Hỡi đại nhân Don Fum vĩ đại, Bậc thầy của muôn bậc thầy, tôi biết lấy gì để đền đáp ngài vì đã cho tôi được biết sự tồn tại của Thế giới trong thế giới kỳ diệu này! Giá như tôi là một thợ kim loại! Tôi đã chẳng bước qua cánh cổng huy hoàng nơi tôi dừng chân mà không khắc thật sâu những đường nét tinh xảo lên các cột bạc của nó tên đầy đủ của vị học giả vĩ đại nhất mà thế giới từng biết đến. Bulger đã cảnh báo tôi rằng cổng thành này có người canh gác, thế nên tôi bước vào một cách thận trọng, cẩn thận dòm chừng những góc tối kẻo lại thành bia cho kẻ thù vô hình nào đó phóng vũ khí vào.
Vừa bước qua cổng, ba sinh vật kỳ lạ nhỏ nhắn có chiều cao xấp xỉ tôi bỗng lao nhanh và lặng lẽ chắn ngang lối đi. Chúng mặc áo khoác ngắn, quần chẽn dài tới đầu gối và xà cạp cao đến mắt cá chân, nhưng không đội mũ cũng chẳng đi giày, và trang phục được trang trí chi chít bằng những chiếc cúc bằng bạc đẹp mắt.
Bàn tay, bàn chân và đầu của chúng có vẻ quá lớn so với thân hình nhỏ bé cùng đôi chân gầy guộc như ống điếu, mang lại cho chúng vẻ ngoài kỳ quái và giống như loài yêu tinh lùn, càng làm nổi bật thêm biểu cảm trợn trừng, vô hồn của đôi mắt to tròn. Khi tôi mới thoáng thấy chúng, chúng đang nắm tay nhau, nhưng giờ đây mỗi tên đứng dang rộng một bên tay về phía Bulger và tôi, khua khoáng chúng một cách kỳ lạ trong không gian và nguầy nguậy những ngón tay dài như thể đang cố giở bùa ngộ sát chúng tôi.
Tôi tưởng tượng mình có thể cảm thấy cơn buồn ngủ đang bò lan khắp người nên vội vàng lên tiếng:
— Này những người thiện lành, đừng cố yểm bùa ta. Ta là nhà thám hiểm lừng danh từ thế giới thượng uyển — Sebastian von Troomp — và đến đây với thiện ý hòa bình nhất.
Nhưng chúng chẳng thèm bận tâm đến lời tôi nói, chỉ tiến lên vài inch và với đôi tay dang rộng tiếp tục khua khoắng, cào cấu bầu không khí, chỉ dừng lại để ra hiệu cho nhau bằng cách chạm vào tay nhau hoặc các bộ phận khác trên cơ thể nhau. Tôi vô cùng bối rối trước hành động của chúng, liền bước lên trước một hoặc hai bước thì chúng lập tức lùi lại một khoảng tương ứng.
— Tất cả mọi người đều là anh em, — tôi lớn tiếng kêu lên, — và mang những trái tim cùng hình dáng trong lồng ngực. Tại sao các ngươi lại sợ ta? Số lượng của các ngươi đông gấp ba ta và lại đang ở trên chính quê hương mình. Ta cầu xin các ngươi hãy đứng yên và nói chuyện với ta!
Khi tôi thốt ra những lời này, chúng liên tục giật lùi đầu lại như thể âm thanh giọng nói của tôi đang vả vào mặt chúng. Thật là kỳ lạ. Bất ngờ, một tên trong số đó rút từ trong túi ra một cuộn dây lụa, và một cách khéo léo tháo ra, ném một đầu về phía tôi. Nó bay thẳng tới chỗ tôi, bởi đầu dây được đính một đĩa bạc đánh bóng mỏng manh, y hệt như đầu dây mà kẻ ném đang cầm trên tay. Động tác tiếp theo của hắn là mở áo khoác ra và hình như ấn chiếc đĩa đó lên cơ thể trần trụi ngay trên tim mình. Tôi vội vàng làm theo với chiếc đĩa của mình, giữ chặt nó ở đúng vị trí. Làm xong điều đó, hắn lùi lại một hoặc hai bước cho đến khi sợi dây lụa căng phắt. Sau đó, hắn dừng lại và đứng bất động trong vài khoảnh khắc, rồi chuyền chiếc đĩa cho một trong những đồng bạn của mình; người này sau khi áp đĩa lên tim mình lần lượt lại chuyển nó cho kẻ thứ ba trong nhóm.
Nhanh như cắt, sự thật bỗng bừng sáng trong tôi: Ba sinh vật giống yêu tinh lùn ở trước mặt tôi không chỉ mù, mà chúng còn điếc và câm. Giác quan duy nhất mà chúng dựa vào, và ở chúng có độ nhạy bén kỳ diệu nhất, chính là xúc giác. Những cử động kỳ lạ của bàn tay và ngón tay chúng, trông giống hệt như động tác đập và khua của râu côn trùng, đơn giản là để bắt và đo các dao động của không khí do chuyển động cơ thể tôi tạo ra. Đôi mắt to tròn của chúng cũng chỉ có cảm giác của xúc giác, nhưng nó nhạy bén đến kỳ diệu khiến cho nó gần giống như năng lực thị giác, cho phép chúng nhờ vào sự dao động của không khí trên nhãn cầu mà biết chính xác một vật thể đang di chuyển ở gần chúng đến mức nào. Mục đích của chúng khi ném sợi dây lụa và đĩa bạc cho tôi là thông qua việc đo nhịp đập trái tim tôi và so sánh nó với trái tim của chính chúng để xác định xem tôi có phải là con người giống như chúng hay không.
Hỡi những người bạn thân mến, hãy hình dung sự kinh ngạc của tôi khi thấy một tên trong số chúng chỉ vào chiếc đĩa bạc và, thông qua ngôn ngữ ký hiệu, cho tôi hiểu rằng chúng muốn cảm nhận nhịp đập trái tim của sinh vật sống đi cùng tôi.
Cúi xuống, tôi vội vàng thỏa mãn sự tò mò của chúng bằng cách áp chiếc đĩa lên tim cậu Bulger yêu quý của tôi.
Ngay lập tức xuất hiện một biểu cảm ngạc nhiên đến buồn cười hiện rõ trên khuôn mặt chúng khi chúng chuyền chiếc đĩa từ người này sang người khác và áp nó lên các phần khác nhau trên cơ thể — lúc thì vào ngực, lúc vào má, và thậm chí cả vào mí mắt đang nhắm nghiền của chúng. Dĩ nhiên tôi thừa biết sự kinh ngạc của chúng xuất phát từ nhịp đập nhanh của trái tim Bulger, và tôi vô cùng thích thú trước sự ngạc nhiên ngây thơ như trẻ con của chúng. Mọi vẻ sợ hãi giờ đây đã biến mất khỏi khuôn mặt chúng, và tôi vô cùng vui mừng trước nét mặt hiền hòa, vui vẻ hiện lên trên các nét mặt của chúng, giờ đây đang nở nụ cười rạng rỡ.
Chậm rãi và nhón gót, chúng tiến lại gần Bulger và tôi rồi trong suốt vài phút đồng hồ thỏa sức đùa giỡn bằng cách chạy những ngón tay dài, linh hoạt của mình khắp cơ thể chúng tôi.
Chúng chẳng mất nhiều thời gian để phát hiện ra rằng tôi về mọi mặt cơ bản là một sinh vật cùng loài với chúng, nhưng Bulger thì không phải vậy. Khuôn mặt tròn vo của chúng nhăn nheo và hằn lên vẻ kinh ngạc khi chúng làm quen với cấu trúc cơ thể mà đối với chúng là kỳ lạ của cậu ấy, và hết lần này đến lần khác khi sờ nắn cậu ấy, chúng lại dừng lại và bằng những cử động nhanh như chớp của ngón tay trên tay, cánh tay và khuôn mặt nhau để trao đổi suy nghĩ về sinh vật kỳ diệu đã bước qua cổng thành của chúng.
Chắc hẳn các bạn đang sốt ruột đến chết đi được, những người bạn thân mến, mong được nghe điều gì đó cụ thể hơn về những con người kỳ lạ mà tôi vừa gặp gỡ này. Vậy thì, hãy biết cho rằng sự tồn tại của họ đã được ám chỉ một cách mơ hồ trong bản thảo của Bậc thầy vĩ đại, Don Fum. Tôi nói là ám chỉ một cách mơ hồ, bởi các bạn phải ghi nhớ rằng Don Fum chưa từng đặt chân đến Thế giới trong thế giới này; rằng sự khôn ngoan tuyệt vời của ngài đã cho phép ngài suy luận ra tất cả mà không cần tận mắt chứng kiến, giống như các nhà tự nhiên học vĩ đại thời đại chúng ta, khi tìm thấy một chiếc răng đơn độc thuộc về sinh vật khổng lồ nào đó sống từ hàng ngàn năm trước, đã có thể phác họa nên toàn bộ hình dáng của nó.
À, những sinh vật tò mò mà Bulger và tôi đã bước vào thành phố của họ được gọi bằng hai cái tên khác nhau trong cuốn sách tuyệt vời của Don Fum. Ở vài nơi ngài gọi họ là người Soodopsies, hay Những đôi mắt giả, và ở những nơi khác là người Formifolk hay Người kiến. Cái tên nào cũng vô cùng thích hợp, bởi đôi mắt to tròn, trong vắt của họ thực ra chỉ là đồ giả, vì như tôi đã kể với các bạn, họ hoàn toàn không có chút thị giác nào; trong khi mặt khác, việc họ vừa điếc, vừa câm, vừa mù, lại sống trong những ngôi nhà dưới lòng đất, khiến họ hoàn toàn xứng đáng với cái tên Người kiến. Chỉ trong chốc lát, ba người Soodopsies đã thành công trong việc dạy cho tôi những nguyên tắc chính của thứ ngôn ngữ áp lực của họ, nhờ đó mà tôi, trước sự vui mừng khôn xiết của họ, đã có thể trả lời một số câu hỏi của họ.
NHỮNG NGƯỜI FORMIFOLK THỬ NHỊP ĐẬP TRÁI TIM CỦA BẠN TƯỚC BẰNG ĐIỆN THOẠI.
Nhưng chớ có tưởng rằng, hỡi những người bạn thân mến, những vị tiểu yêu khôn ngoan và lanh lợi này, thành thạo biết bao nghệ thuật, lại không có ngôn ngữ nào khác ngoài thứ ngôn ngữ bao gồm các mức độ áp lực khác nhau do đầu ngón tay họ tạo lên cơ thể nhau. Họ có một thứ ngôn ngữ vô cùng tuyệt vời, phong phú đến mức họ có thể diễn đạt những tư nghĩ khó khăn nhất, bày tỏ những cảm xúc muôn hình vạn trạng nhất; tóm lại, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn ngang bằng với chúng ta về mọi mặt ngoại trừ một điều — nó hoàn toàn không có từ nào có thể mang lại cho họ dù chỉ là khái niệm mơ hồ nhất về màu sắc là gì. Điều này không có gì phải ngạc nhiên, bởi bản thân họ không có và cũng không thể có nổi khái niệm mờ nhạt nhất về ý nghĩa của tôi khi nói về màu sắc, thế nên khi tôi cố gắng làm cho họ hiểu rằng các vì sao của chúng tôi là những điểm sáng trên bầu trời, họ liền hỏi tôi liệu chúng có đâm vào ngón tay tôi nếu tôi ấn vào một trong số đó hay không. Nhưng chắc hẳn các bạn đang nóng lòng muốn biết làm thế nào người Formifolk có thể sử dụng bất kỳ ngôn ngữ nào khác ngoài ngôn ngữ áp lực. Vâng, tôi sẽ kể cho các bạn nghe. Mỗi người Soodopsy đều giắt bên thắt lưng một cuốn sổ tay nhỏ, nếu tôi có thể gọi như vậy, với phần bìa làm bằng các tấm bạc mỏng được chạm trổ và khắc hoa văn đa dạng tùy theo sở thích của chủ nhân. Các trang của cuốn sách này cũng gồm những lá bạc mỏng không dày hơn giấy nhôm của chúng ta; ngoài ra, gắn vào thắt lưng bằng một sợi dây lụa còn có một cây bút bằng bạc hay đúng hơn là một chiếc bút trâm. Giờ đây, khi một người Soodopsy muốn nói điều gì đó với đồng loại của mình, điều gì đó quá khó để diễn đạt bằng áp lực của đầu ngón tay, anh ta chỉ đơn giản lật một trang bạc ép vào mặt trong của một trong hai tấm bìa vốn được lót đệm nhẹ, rồi cầm lấy chiếc bút trâm tiến hành viết ra những gì mình muốn nói; và khi đã xong, anh ta khéo léo xé trang giấy đó ra và trao nó cho người bạn đồng hành. Người này nhận lấy, lật mặt lại, lướt những đầu ngón tay nhạy cảm kỳ diệu của mình lên phần chữ nổi và đọc nó với sự dễ dàng lớn nhất; chỉ có điều tất nhiên là anh ta đọc từ phải sang trái chứ không phải từ trái sang phải như lúc nó được viết ra. Do đó, từ nay về sau, khi tôi thuật lại các cuộc trò chuyện của mình với người Formifolk, các bạn sẽ hiểu chúng được tiến hành như thế nào.
