Khi Jorge Icaza cho xuất bản cuốn Huasipungo, các chủ đất, Nhà thờ và những người giàu có ở Ecuador công phẫn trước chủ đề kinh khủng của cuốn tiểu thuyết, nhưng không một tên đại điền chủ, cha xứ hay người chủ nào tỏ một dấu hiệu cảm xúc trước toàn cảnh của sự bóc lột, làm nhục và hủy diệt mà nạn nhân từng là - và vẫn đang là - những người nông dân và thổ dân vùng núi Andes thuộc Ecuador, Peru và Bolivia. Tôi tới Ecuador lần đầu năm 1977 và thực tế ở đó vẫn hệt như những gì Izaca miêu tả; những người dân không quyền lợi, không phương tiện, không nơi trú ẩn nào khác ngoài bóng đêm lạnh giá và im lìm, vì trong bóng tối họ có thể kể cho nhau nghe về những ước muốn và giấc mơ của mình. Và năm đó, tôi đã biết Vidal.
Tôi còn nhớ lúc đó đang ngồi trong một quán ăn lùi xùi ở chợ Cayambe, đang tận hưởng món cuy [1] nướng than, tôi thấy một người đàn ông kín đáo đến gần những người nông dân, thổ dân trông như những phu khuân vác rồi nói gần như thì thầm vào tai họ, và với những người không vội vã tránh xa, anh đưa cho họ một tờ truyền đơn mà anh lấy ra từ nếp gấp áo choàng của mình như một nhà ảo thuật.
Đột nhiên, vang lên những tiếng còi, tiếng chân chạy và trong chợ ngập tràn cảnh sát. Người đàn ông kéo mũ sụp xuống mắt và đi về phía lối ra gần nhất, nhưng khi đến gần chỗ tôi anh dừng lại vì nhận ra lối đó cũng bị những người mặc đồng phục chặn bên ngoài. Anh thoáng đảo mắt sang bên và ánh mắt chúng tôi gặp nhau, vì định luật kỳ diệu của cuộc sống làm cho những người thua gặp nhau. Anh đang bị truy đuổi còn tôi, tôi bắt đầu những năm dài của cuộc sống lưu vong. Anh ngồi xuống đối diện tôi, cầm chai bia trên bàn, sau khi uống một ngụm, anh bắt đầu nói về gà qué. Tôi nhập cuộc và khi cảnh sát tới gần, chúng tôi đang nói như hai chuyên gia về sự tàn phá của bệnh khô đầu lưỡi lên gia cầm.
- Tên tôi là Vidal và tôi đang kêu gọi người tới một cuộc họp nghiệp đoàn, anh nói khi hiện thực đã thắng những vấn đề về gà vịt.
Chúng tôi ra khỏi chợ, và một lát sau, ngồi ở quảng trường, tôi nói anh đưa tôi xem một tờ truyền đơn. Đó là một tờ gấp, in từ máy in ronéo quay tay, với những ký tự in to mà tôi không hiểu gì vì tôi không biết ngôn ngữ Quechua.
- Không nhiều người biết đọc, nhưng không sao, lời viết mang lại sức mạnh và đoàn kết mọi người, Vidal giải thích.
Mặt trời tỏa nắng trên cao, hắt những tia nắng chói lóa từ đỉnh núi Pichincha kề bên đổ xuống nghiền nát bóng những người thổ dân đang còng lưng bước, trên vai tải nặng đủ loại kiện to kiện nhỏ hàng hóa.
- Đó là huasipungo của thành phố. Họ không có đất và sẵn sàng mang vác bất cứ thứ gì để đổi lấy một miếng bánh mì. Họ sống và chết ngoài đường phố, anh bắt đầu nói.
- Anh nói tên anh là Vidal. Vidal gì nữa? tôi nhớ đã từng hỏi anh.
- Vidal, thế thôi. Thế là quá đủ rồi. Anh có muốn đến cuộc họp không?
Khi anh nói, âm “r” bật ra nghe như thể anh đã nhai chúng, và cứ thế với chất giọng người vùng núi, anh kể với tôi chi tiết công việc khó khăn của nghiệp đoàn nông dân. Liên hiệp Nông dân của Imbabura đã bị nghiền nát ngay khi mới ra đời, nhưng nó vẫn không ngừng tái sinh, và rồi lại chịu cùng một số phận. Vidal mang trong túi con dấu bằng cao su mang số đăng ký hợp pháp hóa tổ chức nghiệp đoàn và một tập thẻ thành viên còn trắng. Trong túi bên kia, anh giữ một bức ảnh cắt từ tờ Écran, một tạp chí điện ảnh.
- Anh biết đây là ai không? anh hỏi và cho tôi xem hình một phụ nữ đẹp bí ẩn.
- Greta Garbo, tôi trả lời.
- Nàng bảo vệ che chở tôi. Tôi vô thần, nhưng có ai đó để xin được che chở thì vẫn tốt, anh nói giọng chắc chắn.
Chúng tôi đi bộ trong nhiều giờ, dưới màn đêm bao la đang trùm lên một nửa địa cầu, cho tới nơi tổ chức cuộc họp. Có khoảng hai mươi người lập tức chia với chúng tôi tất cả những gì họ có: những củ khoai lang nhăn nheo và những ngụm puro, một loại rượu mía mạnh dữ dội. Vidal nói tiếng Quechua và từ duy nhất tôi nắm được là compañeros. Những người nông dân tán thành, đặt câu hỏi: dựa vào giọng nói, tôi hiểu họ đang tranh luận với thái độ cương quyết, và kết thúc cuộc họp, họ khoác tay nhau thành vòng như những kẻ mưu phản huyền thoại đang chuẩn bị xung phong đến tận trời cao.
Vidal. Tôi đã đi cùng anh đến nhiều cuộc họp bí mật khác, chúng tôi thậm chí đã cùng soạn một chương trình xóa mù chữ tối thiểu trong khi anh dẫn dắt tôi vào lịch sử của thế giới Andes và dạy tôi tiếng Quechua. Tôi từng thấy anh sảng khoái lạc quan và tôi từng thấy anh buồn, tôi từng thấy anh hát những bản sanjuanitos [2] hay bị những trận đòn nhừ tử ở bệnh viện Ibarra sau một cuộc tấn công của chủ đất. Tôi từng sống ở nhà anh và gia đình anh đã là gia đình của tôi. Khi tôi rời Ecuador năm 1979, tôi biết mình đang rời xa một người bạn, một người đồng hành không thể so sánh, và tôi tiếc đã không biết tên họ đầy đủ của anh để viết cho anh.
Cuộc sống đã đưa tôi đi muôn nẻo, nhưng tôi chưa bao giờ quên Vidal, và cũng chính là cuộc sống, cái luôn nối hợp những người thua, đã cho tôi một món quà tuyệt vời cách đây vài tuần: trong một bức ảnh in trên một tờ báo Ecuador là hình bạn tôi, trên nền hình tỉnh Pichincha, anh đang nói chuyện với những người nông dân trong buổi khánh thành một hợp tác. Lời tựa ghi: “Vidal Sánchez, lãnh đạo nghiệp đoàn...”
Một người đàn ông mang tên Vidal. Vidal Sánchez. Brecht có lý khi viết: “Có những người tranh đấu suốt cuộc đời họ: chính họ là những người không thể thiếu.”
--------------------------------
❀ ❀ ❀
[1] 16*Chuột lang. (Chú thích của bản tiếng Pháp)
[2] 17*Dân ca Ecuador. (Chú thích của bản tiếng Pháp)