33.
Câu chuyện của cô Wilkinson cứ luẩn quẩn trong đầu óc Philip. Mặc dù nàng đã rút ngắn lại, nhưng ý nghĩa những điều nàng nói là khá rõ nên anh có phần sửng sốt. Loại chuyện tình như vậy rất hợp với đàn bà có chồng. Anh đã đọc khá nhiều tiểu thuyết Pháp, nên anh biết ở Pháp chuyện đó là bình thường, nhưng cô Wilkinson là người Anh, chưa chồng, con gái một mục sư. Một ý nghĩ chợt đến: anh chàng sinh viên mỹ thuật kia chưa hẳn là người tình đầu tiên mà sẽ không phải là người tình cuối cùng. Không bao giờ anh nghĩ Wilkinson lại như vậy, dường như không thể tin được là cũng có người tỏ tình với nàng. Với trí óc ngây thơ của anh, anh ít nghi ngờ câu chuyện của nàng như nghi ngờ những chuyện đã đọc trong cuốn sách, và anh tức giận mình không bao giờ gặp những chuyện tuyệt vời như vậy. Anh sẽ bẽ mặt biết mấy nếu như cô Wilkinson cứ cố nài anh sẽ kể cho nghe những chuyện của anh ở Heidelberg mà anh thì chẳng có gì để mà nói. Thật ra anh cũng có chút ít khả năng hư cấu, nhưng anh không chắc có thể làm cho nàng tin rằng anh là kẻ đã dấn sâu trong vòng tội lỗi; trực giác của đàn bà nhạy cảm lắm, anh hiểu như vậy, và nàng sẽ dễ dàng phát hiện là anh bịa đặt. Mặt anh đỏ bừng khi nghĩ nàng đang cười thầm.
Cô Wilkinson hay chơi dương cầm và hát với một giọng hơi chán chường những bài hát của Massenet, Benjamin Godard và Augusta Holmès[1] là điều mới mẻ đối với Philip, và hai người ngồi với nhau hàng giờ bên chiếc dương cầm. Một hôm nàng muốn biết anh có giọng không và ép anh thử hát. Nàng bảo anh có giọng nam trung ấm áp và đề nghị được anh dạy hát. Lúc đầu, vốn bản tính rụt rè nên anh từ chối, nhưng nàng ép mãi thế là từ sau đó cứ sáng sáng vào những lúc thích hợp nhất sau khi điểm tâm nàng dạy anh một giờ. Nàng có năng khiếu dạy học nên hiển nhiên nàng là một giáo viên xuất sắc, nàng dạy có phương pháp và là một người thầy kiên quyết. Dù cái giọng Pháp quá gắn bó với nàng vẫn còn tồn tại, nhưng khi bắt đầu dạy, cung cách dịu dàng trong con người nàng biến mất. Nàng không chịu được chuyện vô nghĩa lý. Giọng nói của nàng có phần quyết đoán, và do bản năng, nàng cấm sự lơ đễnh, khiển trách tính cẩu thả. Nàng biết công việc nàng đang làm và cho Philip học gam và đi vào luyện giọng.
Khi bài học kết thúc, giọng nàng lại trở nên dịu dàng hấp dẫn, nụ cười quyến rũ trở lại trên môi không một chút khó khăn, tuy nhiên Philip không dễ dàng gì từ bỏ vai trò học sinh cũng như nàng từ bỏ vai trò nhà sư phạm. Ấn tượng này mâu thuẫn với cảm nghĩ mà những chuyện của nàng đã khơi dậy trong anh. Anh nhìn nàng kỹ hơn. Buổi tối anh thấy thích nàng hơn là buổi sáng. Buổi sáng mặt nàng hơi nhăn, cổ nàng có phần hơi thô. Anh những muốn nàng che giấu điều đó, nhưng vào thời gian ấy thời tiết nóng quá, mà nàng lại mặc áo cánh cắt hở. Nàng rất ưa mặc đồ trắng, màu không hợp với nàng vào buổi sáng. Ban đêm trông nàng lúc nào cũng rất có duyên. Nàng mặc tấm áo dài thường dùng vào buổi tối, đeo quanh cổ một chuỗi ngọc đỏ; viền đăng ten quanh ngực và khuỷu tay, tai đeo khuyên vàng, trông nàng càng dễ thương; nước hoa nàng dùng (ở Blackstable không ai dùng thứ khác ngoài Eau de Cologne mà cũng chỉ vào ngày chủ nhật hay những lúc đau đầu) có một mùi hương là lạ làm người ta xao xuyến, những lúc đó trông nàng thật sự trẻ trung.
Philip rất băn khoăn về tuổi của nàng. Anh đem cộng hai mươi với mười bẩy và không sao đạt được một tổng số vừa ý. Anh hỏi bác gái Louisa không phải chỉ một lần, tại sao bác lại cho nàng là ba mươi bẩy tuổi. Nàng có vẻ không quá ba mươi; ai cũng biết rằng người nước ngoài già nhanh hơn phụ nữ Anh, mà cô Wilkinson ở nước ngoài lâu đến nỗi có thể gọi nàng là người ngoại quốc. Bản thân anh không tin rằng nàng đã quá hai mươi sáu.
- Cô ta còn lớn tuổi hơn thế kia. - Bác gái Louisa nói.
Philip không tin lời phát biểu của hai bác là chính xác tất cả, nhưng tất cả những gì mà hai bác nhớ được là cho tới ngày gặp cô lần cuối ở Lincolshire, cô Wilkinson vẫn còn đeo bím tóc. Vậy thì lúc ấy có thể cô mới mười hai tuổi. Chuyện ấy đã lâu quá rồi, mà trí nhớ của cha sở thường không đáng tin cậy. Hai bác nói là hai mươi năm trước, nhưng người ta hay dùng con số tròn, chứ đúng có thể là mười tám hoặc mười bảy gì đó. Mười bẩy với mười hai là hai mươi chín, vậy thì trời đất ơi, thế đâu có phải là già, đúng không nào? Khi Antony[2] vì nàng mà từ bỏ mọi thứ trên đời này thì Cleopatra[3] đã bốn mươi tám tuổi.
Ngày này qua ngày khác, trời nóng bức, không mây, nhưng vì gần biển nên sức nóng có giảm. Không khí vui tươi dễ chịu khiến người ta phấn chấn, không đến nỗi ngột ngạt vì cái nóng tháng tám. Ở ngoài vườn có một cái bể phun nước thả hoa súng, cá vàng thường nổi lên mặt nước phơi nắng. Sau bữa cơm chiều, Philip và tiểu thư Wilkinson thường ra vườn đem theo thảm, nệm nằm nghỉ trên bãi cỏ, dưới bóng một bờ dậu cao toàn hoa hồng. Cả buổi chiều, họ chuyện trò, đọc sách và hút thuốc lá, cha sở cấm hút thuốc lá trong nhà, ông cho hút thuốc là thói quen đáng ghét và thường nói người nào là nô lệ cho một thói quen thì thật đáng hổ thẹn. Ông quên rằng chính ông cũng là nô lệ của bữa trà chiều.
Một hôm cô Wilkinson đưa cho Philip cuốn La vie de bohême tình cờ tìm thấy khi nàng lục lọi đống sách trong phòng làm việc của cha sở. Cuốn sách này ở trong mớ sách ông mua cùng lúc với một cuốn hồi đó ông cần, những bị bỏ quên từ mười năm nay.
Philip bắt đầu đọc tác phẩm của Murger[4]. Đây là cuốn sách viết tồi ngớ ngẩn nhưng hấp dẫn nên anh mê ngay. Tâm hồn anh rộn lên niềm vui trên cảnh đói được miêu tả một cách vui vẻ, cảnh nghèo sinh động, cảnh yêu đương bẩn thỉu mà lãng mạn, lối hành văn thống thiết giả tạo mà rất cảm động. Những nhân vật như Rodolphe và Mimi, Misette và Schaunard, họ lang thang sống nương thân qua các phố xá xám xịt của khu phố La tinh, lúc ở áp mái nhà này, lúc ở áp mái nhà khác, áo quần kỳ quặc kiểu từ đời Louis Philip[5] lúc khóc lúc cười, tới đâu hay tới đó, không lo lắng. Liệu có ai cưỡng nổi mà không bị hấp dẫn? Chỉ khi nào ta đọc được một nhận định chín chắn hơn, ta mới thấy những thú vui của họ sao mà thô tục, đầu óc sao mà tầm thường. Philip thì vô cùng hoan hỉ với cuộc diễu hành vui nhộn của những kẻ được coi là nghệ sĩ này. Vẻ hân hoan của Philip khiến cô Wilkinson thích chú, cô hỏi:
- Có phải anh muốn đi Pari hơn là ở lại Luân Đôn không?
- Dù tôi có muốn thì bây giờ đã quá muộn rồi! - Anh đáp
Từ khi ở Đức về nửa tháng nay, nhiều cuộc thảo luận diễn ra giữa ông bác và Philip về tương lai của anh. Anh dứt khoát từ chối không chịu đi Oxford. Bây giờ thì khả năng nhận học bổng không còn và ông Carey thì đành kết luận bản thân ông không thể lo liệu cho anh. Toàn bộ gia sản của anh trị giá hai nghìn bảng, và mặc dù đã cầm cố với lãi suất năm phần trăm, cũng không thể sống với lợi tức đó được. Số vốn đó bây giờ có giảm đi một ít. Thật là vô lý mỗi năm phải tốn hai trăm bảng - mức sống tối thiểu trong trường đại học - mà sau ba năm ở Oxford, chắc gì anh có thể ra kiếm sống được. Anh muốn đi ngay Luân Đôn. Bà Carey cho rằng đối với giới thượng lưu chỉ có bốn nghề: Lục quân, Hải quân, ngành Luật sư và nhà thờ. Bà kể thêm nghề y vì em rể bà làm nghề này, nhưng bà không quên rằng vào những ngày bà còn trẻ, không ai xem bác sĩ là người của giới thượng lưu. Hai nghề đầu xem như không cần bàn tới, và Philip thì cương quyết từ chối nghề tôn giáo. Chỉ còn mỗi nghề Luật sư. Ông bác sĩ trong vùng giới thiệu hiện nay nhiều người quý phái yêu chuộng nghề kỹ sư, nhưng bà Carey phản đối ngay ý kiến này. Bà nói:
- Tôi muốn Philip đi vào con đường buôn bán.
- Không được, nó phải có nghề có nghiệp - Cha sở trả lời.
- Tại sao không cho cháu nó làm bác sĩ như chú ấy?
- Cháu rất ghét nghề ấy, - Philip nói.
Bà Carey không tức giận. Nghề Luật sư xem như được chọn. Vì anh không đi Oxford - ông bà Carey thì nghĩ rằng học vị vẫn là cần thiết cho thành công trong nghề này - cuối cùng hai bác quyết định để anh vào tập sự tại văn phòng của một luật sư. Albert Nixon là người cùng với cha sở thực hiện chúc thư của ông Henry Carey, nên ông viết thư cho ông bà luật sư yêu cầu ông vui lòng chấp nhận Philip. Vài ngày sau thì có thư phúc đáp rằng, ông ta không còn chỗ khuyết, vả lại ông ta cũng hoàn toàn không tán thành dự định đó, nghề này đã quá đông người và nếu không có tiền của hay quan hệ thân thuộc thì quá lắm cũng chỉ lên chân thư ký thứ nhất là cùng. Tuy vậy ông gợi ý Philip nên học nghề kế toán, nó có bằng cấp hẳn hoi. Hai ông bà không biết thế nào là nghề kế toán, mà Philip cũng chưa nghe ai nói đến nghề này; một lá thư khác của ông luật sư giải thích: sự phát triển của ngành kinh doanh và sự gia tăng của các công ty đã đưa đến thành lập nhiều hãng kế toán để xem xét sổ sách và đưa vào công tác tài chính của khách hàng một nề nếp mà lối tính toán cũ còn thiếu. Mấy năm trước Nhà vua ban hành sắc luật, nghề này càng ngày càng đáng kính, kiếm ra tiền và quan trọng. Một hãng kế toán có bằng cấp mà ông Albert Nixon dùng trong ba mươi năm nay tình cờ lại thiếu một chân tập sự và họ sẽ nhận Philip với học phí là ba trăm bảng. Một nửa số này sẽ được hoàn lại trong năm năm của thời kỳ học việc dưới hình thức tiền lương. Viễn cảnh này không hấp dẫn lắm nhưng Philip thấy cần phải lựa chọn cái gì đấy, đồng thời ý nghĩ được sống ở Luân Đôn đã thắng tư tưởng thoái lui manh nha trong đầu anh. Cha sở viết thư hỏi ông Nixon liệu nghề đó có thích hợp với người thượng lưu hay không; ông Nixon trả lời rằng từ khi có sắc luật thì nhiều người từng học ở các trường công, các trường đại học cũng xin học, vả lại nếu Philip không thích công việc này, và sau một năm vẫn muốn thôi thì Herbert Cater hiệu trưởng trường kế toán sẽ hoàn lại nửa số tiền đã nộp. Điều này giải quyết được vấn đề và Philip thu xếp để bắt đầu học từ ngày mười lăm tháng chín.
- Tôi có cả một tháng trước mắt. - Philip nói.
- Thế là anh bước đến với tự do, còn tôi thì vào tròng nô lệ.- Cô Wilkinson đáp.
Nàng được nghỉ sáu tuần và sẽ rời Blackstable chỉ một hai ngày trước Philip.
- Không biết có bao giờ chúng ta gặp lại hay không nhỉ. - Nàng hỏi.
- Tôi không biết nữa, nhưng sao lại không.
- Ô, đừng nói cái kiểu thực dụng ấy. Tôi chưa thấy người nào khô khan như anh.
Philip đỏ mặt, sợ cô Wilkinson cho là mình hèn yếu; xét cho cùng nàng là người đàn bà trẻ trung, đôi khi trông rất xinh xắn, còn anh xấp xỉ tuổi hai mươi; thật là vô lý nếu họ chẳng nói gì với nhau ngoài chuyện văn học nghệ thuật. Lẽ ra phải tán tỉnh nàng. Hai người đã nói nhiều về tình yêu, từ chuyện anh chàng sinh viên mỹ thuật phố Breda đến anh chàng họa sĩ ở Pari mà nàng ở lâu trong nhà; anh chàng đến yêu cầu nàng ngồi làm mẫu vẽ và đã ra sức tán tỉnh nàng, đến nỗi nàng phải buộc lòng tìm cớ thoái thác không ngồi làm mẫu nữa. Rõ ràng là cô Wilkinson đã quen với những cách săn đón ân cần như vậy. Lúc này nom nàng rất xinh đẹp với một chiếc mũ rơm to rộng vành. Chiều hôm ấy trời nóng, một ngày nóng nực nhất, mồ hôi lấm tấm thành hàng trên làn môi trên của nàng. Anh chợt nhớ đến Cacilie và anh chàng Sung. Anh không bao giờ nghĩ đến chuyện yêu đương với Cacilie, vì nàng xấu xí quá, nhưng bây giờ đây nghĩ lại, anh thấy mối tình ấy có vẻ rất lãng mạn. Anh cũng đã có cơ hội để mà yêu thương lãng mạn. Cô Wilkinson có thể coi như là người Pháp. Điều này làm cho câu chuyện tình đến với hai người càng thêm thú vị. Ban đêm nằm trên giường, hay khi ngồi một mình đọc sách trong vườn nghĩ đến việc này anh cảm thấy lòng xúc động bồi hồi, nhưng khi nhìn thấy cô Wilkinson thì điều đó lại không còn đẹp nữa.
Dù thế nào sau hết thảy những gì nàng tâm sự với anh nếu anh tỏ tình nàng sẽ không ngạc nhiên. Anh có cảm tưởng kì quái. Có lẽ chỉ là sự tưởng tượng của anh, nhưng vài ngày gần đây một hai lần anh hình dung trong cái nhìn của nàng thoáng ánh lên một cái gì đó như là khinh thường.
- Anh nghĩ gì mà mê mải thế? - Cô Wilkinson mỉm cười nhìn anh hỏi.
- Tôi sẽ không nói đâu. - Anh trả lời.
Anh đang nghĩ là mình phải hôn nàng tại chỗ này, ngay lúc này. Anh tự hỏi không biết nàng có mong chờ điều đó không, nhưng rốt cuộc các anh chẳng biết phải làm thế nào nếu không có những thủ tục mào đầu. Biết đâu nàng sẽ chẳng cho là anh điên, hoặc nàng có thể tát vào mặt anh, hoặc nàng có thể thưa lại với bác anh. Anh tự hỏi không hiểu anh chàng Sung đã bắt đầu với Cacilie như thế nào. Nếu nàng mách với bác trai thì thật là xấu hổ, anh đã biết bác là người thế nào, chắc bác sẽ thuật lại với ông luật sư và Josiah Graves và anh sẽ đúng là một thằng đần độn.
Bác gái Louisa thì cứ một mực bảo cô Wilkinson ba mươi bảy tuổi không hơn không kém. Anh rùng mình khi nghĩ đến mình ở vào tình thế làm trò cười cho thiên hạ, người ta sẽ bảo nàng đáng tuổi làm mẹ anh.
- Anh nghĩ gì thế? - Cô Wilkinson cười hỏi.
- Tôi đang nghĩ đến cô. - Anh bạo dạn đáp. Dù sao thì câu trả lời này cũng chẳng ràng buộc anh.
- Anh nghĩ thế nào?
- À, bây giờ cô lại muốn biết nhiều quá đấy.
- Bé hư nhé. - Cô Wilkinson nói.
Đấy lại thế rồi. Cứ bất kỳ lúc nào anh bắt đầu bạo dạn được thì nàng lại nói một điều gì đó khiến anh nghĩ đến cô dạy trẻ. Nàng gọi đùa anh là bé hư khi không vừa ý về các bài hát của anh. Lần này thì anh dỗi.
- Tôi mong cô đừng xử sự với tôi như với trẻ con.
- Anh bực mình à?
- Rất bực mình.
- Tôi không có ý định như vậy.
Nàng đưa tay ra và anh nắm lấy tay nàng. Khi chia tay nhau trong đêm, một vài bận gần đây anh đã có cảm giác là nàng xiết tay anh có phần hơi chặt hơn, lần này thì không còn nghi ngờ gì nữa. Cuối cùng lúc này cơ hội tỏ tình đã đến mà anh không biết tranh thủ thì thật là ngốc. Anh hoàn toàn không biết mình nên tiếp tục như thế nào. Nhưng đây là thời cơ có phần hơn bình thường mà anh thì mong đợi một cái gì đó hấp dẫn hơn. Anh đã đọc nhiều cảnh về tình yêu, và lòng anh không cảm thấy xúc động dâng trào như các nhà văn mô tả, anh không thấy tràn ngập xúc cảm, mà cô Wilkinson cũng không phải là người lí tưởng. Anh vẫn thường hình dung đôi mắt huyền to tròn, làn da trắng ngần, một cô gái yêu kiều nào đó, và nghĩ rằng mình được áp mặt vào mái tóc nâu vàng gợn sóng của nàng. Anh không sao nghĩ nổi mình áp mặt vào mái tóc cô Wilkinson, mái tóc lúc nào cũng gây cho anh ấn tượng về một cái gì nhớp nháp. Dù sao, nếu có được mối tình vụng trộm anh cũng cũng đã thỏa mãn lắm rồi và lòng anh đã thấy run lên một niềm kiêu hãnh chính đáng khi nghĩ đến anh sẽ chinh phục được nàng. Anh quyết định sẽ hôn cô Wilkinson không phải vào lúc ấy mà vào buổi tối; trong bóng đêm việc đó sẽ dễ dàng hơn, và sau khi hôn nàng, thì mọi việc sẽ trôi chảy hơn. Anh phải hôn nàng ngay tối nay. Anh thề thực hiện cho kì được.
Anh sắp đặt kế hoạch. Ăn tối xong anh ngỏ ý rủ nàng ra vườn dạo chơi. Cô Wilkinson nhận lời. Hai người đi thơ thẩn bên nhau. Philip hết sức bồn chồn, anh không hiểu vì sao mà câu chuyện lại không đi vào đúng hướng, anh đã định đầu tiên là đưa tay quàng ngang lưng nàng, nhưng anh không thể làm được như vậy một cách đột ngột trong lúc nàng đang nói về cuộc đua thuyền vào tuần tới. Anh khéo léo đưa nàng đi vào những chỗ tối trong vườn nhưng đến đấy thì anh không còn đủ can đảm. Hai người ngồi trên một chiếc ghế dài và anh thực sự quyết định đây đúng là thời cơ, thì bỗng cô Wilkinson bảo ở đây có sâu và một mực đòi đi chỗ khác. Họ đi quanh vườn một lần nữa, Philip hứa với mình là phải liều một phen trước khi trở lại chiếc ghế dài. Nhưng khi đi qua nhà họ thấy bà Carey đứng ngoài cửa.
- Này các cháu vào nhà đi có hơn không? Bác cho rằng không khí ban đêm không tốt cho các cháu đâu.
- Có lẽ tốt hơn là chúng ta phải vào nhà. Philip nói
- Tôi không muốn cô bị nhiễm lạnh. Anh nói rồi thở dài nhẹ nhõm. Đêm nay anh không thể cố gắng gì hơn nhưng sau đó khi còn một mình trong phòng anh giận dữ với mình. Mình đúng là một thằng ngốc. Anh tin chắc cô Wilkinson mong đợi anh hôn. Nếu không thì nàng đã không ra vườn. Nàng vẫn thường nói chỉ người Pháp mới biết cách đối xử với phụ nữ. Philip đã đọc tiểu thuyết Pháp. Nếu anh là người Pháp anh sẽ ôm lấy nàng trong vòng tay, anh sẽ đắm đuối nói rằng anh thiết tha yêu nàng, anh sẽ ép môi lên gáy, lên cổ nàng. Anh không hiểu sao người Pháp thường hôn lên gáy đàn bà. Dĩ nhiên đối với người Pháp làm chuyện đó dễ dàng hơn, họ đã được ngôn ngữ bổ trợ, Philip không thể không thấy rằng diễn đạt những điều thiết tha bằng tiếng Anh nghe có vẻ hơi lố bịch. Bây giờ anh mong rằng mình chưa từng bao giờ công hãm đức hạnh cô Wilkinson. Nửa tháng đầu sao mà anh vui đến thế, mà hôm nay anh lại khổ sở đến thế. Nhưng anh quyết không chịu đầu hàng, làm như vậy anh sẽ chẳng còn lòng tự trọng, và anh quyết định dứt khoát đêm sau phải hôn nàng cho được.
Hôm sau thức dậy anh thấy trời mưa, ý nghĩ đầu tiên của anh là tối hôm đó không thể ra vườn. anh vui vẻ phấn chấn vào ăn sáng. Cô Wilkinson sai Mary vào thưa rằng nàng đau đầu nên phải nằm. Đến giờ uống trà nàng mới xuống, mặt nhợt nhạt trong bộ áo choàng xinh đẹp, nhưng đến bữa tối thì nàng đã hoàn toàn bình phục, và bữa ăn rất vui.
Sau khi cầu nguyện nàng nói phải đi nằm ngay. Nàng hôn bà Carey rồi quay sang Philip:
- Trời ơi! Nàng kêu lên. Tôi cũng sẽ hôn cả anh nữa đấy.
- Sao cô không hôn - Anh nói.
Nàng cười và đưa tay ra.
Ngày hôm sau trời không một gợn mây, sau cơn mưa vườn mát dịu. Philip ra bãi biển tắm và lúc trở về anh được một bữa cơm ngon miệng. Buổi chiều họ chơi quần vợt ở tòa nhà cha sở. Cô Wilkinson mặc quần áo đẹp nhất. Tất nhiên là nàng biết cách ăn mặc và Philip không thể không nhận thấy nàng thanh lịch bao nhiêu so với bác gái mình và người con gái đã có chồng của ông thầy giảng đạo. Trên dây thắt lưng nàng gài hai bông hồng. Nàng ngồi trên ghế bên bãi cỏ trong vườn cầm chiếc ô đỏ che đầu hắt ánh lên mặt nàng trông rất hợp. Philip rất mê quần vợt. Anh giao bóng tốt và vì chạy vụng về nên anh chơi sát lưới. Tuy chân vẹo anh cũng nhanh nhẹn, đưa được một đường bóng vượt qua anh cũng khó, anh cũng lấy làm thích chí vì mấy ván anh đều thắng. Đến giờ uống trà anh thở hổn hển, người nóng rực, anh đến nằm dài dưới chân cô Wilkinson.
- Quần áo Phơ la nen hợp với anh đấy, chiều hôm nay trông anh rất đẹp - Nàng nói.
Anh thích thú đỏ mặt.
- Tôi chân thành gửi lại cô lời khen đó. Trông cô đẹp mê hồn.
Nàng cười và đưa cặp mắt đen đăm đắm nhìn anh.
Sau bữa tối anh cố rủ nàng ra ngoài.
- Anh rèn luyện trong một ngày như thế không đủ sao?
- Cảnh ngoài vườn hôm nay thật là tuyệt. Trời đầy sao.
Philip vui vẻ phấn khởi.
- Anh biết không, vì anh mà bà Carey trách móc tôi đó, - Cô Wilkinson nói lúc hai người đi thơ thẩn qua vườn rau, - Bà bảo tôi không được ve vãn anh.
- Thế cô đã ve vãn tôi hay sao? Tôi chẳng nhận thấy điều đó. Bà ấy nói đùa thôi.
- Tối hôm qua cô từ chối hôn tôi. Như vậy là không tốt đâu.
- Giá mà anh nhìn thấy bác anh nhìn tôi, khi tôi nói điều đó.
- Đó là tất cả những gì ngăn cản cô phải không?
- Tôi thích hôn người ta mà không ai nhìn thấy cơ.
- Bây giờ thì chẳng có ai.
Philip ôm choàng tay sau lưng nàng và hôn lên môi. Nàng chỉ khẽ cười mà không có ý rút ra. Sự việc xảy ra hoàn toàn tự nhiên. Philip rất kiêu hãnh về mình. Anh nói là làm và anh đã làm. Thật là việc dễ nhất trần gian. Thế mà trước đây anh mong muốn mình thực hiện điều này từ trước. Và anh lại hôn nàng.
- Ồ không được đâu - Nàng nói.
- Tại sao không?
- Là vì tôi thích thế - Nàng cười.
❀ ❀ ❀
[1] Massenet: (1842 – 1912) nhà soạn nhạc Pháp.
[2] Antony: quý tốc La Mã (83 – 30 trước CN). Anh hùng cái thế trở thành nô lệ sắc đẹp của Cleopatra, nữ hoàng Ai Cập.
[3] Cleopatra: Nữ hoàng Ai Cập, nổi tiếng gì sắc đẹp.
[4] Murger: nhà văn Pháp (1822 – 1864) tác giả Scènes de la vie de bohême (cảnh đời của những kẻ phóng đãng lang thang)
[5] Louis Philip (1773 – 1850) vua nước Pháp từ 1830 đến 1848.