45.
Chẳng mấy chốc Philip hiểu rằng các bạn mình chịu ảnh hưởng của Cronshaw. Chính do ông ta mà Lawson có những ý kiến ngược đời, và thậm chí Clutton là người muốn ra vẻ là mình độc đáo cũng phát biểu ý kiến bằng những lời lẽ mặc nhiên tiếp thu được của con người cao tuổi hơn này. Tại bàn ăn, họ bàn tán ý kiến của ông và căn cứ vào ông, họ hình thành tính cách đánh giá của mình đối với ông. Bù lại sự kính trọng vô ý thức đối với ông, họ cười nhạo những nhược điểm và xót xa những khuyết điểm của ông.
- Dĩ nhiên ông lão Cronshaw đáng thương sẽ không bao giờ làm được việc gì cho ra hồn. Trường hợp của ông ta đúng là tuyệt vọng.
Họ lấy làm tự đắc là chỉ có riêng mình biết đánh giá thiên tài của ông ta và mặc dù lớp trẻ vốn coi thường những chuyện điên rồ của lớp người cao niên, họ vẫn chiếu cố tới sự hiện diện của ông giữa bọn họ, và không quên coi chuyện đó như một điều đáng tự hào nếu như ông ta có chọn một thời điểm nào đó, để tỏ ra ta đây đặc biệt phi thường với chỉ một người nào ở đó. Cronshaw không bao giờ đến nhà hàng Gravier. Bốn năm gần đây ông sống trong cảnh nghèo nàn túng quẫn với một người đàn bà mà Lawson mới gặp một lần trong gian phòng nhỏ hẹp ở gác sáu của một căn nhà ọp ẹp nhất đường bến cảng Des Grands Augustins. Lawson khoái trá mô tả tình trạng bẩn thỉu, rác rưởi bừa bãi.
- Cái mùi sao mà gớm ghiếc! Suýt nữa thì mình nôn mửa!
- Lawson này! Đừng có nói thế, trong bữa ăn - Một người khác phản đối.
Nhưng anh ta không cưỡng lại nổi niềm thích thú được đưa ra những chi tiết sinh động về những mùi mà lỗ mũi anh phải chịu đựng. Anh say sưa mô tả một cách rất hiện thực người đàn bà đã ra mở cửa cho anh. Chị ta có nước da ngăm ngăm, người thấp lùn, béo phị nhưng rất trẻ, mái tóc đen lúc nào cũng như muốn xõa xuống. Chị mặc tấm áo choàng xộc xệch không có coóc xê, má đỏ miệng rông, khêu gợi, mắt long lanh dâm đãng, chị gợi cho người ta nhớ đến bức tranh La Bohemienne ở Louvre của Frans Hals. Cách ăn mặc lòe loẹt tầm thường làm người ta buồn cười nhưng cũng làm người ta kinh tởm. Một thằng bé còi cọc, nhếch nhác đang chơi trên sàn nhà. Người đàn bà dâm đãng này đã lừa dối Cronshaw để giao du với bọn vô lại trong khu phố, đó là điều mà người ta đều biết. Điều bí mật đối với các chàng trai ngây thơ, đã được hấp thụ những điều không ngoan của ông, tại bàn quán ăn, là Cronshaw đầu óc thông minh, sắc sảo, say mê cái đẹp, lại có thể gắn bó với một con người như thế. Dường như ông thích cách ăn nói thô lỗ của nàng, và thường nhắc lại một vài từ ngữ gì đó sặc mùi đầu đường xó chợ. Cronshaw châm biếm gọi chị là “người con gái ông gác cổng của tôi”. Cronshaw rất nghèo. Ông kiếm vừa đủ sống bằng cách viết bài về triển lãm cho vài tờ báo tiếng Anh ở Pari nhưng bị sa thải vì say rượu, tuy vậy ông vẫn còn làm ít công việc lặt vặt cho báo đó, tường thuật về những cuộc bán đấu giá ở khách sạn Drouot hoặc về những buổi trình diễn ở các ca vũ trường. Cuộc sống ở Pari đã thấm vào máu ông, nên cho dù nghèo khó gian khổ nhọc nhằn, ông quyết không đổi nó với bất kỳ cuộc sống nào khác trên đời này. Suốt năm ông ở Pari, cả trong mùa hạ khi mà bạn bè quen biết đều rời khỏi đây, và ông chỉ cảm thấy thoải mái trong vòng một dặm đường quanh đại lộ St. Michel. Ðiều lạ lùng là ông không chịu học tiếng Pháp cho gọi là tàm tạm, và trong bộ quần áo tồi tàn mua ở hiệu La Belle Jardiniere ông vẫn giữ được cái dáng vẻ người Anh không thể nào triệt bỏ. Chắc hẳn ông sẽ là con người thành đạt trên đường đời ở một thế kỷ rưỡi trước đây, khi mà nghệ thuật chuyện trò là tấm hộ chiếu để bước vào xã hội thanh lịch.
- Tôi phải sống ở thế kỷ mười tám - Ông tự bảo - Ðiều tôi cần là một Mạnh Thường Quân. Tôi sẽ xuất bản thơ tôi bằng tiền mua đóng trước và tặng cho một vị quí tộc. Tôi ước mong được sáng tác những vần thơ về con chó xù của một nữ bá tước. Tâm hồn tôi khao khát tình yêu của các nàng thị nữ và chuyện trò cùng các vị giám mục.
Ông trích dẫn nhà văn lãng mạn Rolla: “Tôi sinh ra quá muộn trong một thế giới quá già cỗi”.
Ông thích những khuôn mặt mới, ông mê Philip vì hình như anh đã hoàn thành được một kỳ công là chỉ nói vừa phải để đủ gợi chuyện và không nói quá nhiều để khỏi phá một cuộc đối thoại. Philip bị Cronshaw quyến rũ. Anh không nhận ra rằng những gì Cronshaw nói có rất ít cái mới. Trong chuyện trò, tính cách ông ta mạnh mẽ kỳ lạ. Giọng nói của ông hay, sang sảng, cách diễn đạt sự việc hấp dẫn không cưỡng lại được đối với thanh niên. Mọi điều ông nói dường như kích thích người ta suy nghĩ, và trên đường về, Lawson cùng Philip thường cứ lộn đi lộn lại từ khách sạn người này đến khách sạn người kia, thảo luận mãi về một điểm nào đó trong lời nói tình cờ Cronshaw gọi ra. Philip, vốn mang trong người tính chất của tuổi trẻ háo hức trông chờ ở kết quả cụ thể đã chưng hửng khi thấy thơ của Cronshaw hầu như không đạt được điều mong mỏi. Thơ của ông ta chưa bao giờ được xuất bản thành tập, mà phần nhiều đăng trong các tạp chí định kỳ; và sau nhiều lần được thuyết phục, Cronshaw mới mang lại một mớ giấy in xé ra từ các tập “Sách xanh”, “Tạp chí thứ bảy” và các báo khác, tờ nào cũng có thơ của ông ta. Philip ngạc nhiên thấy đa số những bài thơ này gợi anh phảng phất nhớ đến thơ của Henlay hoặc của Swinburne. Chỉ cần thêm vào giọng ngâm tuyệt vời của Cronshaw là đã biến chúng thành của riêng ông. Anh bày tỏ nỗi thất vọng với Lawson, anh chàng này thận trọng nhắc lại với Cronshaw, và lần sau, khi Philip đến Closerie des Lilas thì nhà thơ mỉm cười dịu dàng nhìn anh.
- Tôi nghe nói anh không coi thơ tôi ra gì.
Philip lúng túng:
- Tất cả điều tôi biết là đọc nó, tôi cảm thấy một niềm vui lớn.
- Anh đừng cố khoan dung với lòng tự ái của tôi - Cronshaw khoát tay béo mập đáp lại - Tôi không hề quan trọng hóa quá quắt thơ tôi đâu. Cuộc đời là để mà sống chứ đâu để làm đối tượng cho những kẻ viết lách. Mục đích của tôi là kiếm tiền, kinh nghiệm đa dạng của cuộc đời, từng giây phút chắt lọc ra những niềm cảm xúc. Tôi xem việc viết lách của tôi là một việc thanh nhã không có mục đích bòn rút, mà ngược lại nhân lên niềm vui cho cuộc đời, còn với lớp hậu thế thì quẳng béng nó đi.
Philip mỉm cười. Rõ ràng con người nghệ sĩ này đã không tạo cuộc đời mình thành một cái gì hơn là một bức tranh tồi tàn bôi bác. Cronshaw trầm ngâm nhàn anh và rót đầy cốc rượu. Ông bảo bồi đi lấy một bao thuốc lá.
- Tôi nói như thế này chắc anh cho là ngộ bởi vì anh biết rằng tôi nghèo, sống trên gác xép với một con đĩ thô bỉ sẵn sàng phản bội tôi với mấy thằng hớt tóc và bồi bàn ở tiệm cà phê. Tôi dịch những cuốn sách rẻ tiền bỉ ổi cho công chúng Anh, viết báo ca ngợi những bức tranh tồi tệ không đáng hưởng cả đến một lời lăng mạ. Nhưng xin anh cho tôi biết ý nghĩa cuộc đời là gì?
- Ông ạ, đấy là một câu hỏi thật khó. Ông thử tự trả lời xem sao.
- Không, làm như vậy thì chẳng có giá trị gì trừ phi tự anh tìm thấy. Nhưng anh nghĩ thế nào, anh sinh ra trên đời này để làm gì?
Philip chưa bao giờ tự hỏi như vậy, nên anh suy nghĩ một lát rồi đáp:
- Ồ, tôi không biết. Tôi nghĩ rằng mình phải làm tròn bổn phận, cố hết sức sử dụng năng lực của mình, và tránh làm hại người khác.
- Tóm lại, làm cho kẻ khác điều gì anh muốn họ làm cho anh có phải thế không?
- Có lẽ là như vậy.
- Giáo lý cơ đốc.
- Không, không phải - Philip bất bình nói - Điều này chẳng liên quan gì đến giáo lỳ cơ đốc. Đây chỉ là đạo lý trừu tượng.
- Nhưng không hề có cái gì gọi là đạo lý trừu tượng cả.
- Nếu như vậy thì cứ giả định rằng, vì say rượu, khi rời khỏi đây, ông bỏ quên ví tiền và tôi nhặt được, thì vì sao ông nghĩ rằng tôi phải trả lại? Đâu phải là vị sợ cảnh sát.
- Đó là vì người ta sợ phạm tội phải xuống địa ngục và muốn ăn ở đoan chính để hy vọng lên thiên đường.
- Nhưng tôi không tin có địa ngục và thiên đường.
- Có thể như thế. Kant cũng không tin khi ông phát minh thuyết mệnh lệnh tuyệt đối. Anh gạt bỏ tín ngưỡng sang một bên, nhưng lại bảo tồn đạo đức từ đó phát sinh. Dù thế nào thì anh vẫn là tín đồ cơ đốc, nếu có một vị Thượng đế trên trời, thì không nghi ngờ gì nữa, anh sẽ nhận được phần thưởng. Đấng Tối cao hầu như không phải một thằng điên để cho người ta xây dựng nhà thờ. Miễn là anh tuân thủ phép tắc của Người, thì dù anh tin hay không tin Người, tôi nghĩ rằng Người cũng không phản đối.
- Nhưng nếu tôi bỏ lại cái ví tiền, chắc nhất định ông sẽ trả lại tôi, Philip nói.
- Không phải vì đạo đức trừu tượng, mà chỉ vì sợ cảnh sát mà thôi.
- Tôi xin cuộc một nghìn ăn một là cảnh sát sẽ không bao giờ tìm ra.
- Tổ tiên tôi sống ở một xứ sở văn minh lâu đời đến nỗi việc sợ cảnh sát ăn sây vào tiềm thức của tôi. Người con gái ông gác cổng nhà tôi nhất định sẽ không do dự lấy một phút nào. Anh sẽ bảo rằng cô thuộc các hạng người tội ác. Không phải đâu, chẳng qua chỉ vì cô ta chẳng hề có định kiến thông thường mà thôi.
- Nếu như vậy thì lý thuyết của ông hủy bỏ cả danh dự, đạo lý, nhân hậu, lễ nghĩa, và tất tần tật… - Philip nói.
- Đã bao giờ anh phạm tội ác chưa?
- Tôi không biết. Tôi cứ cho là như vậy. - Philip đáp.
- Anh trả lời như một luật sư không theo nhà thờ chính thống. Tôi không bao giờ phạm tội ác.
Trong cái áo choàng tồi tàn, cổ áo lật ngược, mũ đội kín đầu, mặt đỏ béo phì, cặp mắt nhỏ bé long lanh, nom Cronshaw khôi hài một cách kỳ lạ, nhưng Philip đang ở trong trạng thái hết sức nghiêm chỉnh nên không cười nổi.
- Ông không làm một điều gì để phải hối tiếc chứ?
- Làm sao mà hối tiếc được khi việc tôi làm là điều tất nhiên không thể tránh? - Cronshaw hỏi ngược lại.
- Nhưng đó là thuyết định mệnh.
- Cái áo tưởng ý chí tự do nó bám rễ sâu xa trong con người đến nỗi tôi sẵn sàng thừa nhận nó. Tôi hành động như một tác nhân tự do. Nhưng khi một hành động diễn ra thì rõ ràng tất cả mọi quyền lực từ nghìn xưa của thế gian kết hợp lại để tạo ra nó, và không điều gì tôi có thể làm còn ngăn cản được nó. Đó là điều không thể tránh khỏi. Nếu là việc tốt, tôi chẳng đòi hỏi công lao, nếu là việc xấu tôi cũng không nhận sự khiển trách.
- Đầu óc tôi đang quay cuồng. - Philip nói.
- Uống chút uýt-kki nhé. - Cronshaw quay lại đưa chai rượu sang. Không có gì làm cho đầu óc minh mẫn bằng thứ này. Phải là đần độn anh mới khăng khăng đòi uống bia.
Philip lắc đầu và Cronshaw nói tiếp:
- Anh không phải là một chàng trai xấu nhưng anh không thích uống rượu. Ngồi nói chuyện mà không có rượu thì chuyện trò sẽ lộn xộn. Khi tôi nói đến cái thiện và cái ác, - ông tiếp nối mạch chuyện, - tôi nói theo thói quen, không gắn ý nghĩa vào những lời nói đó. Tôi khước từ làm một bản phân loại hành động của con người, quy tiếng tốt cho người này tiếng xấu cho người nọ. Những từ ngữ đức hạnh, thói hư tật xấu đối với tôi đều vô nghĩa. Tôi không ca ngợi cũng không chê trách, tôi chấp nhận tôi là cái thước đo mọi sự, là trung tâm của thế gian.
- Nhưng còn có người khác trên thế gian này. - Philip phản đối.
- Tôi chỉ phát biểu cho tôi. Tôi chỉ biết họ như là đường giới hạn các hoạt động của tôi. Vũ trụ xoay quanh mỗi người và mỗi người tự mình là trung tâm của vũ trụ. Quyền của tôi chỉ mở rộng theo lực của tôi mà thôi. Điều gì tôi làm được là ranh giới duy nhất của điều tôi làm. Bởi vì chúng ta thích giao du, chúng ta sống trong xã hội, và xã hội gắn bó với nhau bằng sức mạnh, sức mạnh của vũ lực (đó là nhân viên cảnh sát) và sức mạnh của công luận (đó là cô Grundy). Một bên là xã hội, một bên là cá nhân, mỗi bên là một bộ phận phấn đấu để tự bảo tồn. Đó là sức mạnh chống lại sức mạnh. Tôi đứng một mình, nhất định tôi phải chấp nhận xã hội, và không phải là không vui lòng, vì rằng để đền đáp lại thuế mà tôi đóng, xã hội bảo vệ tôi, một người yếu đuối, chống lại hành động bạo ngược của kẻ khác mạnh hơn tôi, nhưng tôi phục tùng các phép tắc đó. Tôi không biết công lý, tôi chỉ biết có quyền lực. Khi tôi trả công cho cảnh sát, cảnh sát bảo vệ tôi và nếu tôi sống ở một nước mà chế độ cưỡng bách tòng quân có hiệu lực, tôi sẽ phục vụ trong quân đội và quân đội giữ gìn bảo vệ nhà cửa ruộng đất của tôi chống kẻ xâm lược. Thế là tôi thanh toán song phẳng với xã hội; vả lại tôi buộc phải phục tùng pháp luật xã hội mà tôi không công nhận là chính đáng. Xã hội làm ra luật pháp để tự bảo toàn; nếu tôi vi phạm pháp luật, tôi sẽ phải nhận sự trả thù của Nhà nước, nhưng tôi sẽ không coi đó là sự trừng phạt mà cũng không thấy mình có tội. Xã hội cám dỗ tôi phục vụ nó bằng tiền tài, danh vọng, bằng ý kiến của họ, tôi xem thường danh vọng, và tôi không cần đến tiền tài.
- Nếu ai cũng suy nghĩ như ông thì vũ trụ tan tành ngay tức khắc.
- Tôi không làm gì cho người khác. Tôi chỉ lo cho tôi. Tôi lợi dụng đa số nhân loại chỉ vì nghĩ đến những phần thưởng mà làm những việc trực tiếp hay gián tiếp có lợi cho tôi.
- Cách nhìn sự việc như thế theo tôi có vẻ quá vị kỷ. - Philip nói.
- Nhưng anh có cảm thấy rằng con người bao giờ cũng làm bất cứ điều gì mà không vì lý do vị kỷ không?
- Vâng.
- Nhất định con người không thể làm được. Khi anh khôn lớn già dặn hơn, anh sẽ hiểu rằng việc đầu tiên cần phải làm cho thế gian này thành một nơi tàm tạm ở được, là thừa nhận tính vị kỷ tất yếu của loài người. Anh đòi hỏi người khác phải vị tha, có nghĩa là họ phải hy sinh dục vọng của họ cho dục vọng của anh, đấy là một đòi hỏi phi lý. Khi anh đành phải cam chịu một sự thật là trên trần gian này, mỗi một người phải sống cho mình đã, thì anh sẽ ít đòi hỏi hơn đối với người khác. Họ sẽ không làm cho anh thất vọng và anh nhìn lại họ cũng độ lượng hơn. Con người chỉ tìm kiếm một việc ở đời - đó là lạc thú.
- Không, không, không - Philip nói to.
Cronshaw cười khẩy.
- Anh lồng lên như con ngựa con hoảng sợ, vì tôi dùng một từ mà đạo cơ đốc của anh gán cho một cái nghĩa xấu xa. Anh có một hệ thống giá trị trong đó lạc thú xếp ở bậc thang cuối cùng. Anh sôi nổi tự mãn nói về bổn phận, về lòng nhân đức, về tính chân thực. Anh cho lạc thú chỉ là khả năng thưởng thức. Những kẻ nô lệ khốn khổ, những kẻ đã bày đặt ra giá trị đạo đức của các anh, khinh thường một sự thỏa mãn mà họ ít có khả năng được hưởng, anh sẽ không quá hoảng sợ nếu tôi đề cập đến hạnh phúc thay vào lạc thú, nghe ít chướng tai hơn, và tâm trí anh sẽ đi lang thang từ căn nhà bẩn thỉu như ổ lợn của Epicure cho đến khu vườn ông ấy. Nhưng mà tôi nói về lạc thú, vì tôi thấy con người nhằm vào đó mà không nhằm vào hạnh phúc. Chính là lạc thú ẩn náu trong việc thực hiện mỗi một đức tính của con người. Con người hành động mà có lợi cho người khác thì được coi là có đạo đức, nếu con người thấy vui khi giúp đỡ người khác, thì người đó có lòng hữu ái, nếu người ta vui làm việc cho xã hội, thì người ấy có tinh thần lo lợi ích chung, nhưng chính là để mưu cầu lạc thú cho cá nhân anh mà anh cho kẻ ăn xin hai xu, cũng như vì lạc thú cá nhân tôi, uống thêm uýt ki hay xô đa. Tôi bịp bợm kém anh, tôi không vì được lạc thú mà khen ngợi mình, cũng không yêu cầu anh khâm phục.
- Nhưng có bao giờ ông biết được những người buộc phải làm những điều mà lòng họ không muốn không?
- Không, anh đặt một câu hỏi ngớ ngẩn. Điều anh muốn nói là những người đó chấp nhận sự đau khổ trước mắt hơn là niềm vui trước mắt. Lý do phản đối cũng ngớ ngẩn như cách anh diễn đạt nó. Rõ ràng con người chấp nhận sự đau khổ trước mắt hơn niềm vui trước mắt chính vì họ mong chờ một niềm vui to lớn hơn trong tương lai. Niềm vui thường là hão huyền, nhưng họ không gạt bỏ được thói quen tính toán sai lầm. Anh lúng túng vì anh không gạt bỏ được cái quan niệm lạc thú chỉ là khả năng thưởng thức, nhưng thật là trẻ con, một người hy sinh vì Tổ quốc, hy sinh vì anh ta thích thế, cũng hệt như một người ăn cải bắp ngâm dấm vì người đó thích món đó. Đó là quy luật của tạo hóa. Nếu con người lại có thể thích đau khổ hơn lạc thú thì chắc từ lâu loài người đã tuyệt chủng rồi.
- Nhưng nếu tất cả việc đó là đúng - Philip nói to - chẳng còn việc gì là có ích nữa ư? Nếu ông vất hết bổn phận, lòng nhân hậu và cái đẹp thì chúng ta sinh ra trên đời này để làm gì?
- Đấy, phương Đông huy hoàng đang đem đến câu trả lời - Cronshaw mỉm cười nói.
Ông chỉ vào hai người đúng lúc này đẩy cửa vào quán ăn, mang theo một luồng gió lạnh. Họ là người vùng cận đông, chuyên đi lang thang bán những tấm thảm rẻ tiền, mỗi người ôm một bọc hàng hóa. Hôm ấy là tối thứ bảy, quán ăn chật ních những người. Họ đi qua các bàn và hình như họ đem tới một vẻ gì huyền bí cho cái không khí ngột ngạt vẩn đục khói thuốc lá, hầm hập mùi người này. Họ ăn mặc theo kiểu châu Âu, quần áo tồi tàn, áo choảng mỏng manh, xơ xác, mỗi người vấn một mũ khăn (của người Ả rập). Mặt họ tái vì lạnh. Một người đã đứng tuổi, râu đen, người kia là một chàng trai khoảng mười tám tuổi, mặt rỗ chằng chịt vì bệnh đậu mùa và chỉ có một mắt. Họ đi qua trước Cronshaw và Philip.
- Allah thực là vĩ đại và Mohomet là tiên tri của Người - Cronshaw nghiêm trang nói.
Người lớn tuổi bước tới mỉm cười khúm núm như con chó lai hay bị đòn. Y liếc trộm ra cửa và với một cử chỉ lén lút mau lẹ, y đưa ra một bức ảnh khiêu dâm.
- Bác có phải lái buôn Masr-ed-Dine của thành phố Alexandria, hay từ Bagdad xa xôi đem hàng hóa đến đây. Chà, này bác, anh chàng một mắt kia có phải là một trong ba vị hoàng đến mà Sheherazede kể chuyện cho đức chúa công của nàng nghe chăng?
Nụ cười của người bán hàng rong càng quyến rũ hơn tuy không hiểu Cronshaw nói gì, và nhanh như người làm trò ảo thuật, y đưa ra một cái hộp gỗ đàn hương.
- Không, đưa cho chúng tôi tấm vải vô giá của khung cửi phương Đông kia. Bởi vì tôi muốn làm sâu sắc một bài học và tô điểm cho một câu chuyện.
Người cận đông kia trải ra một khăn bàn đỏ vàng, tầm thường, gớm guốc kỳ cục.
- Ba mươi lăm quan - y nói.
- Chà, bác ạ. Khăn trải bàn này không phải thợ ở Samarkande dệt, màu sắc này không phải nhuộm ở các thùng to ở Boukhara.
- Hai mươi lăm quan - người bán rong khúm núm mỉm cười.
- Ultima Thule chính là nơi sản xuất và cả ở Birmingham quê tôi.
- Mười lăm quan. Người có râu khúm núm nói.
- Cút đi. - Cronshaw nói - mong cho lũ lừa hoang làm ô uế mả bà ngoại mày.
Vẫn cứ điềm tĩnh nhưng không cười nữa, người cận đông kia đem hàng đến bàn khác. Cronshaw quay sang Philip.
- Anh đã bao giờ đến viện bảo tàng Cluny chưa? Ở đó anh sẽ thấy những tấm thảm Ba Tư màu sắc thanh tú nhất, họa tiết hoa văn rối rắm mà đẹp đẽ khiến mắt ta say mê, sửng sốt. Ở những bức thảm đó anh sẽ thấy cái huyền bí và cái đẹp khêu gợi của phương Đông, những hoa hồng của Hafiz và cái chén uống rượu Omar; nhưng sau này rồi anh sẽ được thấy nhiều hơn nữa. Vừa mới rồi, anh hỏi ý nghĩa cuộc đời là gì. Hãy đi xem những tấm thảm Ba Tư kia và một ngày gần đây câu trả lời sẽ đến với anh.
- Ông thật là bí hiểm.
- Tôi say rồi. - Cronshaw đáp.