm vui của tôi là ánh sáng yếu ớt và bấp bênh nơi đây bắt đầu mạnh dần lên. Chà, dường như ban ngày của thế giới trên mặt đất sắp sửa bắt đầu, những sắc thái khác nhau mà ánh sáng ngày càng dâng trào khoác lên mình thật thanh nhã làm sao; rồi, như thể sợ hãi trước vẻ rực rỡ đang lớn dần của chính mình, nó lại mờ dần đi gần như chìm vào bóng tối.
Chẳng mấy chốc, ánh sáng mờ ảo và kỳ bí này lại quay trở lại, bắt đầu bằng sắc vàng dịu dàng nhất, rồi chuyển qua hàng chục tông màu khác nhau, và giống như một thiếu nữ đồng bóng chẳng biết nên mặc chiếc váy nào, nó dẹp hết tất cả để khoác lên mình bộ cánh của loài hoa huệ.
Bulger và tôi bước đi dọc theo Con đường Cẩm thạch, hầu như không dám phá vỡ sự tĩnh lặng sâu đến mức tôi có cảm giác như mình có thể nghe thấy những tia sáng đùa giỡn ấy đang nô đùa cùng những vách đá muôn màu tạo thành vòm cho hành lang hùng vĩ này.
Bấy giờ, khi Con đường Cẩm thạch uốn lượn theo một đường cong duyên dáng, một luồng ánh sáng chói lọi bỗng tràn ngập lấy chúng tôi.
Đó là lúc mặt trời mọc ở Thế giới trong lòng thế giới.
Luồng ánh sáng chói lọi này từ đâu đến mà nay lại khiến cho các bức tường và mái vòm tỏa sáng rực rỡ như thể chúng ta vừa bước vào một trong những kho tàng đá quý được mài giũa khổng lồ của Tự nhiên vậy? Lấy tay che mắt, tôi nhìn xung quanh để cố gắng giải mã điều bí ẩn này.
Tôi chẳng mất nhiều thời gian để hiểu ra tất cả. Vậy thì xin thưa với các bạn thân mến, trần nhà, các mái vòm và mái cong của thế giới ngầm này được chạm trổ bằng một loại kim loại có độ cứng lớn hơn bất kỳ loại kim loại nào mà chúng ta, những đứa con của ánh mặt trời, từng biết tới. Các đường gân của nó đan xen chằng chịt như gân của những chiếc lá khổng lồ; và vào những thời điểm nhất định, dòng điện từ một hồ chứa ngầm khổng lồ do chính bàn tay Tự nhiên tạo dựng đã chạy qua các đường nét kim loại này cho đến khi chúng phát sáng với một thứ nhiệt độ trắng ngóa, tỏa ra luồng ánh sáng chói lọi mà tôi vừa nhắc đến.
Dòng điện ấy không bao giờ ập đến một cách đột ngột hay bùng nổ, mà bắt đầu một cách nhẹ nhàng và có phần rụt rè, giống như đang dò dẫm bước đi vậy. Do đó mới có những sắc thái tuyệt đẹp luôn báo hiệu trước bình minh ở thế giới bên dưới này, khiến nó giống hệt với khoảnh khắc ánh dương rực rỡ của chúng ta xuất hiện rồi lui đi.
Con đường Cẩm thạch bấy giờ chia làm hai ngả, và hai nhánh rẽ uốn cong sang phải và trái bao bọc lấy một công viên nhỏ nhưng được trang trí vô cùng tinh xảo — hay tôi có thể gọi là một khu đất giải trí — được trang bị những chiếc ghế làm bằng một loại gỗ tối màu được chạm khắc và đánh bóng đẹp đẽ. Công viên này được tô điểm bằng bốn đài phun nước, mỗi đài tuôn ra từ một bồn pha lê và xòe rộng thành những tia nước li ti lấp lánh như tuyết đang xoay vũ trong ánh sáng trắng lóa. Khi Bulger và tôi hướng bước chân về phía một chiếc ghế dài với ý định nghỉ ngơi thật thoải mái, một tiếng gầm gừ trầm đợt từ nó đã cảnh báo tôi phải cảnh giác. Tôi nhìn lại lần nữa.
Một con người đang ngồi trên chiếc ghế dài.
Dù bản thân tôi đang tột cùng tò mò muốn được giáp mặt với cư dân của thế giới ngầm này — người đầu tiên chúng tôi gặp — tôi vẫn dừng bước, quyết tâm xác định cho kỳ được xem liệu anh ta có hoàn toàn vô hại hay không trước khi đến bắt chuyện.
Anh ta có vóc dáng nhỏ bé, khoác toàn một bộ đồ đen, giống như một thứ áo choàng rộng thùng thình tựa như chiếc áo toga của người La Mã. Đầu anh ta để trần, và phần tôi có thể nhìn thấy thì tròn, nhẵn nhụi và hồng hào, với lượng tóc — hay đúng hơn là lớp tơ mịn — trên đầu chỉ tương đương với một đứa trẻ sơ sinh sáu tuần tuổi. Guơng mặt anh ta bị che khuất bởi một chiếc quạt màu đen cầm trên tay phải, và công dụng của nó thì các bạn sẽ được biết sau.
Đôi mắt anh ta được che chắn khỏi thứ ánh sáng chói gắt bằng một cặp kính màu. Khi anh ta giơ tay lên giữa tôi và ánh sáng, tôi không khỏi kìm nổ tiếng thở dốc. Tôi có thể nhìn xuyên qua bàn tay ấy: xương trong suốt như hổ phách. Và đầu anh ta cũng chỉ kém mờ đục hơn một chút mà thôi.
Đột nhiên, hai từ trong bản thảo của Don Fum lóe lên trong đầu tôi, và tôi vui sướng thốt lên,—
“Bulger, chúng ta đang ở Xứ sở của những Người Trong suốt!”
Nghe tiếng tôi, người đàn ông nhỏ bé liền đứng dậy cúi đầu chào thật thấp, hạ chiếc quạt trước ngực nơi ông đang cầm nó. Gương mặt trẻ con của ông mang một vẻ buồn bã và trang nghiêm đến buồn cười.
“Vâng, thưa Ngài Lữ khách,” ông nói bằng một giọng trầm ấm, du dương, “ngài quả thực đang ở Xứ sở của người Mikkamenkies (Người Mica), ở Xứ sở của những Người Trong suốt, còn được gọi là Xứ sở Kính mắt; nhưng nếu ta cho ngài xem trái tim mình, ngài sẽ thấy ta vô cùng đau đớn khi nghĩ rằng mình lại là người đầu tiên chào đón ngài, bởi xin thưa với ngài lữ khách, ngài đang nói chuyện với Master Cold Soul, Quan Nhiếp tâm của Triều đình, người buồn bã nhất ở xứ sở Kính mắt này, và nhân tiện đây, thưa ngài, cho phép tôi được tặng ngài một cặp kính và cả một cặp cho người bạn bốn chân của ngài nữa, vì ánh sáng trắng chói gắt của chúng tôi sẽ làm cả hai ngài mù đi chỉ trong vài ngày tới.”
Tôi cảm ơn Master Cold Soul rối rít vì cặp kính, rồi tiến hành đeo một cặp lên sống mũi mình và buộc cặp kia trước mắt Bulger. Sau đó, với thái độ lịch sự nhất, tôi cho Master Cold Soul biết tôi là ai và khẩn khoản xin ông giải thích nguyên nhân nỗi buồn sâu sắc của mình.
“Chà, ngài Nam tước nhỏ phải biết rằng,” ông nói, sau khi tôi đã ngồi xuống chiếc ghế dài cạnh ông, “chúng tôi, những thần dân yêu dấu của Nữ hoàng Galaxa — người có trái tim hoàng gia nay đã gần như cạn kiệt năng lượng — xin lỗi vì những giọt nước mắt này nhé, sống trong thế giới xinh đẹp này, nơi hoàn toàn không giống với thế giới mà các ngài đang ở — mà các nhà thông thái của chúng tôi bảo rằng, thật kỳ lạ làm sao, lại được xây dựng ngay trên lớp vỏ ngoài cùng của trái đất, nơi phải chịu đựng trọn vẹn những trận tuyết mù mịt, gió rét căm căm, mưa đá xối xả, mưa ngập lụt và bụi mù mịt — sống trong ngôi đền rộng lớn do chính tay Tự nhiên dựng nên này, nơi bệnh tật là điều không tưởng, và nơi trái tim chúng tôi cứ cạn dần như những chiếc đồng hồ chỉ có thể lên dây cót một lần, chúng tôi rất dễ — ôi chao — trở nên quá hạnh phúc; cười quá nhiều; dành quá nhiều thời gian cho sự vui vẻ vô bổ, trò chuyện qua ngày như những đứa trẻ vô tư thích thú với những món đồ chơi rẻ tiền, mê mẩn những thứ vô nghĩa mạ vàng. Vậy nên, thưa ngài Nam tước nhỏ, nhiệm vụ của tôi là kìm hãm niềm vui này, chấm dứt sự hớn hở trẻ con ấy, làm chùng tinh thần thần dân của chúng ta xuống, kẻo họ vui mừng quá trớn. Do đó mới có bộ trang phục màu mực tàu này, nét mặt ủ dột của tôi, những giọt nước mắt chực trào, và giọng nói luôn mang âm hưởng buồn bã. Xin lỗi ngài, Nam tước nhỏ, chiếc quạt của tôi vừa tuột; ngài có nhìn xuyên qua người tôi không? Tôi không muốn ngài nhìn thấy trái tim tôi vào ngày hôm nay đâu, vì bằng cách này hay cách khác, tôi không tài nào bắt nó đập chậm lại được; nó thật sự quá ư bất kham.”

Tôi trấn an ông rằng tôi vẫn chưa nhìn xuyên qua người ông.
Và giờ đây, các bạn thân mến, tôi phải giải thích rằng theo luật pháp của người Mikkamenkies, mỗi người đàn ông, phụ nữ và trẻ em đều phải khoét trên trang phục của mình một lỗ hình trái tim ở trước ngực ngay vị trí trái tim họ, kèm theo một lỗ tương ứng ở phía sau; nhờ đó, dưới những điều kiện nhất định khi luật pháp cho phép, mỗi người sẽ có quyền nhìn vào trái tim của người láng giềng và xem chính xác nó đang đập thế nào — nhanh hay chậm, rung rập hay nhảy múa, hay đang phập phồng bình tĩnh và tự nhiên. Nhưng đặc quyền này chỉ được ban phát, như tôi đã nói, dưới những điều kiện nhất định; do đó, để ngăn chặn những cái liếc mắt tò mò, mỗi người Mikkamenkies đều được phép mang theo một chiếc quạt màu đen dùng để che cái lỗ hình trái tim được miêu tả ở trên, và bằng cách này che giấu phần nào cảm xúc của mình. Tôi nói là phần nào, vì tôi có thể bật mí cho các bạn ngay tại đây rằng sự dối trá là điều không có thật, hay nói chính xác hơn là bất khả thi ở xứ sở của những Người Trong suốt, bởi vì đôi mắt của họ quá trong trẻo, trong vắt và tựa pha lê đến mức ngay cả nỗ lực nhỏ nhất muốn nói một đằng trong khi nghĩ một nẻo cũng sẽ làm đôi mắt ấy vẩn đục và mờ đi như thể vừa có một giọt sữa nhỏ vào ly nước tinh khiết nhất.
Khi tôi ngồi ngắm nhìn sinh vật kỳ lạ đang ngồi trên chiếc ghế dài bên cạnh mình ấy, tôi chợt nhớ đến cuộc trò chuyện mà tôi từng có với một học giả người Nga ở Solvitchegodsk. Khi nói về người dân của mình, ông ấy đã bảo rằng, “Tất cả chúng tôi sinh ra đều có tóc sáng màu, đôi mắt tinh anh và khuôn mặt tái nhợt, bởi vì chúng tôi lớn lên dưới lớp tuyết trắng.” Và tôi thầm nghĩ không biết ông ấy sẽ thích thú và say mê biết bao nếu được ngắm nhìn sinh vật kỳ lạ này — kẻ không sinh ra dưới tuyết, mà ở sâu dưới lòng đất, nơi trong những căn phòng rộng lớn của Thế giới trong lòng thế giới này, tộc người kỳ lạ ấy, giống như những loài cây mọc trong căn hầm tối tăm và sâu thẳm, đã dần rũ bỏ mọi màu sắc cho đến khi đôi mắt họ rực sáng như những khối pha lê tinh khiết, cho đến khi xương cốt họ được tẩy trắng đến độ trong suốt như hổ phách, và dòng máu của họ chảy không màu qua những mạch máu không màu.
Trong lúc tôi đang ngồi thả hồn theo dòng suy nghĩ đó, luồng ánh sáng trắng trong bỗng bắt đầu chập chờn và chơi những trò nghịch ngợm kỳ quái trên các bức tường bằng cách nhảy múa trong những bộ cánh mang màu sắc thay đổi không ngừng: khi thì vàng rực nhất, lúc lại xanh nhạt nhất, khi là sắc tía huy hoàng, lúc lại đỏ thẫm khẩn thiết.
“A, thưa ngài Nam tước nhỏ!” Master Cold Soul kêu lên, “Đó là một ngày ngắn ngủi chưa từng thấy. Xin mời ngài đứng dậy.”
Tôi vội vã vâng lời, thế là ông chạm vào một chiếc lò xo và chiếc chiếc ghế dài liền tách đôi ở chính giữa, để lộ ra hai chiếc giường vô cùng thoải mái.
Một bữa tối được chuẩn bị dễ dàng biết bao.
“Chẳng mấy chốc nữa màn đêm sẽ buông xuống,” người Mikkamenky nói tiếp, “nhưng ngài thấy đấy, chúng ta không hề bị bất ngờ. Tôi phải giải thích với ngài, Nam tước nhỏ, rằng do tính thất thường của dòng Sông Ánh Sáng — thứ vốn hay bắt đầu và ngừng chảy một cách bất chợt — chúng ta không bao giờ có thể đoán trước một ngày hay một đêm sẽ kéo dài bao lâu. Đây là điều mà chúng tôi gọi là chạng vạng. Ở thế giới của ngài, tôi đoán là ban ngày kết thúc với một tiếng động kinh hoàng, vì các nhà thông thái của chúng tôi bảo rằng ở thế giới trên mặt đất, không thể làm việc gì mà không gây ra tiếng động; rằng người dân của các ngài thực sự rất thích tiếng ồn; và ai tạo ra tiếng ồn lớn nhất thì được coi là người vĩ đại nhất.
Do một thực tế, thưa Nam tước nhỏ, là không ai ở xứ sở Kính mắt có thể biết ngày sẽ kéo dài bao lâu, hay việc ngủ sẽ cần thiết trong bao lâu, nên luật pháp của chúng tôi không cho phép bất kỳ ai ấn định thời gian chính xác cho một việc phải làm, hay bắt buộc phải hứa hẹn làm cái này cái nọ vào một ngày cụ thể nào đó — vì, Chúa phù hộ ngài, ngày hôm ấy có lẽ còn chưa dài nổi mười phút. Thế nên chúng tôi mới nói rằng: ‘Nếu ngày mai dài hơn năm tiếng, hãy đến gặp tôi vào đầu giờ thứ sáu;’ và chúng tôi không bao giờ chúc nhau một câu chúc ngủ ngon đơn giản, mà thường bảo: ‘Chúc ngủ ngon, chừng nào nó còn kéo dài.’
Hơn thế nữa, thưa Nam tước nhỏ, vì ban đêm có xu hướng ập đến với chúng ta bất ngờ như vậy, theo luật định, tất cả các chiếc giường đều thuộc về nhà nước; không ai được phép sở hữu riêng giường của mình, bởi vì khi màn đêm buông xuống, anh ta có thể đang ở tận đầu bên kia thành phố, và một thần dân khác của Nữ hoàng Galaxa có thể đang đứng trước cửa nhà anh ta; và bất kể màn đêm bắt gặp một người Mikkamenky ở đâu, anh ta chắc chắn sẽ tìm thấy một chiếc giường. Giường có ở khắp mọi nơi. Chỉ cần chạm vào một lò xo là chúng rơi xuống từ tường, chúng kéo ra như những ngăn kéo, chúng nằm dưới gầm bàn và ghế bành, trong công viên, ngoài chợ, bên vệ đường; những chiếc ghế dài, thùng rác, hộp các-tông, xe cút kít và thùng phuy chỉ cần ấn một lò xo là ngay lập tức có thể biến thành giường. Đó là Xứ sở của những Chiếc giường, thưa ngài Nam tước nhỏ. Nhưng ôi! Kìa, hoàng hôn đã đi đến hồi kết. Chúc ngủ ngon chừng nào nó còn kéo dài!” và nói dứt lời, Master Cold Soul nằm dài ra và bắt đầu ngáy, trước đó không quên cẩn thận che kín hai cái lỗ ở phía trước và phía sau trang phục của mình, để tôi không có cơ hội liếc xuyên qua người ông trong trường hợp tôi tỉnh dậy trước. Bulger và tôi vô cùng mừng rỡ khi được đặt chân tay lên một chiếc giường thực sự, mặc dù qua cách mà người anh em bốn chân của tôi cứ quay mòng mòng đuổi theo cái đuôi của nó, tôi có thể thấy rằng nó không mấy hào hứng lắm với độ êm ái của chiếc nệm này.