Fredy Taberna có một cuốn sổ đóng bìa các tông trong đó anh ghi chép một cách cẩn thận những kỳ quan thế giới, và chúng có nhiều hơn bảy: chúng là vô cùng tận và luôn được nhân dần lên. Sự ngẫu nhiên muốn rằng chúng tôi sinh cùng ngày, cùng tháng và cùng năm nhưng cách nhau hai nghìn ki lô mét đường đất khô cằn, vì Fredy sinh ra ở sa mạc Atacama, không xa đường biên giới ngăn cách Chile và Peru, và sự tình cờ này là một trong nhiều lý do hàn kết tình bạn giữa chúng tôi.
Một hôm, ở Santiago, tôi thấy anh đang đếm tất cả cây trong công viên Forestal và ghi vào cuốn sổ của anh rằng viền hai bên lối đi chính của công viên là ba trăm hai mươi cây tiêu huyền cao hơn nhà thờ Iquique, gần như tất cả chúng đều có thân to đến mức không thể ôm trọn trong vòng tay, và rằng bên cạnh công viên là dòng sông Mapocho chảy hiền hòa và rằng thật hạnh phúc khi được nhìn dòng sông chảy dưới những cây cầu bằng sắt cũ kỹ.
Khi anh đọc cho tôi những ghi chép đó, tôi nói với anh rằng tôi thấy có vẻ phi lý khi đề cập đến những cây đó vì ở Santiago có nhiều công viên có những cây tiêu huyền cũng cao bằng hoặc hơn thế và rằng miêu tả dòng Mapocho lãng mạn đến thê khi thực tế chỉ là một dòng chảy nhỏ bé đây bùn mang theo rác thải và xác động vật chết thì đối với tôi có vẻ không cân xứng.
- Cậu không biết phương Bắc, vì thế cậu không hiểu được đâu, Fredy trả lời, và anh tiếp tục miêu tả những khu vườn nhỏ dẫn lên đồi Santa Lucía.
Sau khi giật nẩy mình vì tiếng đại bác báo hiệu mười hai giờ trưa hằng ngày ở Santiago, chúng tôi đi uống vài chầu bia ở quảng trường trung tâm Armas, vì chúng tôi thấy khát kinh khủng, một trong những cơn khát mà ta có khi tuổi đôi mươi.
Mấy tháng sau Fredy cho tôi khám phá phương Bắc. Phương Bắc của anh. Cằn cỗi, khô hạn, nhưng đầy ký ức và luôn sẵn sàng cho những điều kỳ diệu. Chúng tôi bắt đầu đi từ Iquique tảng sáng một ngày 30 tháng Ba và, trước khi mặt trời (Inti) lên cao trên rặng núi phía Đông, chiếc Land Rover cũ kỹ của một người bạn đưa chúng tôi đến Xa lộ Liên Mỹ, thẳng tắp và dài như một con lươn vô tận.
Mười giờ sáng, sa mạc Atacama hiện ra với tất cả sự khắc nghiệt chói lọi của nó, và tôi hiểu vì sao da của những người ở Atacama có vẻ già trước tuổi, gương mặt hằn sâu những rãnh nhăn do mặt trời và những cơn gió mang nitrat tạo nên.
Chúng tôi thăm những ngôi làng ma với những căn nhà được gìn giữ nguyên vẹn, những căn phòng ngăn nắp, bàn ghế như đang chỉ chờ khách tới, những sân khấu kịch của công nhân và trụ sở nghiệp đoàn sẵn sàng cho lần đòi hỏi quyền lợi tới, và những ngôi trường với bảng đen để viết lên đó lịch sử có thể giải thích cái chết bất ngờ của những cơ sở khai thác nitrat.
- Buenaventura Durruti đã từng qua đây. Ông đã ngủ lại trong căn nhà này. Ở đó, ông đã nói về hiệp hội tự do của những người công nhân, Fredy vừa chỉ tay vừa cho tôi biết lịch sử của chính anh.
Hoàng hôn xuống khi chúng tôi dừng chân trong một nghĩa trang với những nấm mộ trang trí bằng hoa làm từ giấy đã khô và tôi tưởng rằng đó là những bông hông Atacama nổi tiếng. Trên những cây thánh giá có khắc những cái tên Tây Ban Nha, Aymara, Ba Lan, Ý, Nga, Anh, Trung Quốc, Serbia, Croatia, xứ Basque, Asturias, Do Thái, hợp nhất trong sự cô đơn của cái chết và cái rét đổ ập xuống sa mạc ngay khi mặt trời lặn xuống Thái Bình Dương.
Fredy đang ghi chép vào cuốn số của anh, hoặc đang kiểm tra lại xem những ghi chép cũ có chính xác không.
Chúng tôi trải túi ngủ gần nghĩa trang, bắt đầu hút thuốc và nghe sự im lặng, nghe tiếng thì thầm từ đất của hàng triệu viên đá đã bị hun nóng dưới mặt trời, đang nứt ra một cách khó nhận thấy dưới sự thay đổi nhiệt độ dữ dội. Tôi nhớ mình đã ngủ thiếp đi vì mệt mỏi quan sát hàng triệu triệu ngôi sao soi sáng đêm trên sa mạc, và rạng sáng ngày 31 tháng Ba anh bạn lay tôi dậy.
Hai cái túi ngủ ướt đẫm nước. Tôi hỏi có phải trời mưa không, Fredy trả lời đúng, mưa nhẹ và mỏng như thường vẫn thế vào những ngày 31 tháng Ba ở Atacama. Vừa đứng dậy tôi thấy khắp sa mạc đỏ rực, một màu đỏ tươi, khắp nơi phủ những bông hoa nhỏ xíu đỏ màu máu.
- Chúng đấy. Những bông hồng của sa mạc, bông hồng của Atacama. Những cái cây vẫn luôn ở đó, trong đất mặn. Những người dân của Atacama đã thấy chúng, và những người Inca, những người Tây Ban Nha đến chinh phục châu Mỹ, những người lính của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, những công nhân khai thác nitrat. Chúng vẫn luôn ở đó và nở hoa một lần trong năm. Đến trưa, mặt trời sẽ thiêu đốt chúng, Fredy vừa nói vừa ghi chép vào cuốn sổ của anh.
Đó là lần cuối tôi gặp anh bạn Fredy Taberna. Ngày 16 tháng Chín năm 1973, ba ngày sau cuộc đảo chính quân sự phát xít, một tốp lính dẫn anh đến một vùng nông thôn hẻo lánh gần Iquique. Anh hầu như chẳng thể di chuyển, chúng đã đánh gẫy nhiều xương sườn và một cánh tay anh, anh hầu như không thể mở mắt vì khuôn mặt chỉ còn là một bọc máu.
- Hỏi lần cuối, anh có chịu nhận tội không? một trung sĩ của tướng Arellano Stark hỏi anh, ông tướng này cũng dự mặt ở đó.
- Tôi tuyên mình có tội là một sinh viên lãnh đạo, một chiến sĩ đảng Xã hội và đã đấu tranh bảo vệ chính phủ hợp hiến, Fredy trả lời.
Lũ quân nhân đã sát hại anh và chôn xác anh tại một nơi bí mật trên sa mạc. Nhiều năm sau, trong quán cà phê Quito, một người sống sót từ tội ác ghê tởm đó, Ciro Valle, kể tôi biết rằng Fredy đã bị bắn khi anh đang hát vang bài La Marseillaise [1] của đảng Xã hội.
Hai mươi lăm năm đã qua. Neruda có thể có lý khi ông nói: “Chúng ta, những con người của ngày đó, chúng ta đã thay đổi”, nhưng nhân danh người đồng chí Fredy Taberna của tôi, tôi tiếp tục ghi lại những kỳ quan của thế giới trong một cuốn sổ đóng bìa các tông.
--------------------------------
❀ ❀ ❀
[1] 18*Quốc ca Pháp.