Và chắc hẳn, các bạn thân mến, các bạn sẽ rất muốn nghe đôi điều về lịch sử thời kỳ đầu của người Soodopsy: họ là ai, họ đến từ đâu, và cơ duyên nào đưa họ tìm được đường xuống Thế giới trong Thế giới.
Ít ra, đó cũng là cảm xúc của tôi sau khi được diện kiến bậc thông thái Barrel Brow; thế nên, trong lần ghé thăm tiếp theo, tôi đã kiên nhẫn đợi ông đọc xong bốn cuốn sách đặt trước mặt, rồi mới lên tiếng:
“Kính xin Bậc thầy hiền triết kể cho tôi nghe đôi điều về lịch sử thuở ban đầu của dân tộc ngài, và giải thích vì sao họ lại tìm đường đi xuống thế giới ngầm này.”
“Từ rất rất nhiều thời đại trước,” nhà hiền triết Barrel Brow viết, “giống nòi của chúng tôi từng sinh sống trên bờ cõi của một vùng đất tươi đẹp, với một đại dương bao la ở phía bắc. Vào những ngày tháng ấy, tổ tiên chúng tôi cũng có đầy đủ các giác quan như những cư dân ở thế giới bên trên. Đó quả thực là một vùng đất tuyệt mỹ, đẹp đến mức, theo lời các biên niên sử cổ đại, mặt trời dẫu đi tìm khắp nơi cũng chẳng thấy chốn nào hơn. Sông ngòi ở đó sâu và rộng, đồng bằng trù phú, màu mỡ, còn núi non thì chứa đựng vô số bạc, vàng, đồng và thiếc. Việc khai thác những kim loại này dễ dàng đến nỗi dân tộc chúng tôi nổi danh là những thợ mỏ tài ba; tay nghề khéo léo của họ khiến các quốc gia gần xa đều phải tìm đến để đặt mua gươm, khiên, đầu giáo, áo giáp, đồ dùng trên bàn tiệc, vòng tay, vòng cẳng tay, và hơn hết là những chiếc đèn được chạm trổ, khắc họa vô cùng lộng lẫy để treo trong các cung điện và đền thờ. Cứ thế, chúng tôi sống trong hạnh phúc khôn cùng, cho đến một ngày kinh hoàng nọ, quả địa cầu tròn trịa bỗng quay ngoắt một cú khiến chúng tôi bị quay lưng về phía mặt trời, để rồi những tia nắng chỉ lướt xiên qua đỉnh đầu chúng tôi chứ chẳng mang lại chút hơi ấm nào.
“Ôi chao, giờ đây tôi vẫn muốn rơi lệ,” nhà thông thái Barrel Brow thốt lên, “sau bao nhiêu thế kỷ trôi qua, mỗi khi nghĩ đến số phận cay nghiệt đã giáng xuống đồng bào tôi. Chỉ trong vài tháng, toàn bộ khung cảnh của vùng đất tươi đẹp bỗng bị bao phủ bởi băng tuyết; gia súc của chúng tôi chết cứng, và rất nhiều người cũng bỏ mạng trước khi kịp dệt những tấm vải dày để bảo vệ thân thể mỏng manh khỏi cái lạnh cắt da cắt thịt. Nhưng đó chưa phải là tất cả; đại dương xanh thẳm từng vỗ những con sóng ấm áp và bọt trắng xóa vào bờ cõi chúng tôi giờ đây phả hơi thở lạnh giá thẳng vào người, buộc chúng tôi phải trốn xuống các hầm rượu để thoát khỏi cơn thịnh nộ của nó. Chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, điều kinh hoàng đã xảy ra: những cánh đồng và ngọn núi băng trôi dạt đến chỗ chúng tôi, bị dòng nước cuồn cuộn hất tung vào bờ với những tiếng nổ đinh tai nhức óc. Ở lại đó đồng nghĩa với cái chết nhanh chóng và khủng khiếp, thế nên lệnh đã được ban ra: phải từ bỏ nhà cửa, bếp núc để chạy trốn về phương nam, và hầu hết đồng bào chúng tôi đã làm như vậy. Nhưng trớ trêu thay, vài trăm gia đình thuộc các phường hội thợ kim loại — những người thông thạo các đường hầm dẫn đến mỏ như người đi rừng thông thạo chốn u minh — đã tìm cách ẩn náu trong các hang động ngầm khổng lồ cùng với tất cả tài sản mang theo được. Những sinh vật đáng thương và u mê làm sao! Họ cứ đinh ninh rằng trận bão tuyết bất chợt, những bông tuyết mù mịt và các khối băng trôi nổi mênh mông ấy chỉ là một trò đùa giỡn của tự nhiên, rằng chỉ ít tháng nữa thôi, sự ấm áp và ánh nắng ngập tràn ngày cũ sẽ quay trở lại.
“Than ôi, tháng ngày trôi qua, lượng lương thực của họ đã cạn kiệt, trong khi các lối vào hầm mỏ đều bị bịt kín bởi những khối băng khổng lồ, kết dính chặt chẽ thành một khối lớn nhờ lớp tuyết do những đám mây xám trút xuống. Chẳng còn lối nào để thoát thân theo hướng đó. Hy vọng duy nhất của họ lúc bấy giờ là mò mẫm đi sâu vào lòng đất để tìm một cánh cổng dẫn lên thế giới bên trên.
“Thế là, với những ngọn đuốc sáng rực trên tay nhưng cõi lòng chìm ngập trong bóng tối của tuyệt vọng, họ tiếp tục cuộc hành trình. Cho đến một ngày nọ, chẳng rõ là ngày hay đêm, những người dẫn đầu bỗng sững sờ khi bắt gặp một con đường lát đá cẩm thạch rộng thênh thang do chính bàn tay tự nhiên tạo tác. Dọc theo con đường là dòng sông lững lờ trôi, dập dềnh tôm cá có vảy, có vỏ lẫn da. Tại đây, dân chúng dừng chân để ăn uống và nghỉ ngơi. Trong lúc một người trong số họ đánh lửa bằng đá flint để nhóm bếp nấu ăn, thì thật ngạc nhiên và vui sướng biết bao, một lưỡi lửa từ sàn đá bỗng bùng lên và cứ thế cháy mãi, mang lại ánh sáng cùng hơi ấm cho tất cả mọi người.
“Vì họ đã mang theo đầy đủ dụng cụ — khoan, đục, giũa, dao khắc và ống thổi — trong những cỗ xe kéo, họ liền vội vã lắp ống dẫn vào khe hở trên mặt đá ấy và dựng lên một chùm ngọn lửa. Có thức ăn, nước uống, hơi ấm và ánh sáng, lòng họ trở nên nhẹ nhõm hơn, nhất là khi họ sớm phát hiện ra rằng trong rất nhiều hang động rộng lớn, những cây nấm khổng lồ đang mọc lên với số lượng vô cùng phong phú.
“Những người khôn ngoan nhất trong số họ,” nhà thông thái Barrel Brow tiếp lời, “lập tức đoan chắc rằng phải có những hồ chứa khí gas này ở xa hơn nữa dọc theo Con đường Đá cẩm thạch tuyệt đẹp đó. Vì thế, ngày qua ngày, họ càng tiến sâu hơn vào Thế giới trong Thế giới này, thỉnh thoảng lại dừng chân để thiết lập một ‘ngọn hải đăng’ theo cách gọi của họ.
“Sau khi tiến thêm vài dặm đường, nhóm thám hiểm châm lửa vào một cụm vòi phun khí gas và bỗng chết lặng vì kinh ngạc khi nhận ra mình đang đứng ngay trước thềm của một cổng vòm sừng sững, mở ra một chuỗi các căn phòng rộng lớn liên tiếp nhau — có phòng trần phẳng, có phòng vòm cuốn, có phòng mái vòm — mà trên sàn và vách tường bày la liệt cũng như treo lơ lửng những khối lượng bạc nguyên chất vô tận. Những hang động nguy nga ấy thực chất chính là kho báu khổng lồ của tự nhiên chứa đầy thứ kim loại trắng lóa mắt. Đồng bào chúng tôi liền hối hả dựng lên các chùm ngọn lửa ở khắp nơi để có thể chiêm ngưỡng kho tàng kỳ diệu ấy.
“Họ quyết định định cư tại đây, bởi nơi này có nguồn nước và thực phẩm dồi dào không bao giờ cạn, có ánh sáng và hơi ấm, và trên hết, họ có thể quên đi mọi đau khổ bằng cách tiếp tục công việc quen thuộc của mình. Họ dùng thứ kim loại quý giá ấy một cách hào phóng để xây dựng các phòng sinh hoạt và chế tác hàng vạn vật dụng cần thiết cho cuộc sống thường ngày. Niềm hạnh phúc khi bắt gặp nguồn bạc nguyên chất vô tận lớn đến mức những người thợ kim loại khó lòng chợp mắt nổi cho đến khi họ đã bố trí xong các chùm ngọn lửa khắp các hang động rộng lớn ấy. Chắc hẳn vị nam tước nhỏ bé, ngài đã lơ mơ đoán ra đây chính là nơi ta đang kể cho ngài nghe rồi chứ? Chính tại nơi này, đồng bào chúng tôi đã dừng chân để xây dựng nên Thành phố Bạc.
“Tuy nhiên, có một điều vẫn khiến họ trăn trở, đó là tìm đâu ra vải vức để may mặc, bởi xiêm y cũ đã rách tả tơi thành muôn mảnh. Thật may mắn làm sao, khi đang dò dẫm, họ tình cờ bắt gặp một lớp mỏ khoáng dạng bông và đã xoay sở dệt được thành vải từ thứ đó. Dù có phần cứng và thô ráp, nhưng dẫu sao có vẫn hơn không.
“Trong một lần khám phá căn hang mới nọ, một trong những tổ tiên thông thái của tôi nhìn thấy một con bướm đêm lớn đậu gần mình. Ông nhẹ nhàng gỡ lấy vài quả trứng của nó và mang về nhà, thoạt đầu chỉ vì tò mò hơn là mục đích gì khác.
“Thế nhưng, ngài thử tưởng tượng xem ông đã vui mừng nhường nào khi thấy một trong những con sâu nở ra từ trứng bắt đầu nhả tơ, dệt một chiếc kén to bằng nửa nắm tay. Tin vui này lập tức mang lại một bữa tiệc linh đình và không khí tưng bừng khắp chốn của đồng bào chúng tôi. Chẳng bao lâu sau, tiếng thoi bạc đã lách cách vang lên đều đặn trên những khung cửi bằng bạc, và những thân thể mỏng manh của người dân đã được khoác lên những bộ xiêm y ấm áp, dễ chịu. Cứ thế, những khoảng thời gian dài đằng đẵng trôi qua; nếu quy đổi ra tháng của ngài, thì đó sẽ là rất, rất nhiều năm. Dân chúng có đủ mọi thứ trên đời, ngoại trừ ánh sáng mặt trời — thứ mà những kẻ sinh ra trong thế giới ngầm này vốn chẳng hề hay biết nên cũng chẳng hề cảm thấy thiếu thốn.
“Nhưng rồi, điều gì phải đến cũng đến: những chuyển biến lớn dần dần diễn ra trong cộng đồng của chúng tôi.
Đến nỗi, với nỗi buồn khôn tả, họ nhận ra rằng trong lúc mải mê làm đẹp cho ngôi nhà mới bằng cách dựng lên nhữngμ vòm cổng, cầu cống, bậc thềm, rồi trang hoàng chúng bằng các bức tượng và giá nến lộng lẫy — tất cả đều làm bằng bạc đúc, bạc rèn hoặc bạc gò — thì thị lực của họ cứ kém dần đi, và chẳng mấy chốc nữa thôi, họ sẽ mù lòa hoàn toàn.
“Hỡi vị nam tước nhỏ bé,” nhà thông thái Barrel Brow tiếp lời, “kết quả này là vô cùng tất yếu, bởi giác quan thị giác vốn dĩ được tạo ra là để đón nhận ánh nắng mặt trời. Như ngài hẳn cũng biết, toàn bộ loài cá bơi lội trong sông ngòi của chúng ta đều không có mắt, vì chúng chẳng có nhu cầu sử dụng đến thứ đó. Mọi chuyện diễn ra đúng như dự đoán: chỉ vài thế hệ sau, đồng bào chúng tôi phát hiện ra đôi mắt của họ không còn nhìn vạn vật theo cách của ngài nữa. Dù vậy, họ vẫn có thể cảm nhận được mọi vật nếu chúng không ở quá xa, giống như lúc này tôi có thể cảm nhận sự hiện diện của ngài, biết ngài đang ngồi ở đâu, cao bao nhiêu, rộng nhường nào, và ngài đang dịch chuyển sang phải hay sang trái, tiến lên hay lùi xuống. Nhưng tôi không thể tường tận hình hài của ngài cho đến khi vươn tay ra chạm vào ngài; lúc đó, tôi sẽ thấu tỏ tất cả — vâng, còn rõ hơn cả cách ngài tự nhận biết nữa, bởi xúc giác của chúng tôi tinh nhạy hơn cái gọi là thị lực của ngài rất nhiều. Một người trong số chúng tôi có thể cảm nhận được một hạt bụi hay một vết xước nhỏ trên chiếc gương bạc — thứ mà qua đôi mắt ngài trông nhẵn nhụi chẳng khác nào thủy tinh. Chà, điều kỳ lạ là, mà cũng chẳng có gì là lạ, cùng với sự lụi tàn của thị giác, tổ tiên chúng tôi cũng cảm nhận được thính giác đang dần mai một. Đôi tai của chúng tôi, theo cách ngài gọi, chẳng còn gì để lắng nghe nữa, bởi sự tĩnh mịch vĩnh hằng ngự trị nơi thế giới ngầm này, và kết quả là chúng trở nên vô dụng đối với chúng tôi chẳng khác nào chiếc đuôi của con nòng nọc đối với một con ếch trưởng thành. Đương nhiên, khi mất đi thính giác, con cháu chúng tôi chẳng thể học nói được nữa. Và sau một khoảng thời gian nhất định, chúng tôi hoàn toàn xứng đáng với cái tên mới: Formifolk, hay Người Kiến, bởi giờ đây chúng tôi vừa mù, vừa điếc lại vừa câm.
MỘT THIẾU NỮ SOODOPSY ĐANG ĐỌC THƠ TÁC GIẢ YÊU THÍCH
“Đã lâu lắm rồi, rất rất lâu rồi, thưa vị nam tước nhỏ bé,” nhà thông thái Soodopsy tiếp tục, “mọi ký ức về ánh sáng mặt trời, về màu sắc và âm thanh đã phai mờ khỏi tâm trí chúng tôi. Ngày nay, đồng bào tôi thậm chí còn chẳng biết tên gọi của những thứ ấy là gì. Ngài sẽ có cơ hội thành công ngang ngửa khi cố giải thích cho một kẻ hoang dã hiểu rằng chẳng có gì chống đỡ dưới Trái Đất mà nó vẫn không bị rơi xuống, hệt như khi ngài cố gắng giảng giải cho họ biết ánh sáng hay âm thanh là gì vậy. Thế nhưng, nếu ngài xếp vài mẩu kim loại thành một hàng rồi yêu cầu một người trong bộ tộc chúng tôi nhận diện chúng, anh ta sẽ cân nhắc sức nặng từng miếng, cẩn thận sờ ghè bề mặt, thậm chí ngửi hoặc liếm bằng đầu lưỡi, rồi mới đáp rằng: ‘Đây là vàng; đây là bạc; đây là đồng; đây là chì; đây là thiếc; đây là sắt.’

“Nhưng ngài sẽ phản bác rằng: ‘Tất cả chúng đều có màu sắc khác nhau cơ mà; anh không nhận ra điều đó sao?’
“‘Tôi chẳng hiểu ngài đang nói gì về màu sắc cả,’ anh ta sẽ đáp. ‘Nhưng hãy nhìn đây: giờ tôi giấu tất cả chúng dưới chiếc khăn lụa này, và chỉ bằng cách chạm đầu ngón tay vào, tôi vẫn biết chính xác mỗi miếng là kim loại nào. Nếu ngài làm được điều đó, thì ngài mới giỏi giang ngang ngửa tôi.’
“Ngài nghĩ sao hỡi vị nam tước nhỏ bé?” nhà thông thái Barrel Brow hỏi, khuôn mặt ánh lên nụ cười đắc thắng. “Ngài có nghĩ mình tài giỏi bằng một người Soodopsy thế không?”
“Dạ thưa, ngài trí tuệ, chắc chắn là tôi không bằng rồi,” tôi viết trên tấm bảng bạc của mình; “và tôi vô cùng biết ơn những gì ngài đã kể cũng như dạy bảo cho tôi. Kính xin Bậc thầy Barrel Brow cho phép tôi được quay lại đây đàm đạo cùng ngài vào một ngày gần nhất.”
“Được chứ, hỡi vị nam tước nhỏ bé,” nhà thông thái Soodopsy nguệch ngoạc viết lên tấm bảng bạc của ông. Và rồi, khi tôi quay người bước ra khỏi căn phòng, ông liền với tay kéo tôi lại và chạm nhẹ vào tôi bằng một ngón tay cong — hiệu ý bảo tôi hãy dừng lại.
“Thứ lỗi cho tôi nhé, thưa vị nam tước nhỏ bé,” ông viết, “nhưng ngài đang rời khỏi phòng nghiên cứu của tôi mà bỏ quên chú chó trung thành Bulger rồi đấy; tôi nói có đúng không?”
Tôi sững sờ ngạc nhiên, bởi quả thực ông đã đoán đúng. Dù hoàn toàn mù lòa không thấy gì, ông lại quan sát được nhiều hơn cả tôi — kẻ đang mở trừng trừng hai con mắt sáng rõ. Hóa ra chú chó Bulger đang nằm ngủ say như chết trên chiếc đôn bọc lụa.
Cuộc trò chuyện trong lặng thầm ấy đã khiến nó mệt lả đến mức đã trôi dạt vào Xứ sở Giấc mơ trên đôi cánh của những mộng mòi.
Nó cúi gằm đầu, ra chiều vô cùng xấu hổ khi tiếng gọi của tôi đánh thức nó dậy và nó bỗng phát hiện ra rằng tôi thực sự đã đi ra tới tận cửa từ lúc nào mà nó chẳng hề hay biết.