Kiếp Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
44.

❊ ❊ ❊

44.

Tuy vậy, đến chủ nhật sau, khi Price tỏ ý muốn đưa anh đi Louvre, Philip nhận lời. Cô chỉ cho anh xem bức Monna Lisa. Khi nhìn bức tranh anh hơi thất vọng, nhưng vì anh đã đọc đến thuộc lòng những lời châu ngọc mà Walter Pater tô vẽ cho bức họa nổi tiếng nhất thế giới, nên giờ đây anh đọc lại cho Price nghe.

- Ðó hoàn toàn là văn chương - Cô nói với vẻ hơi khinh thường - Anh phải tránh cái đó.

Cô chỉ cho anh xem tác phẩm của Rembrandt và có nhiều nhận xét độc đáo. Cô dừng lại trước bức Các vị tông đồ ở Emmaus.

- Khi nào anh cảm được cái đẹp của tranh này - cô nói - lúc đó anh hiểu được ít nhiều về hội họa.

Cô chỉ anh xem bức Odalisque và La Source của Ingres. Fanny Price là người hướng dẫn độc đoán, cô không để anh muốn xem gì thì xem mà cứ mưu toan gò ép anh phải khen ngợi mọi cái cô khen ngợi. Price là con người nghiêm chỉnh một cách tuyệt đối trong vấn đề nghiên cứu nghệ thuật. Vì vậy trong phòng tranh rộng rãi khi đi qua một chiếc cửa sổ nhìn sang điện Tuileries tràn trề nắng tươi vui và trang nhã như cảnh trong tranh của Raffaelli, Philip kêu lên: - Ôi đẹp quá! Dừng lại đây một lát - thì cô lãnh đạm nói: - Vâng đúng đấy, nhưng chúng ta đến đây là để xem tranh.

Không khí mùa thu vui tươi nhộn nhịp làm cho Philip phấn chấn. Ðến trưa, khi đứng trong sân rộng lớn của Louvre, anh thấy muốn hét lên như Flanagan: “Quẳng béng cái nghệ thuật đi”.

- Này ta đến một tiệm ăn nào đó ở Boul Mich cùng ăn qua loa cái gì chăng - Anh gợi ý.

Price nghi ngại nhìn anh.

- Ở nhà đang chờ tôi về ăn trưa - Cô đáp.

- Không sao, cô để ngày mai hãy ăn. Cứ để tôi đãi cô một chầu trưa.

- Tôi không hiểu tại sao anh muốn thế.

- Ðiều đó làm cho tôi vui thích - Anh mỉm cười đáp.

Họ qua sông, ở góc đại lộ St Michel có một hiệu ăn.

- Ta vào đây đi.

- Không, tôi không vào, ở đấy có vẻ đắt lắm.

Cô kiên quyết đi tiếp và Philip buộc phải theo. Họ đi mấy bước thì đến một quán nhỏ, ở đó có chừng hơn chục người đang ăn trưa trên vỉa hè dưới bóng mát một tấm dù lớn; trên mặt tủ kính bày hàng có thông báo bằng chữ trắng to nét: “ăn trưa một động hai mươi lăm cả rượu”.

- Ta không thể ăn gì ở đâu rẻ hơn đây, trông có vẻ được lắm.

Họ ngồi vào một bàn chưa có người và đợi món trứng tráng là món thứ nhất ghi trên thực đơn. Philip vui thích nhìn khách qua đường, anh có tình cảm với họ. Anh mệt nhưng rất sung sướng.

- Này, chị nhìn người mặc áo choàng kia xem trông anh ta có cừ không?

Anh liếc nhìn Price và ngạc nhiên thấy cô vẫn cúi xuống, không chú ý cảnh tượng đang diễn ra và từ trên má cô chảy ra hai giọt lệ đau buồn.

- Có chuyện quỷ quái gì thế?

- Nếu anh nói thêm một câu nữa với tôi, tôi sẽ đứng lên đi ngay lập tức - Cô đáp.

Anh rất bối rối nhưng may sao đúng lúc đó người ta bưng trứng tráng đến. Anh chia đôi và hai người bắt đầu ăn. Philip cố hết sức nói những chuyện vô thưởng vô phạt và hình như về phần mình Price cũng cố gắng làm ra vẻ vui nhưng nhìn chung bữa ăn trưa hôm ấy không đạt. Philip khó tính, cách ăn uống của cô khiến anh ăn mất ngon. Cô ăn nhồm nhoàm, ngấu nghiến gần giống như một con thú rừng trong chuồng bách thú, và mỗi lần ăn xong một món, cô lấy những mẩu bánh mỳ vét đĩa đến sạch bóng như không muốn để mất một giọt nước thịt nào. Họ ăn đến phó mát Camembert và Philip ghê tởm thấy cô ăn cả cùi và suất của cô, cô ăn đến hết sạch. Nếu anh sắp chết đói, anh cũng không thể ăn ngấu nghiến như thế.

Price tính tình khó hiểu, nếu hôm nào đó anh thân mật chia tay cô, anh không thể khẳng định ngày hôm sau cô không hờn dỗi hoặc thô lỗ, tuy vậy anh đã học được ở cô nhiều mặc dù có vẻ không giỏi. Cô hiểu tất cả những điều cần chỉ bảo, và những gợi ý bền bỉ của cô giúp cho anh tiến bộ. Otter cũng giúp ích cho anh, và thỉnh thoảng Chalice bình phẩm tác phẩm của anh; anh học cách nói nhiều mà lém lỉnh của Lawson và cái tính gương mẫu của Clutton. Nhưng Fanny Price không thích anh hỏi ý kiến mọi người mà không hỏi cô, và khi nói chuyện xong với người khác, anh mới yêu cầu cô giúp đỡ thì cô nhất quyết từ chối thô bạo. Các bạn Lawson, Clutton, Flannagan hay chế giễu anh.

- Phải cẩn thận đấy! Chàng trai ơi - Họ bảo - Cô nàng phải lòng cậu rồi đó.

- Ổ, nói bậy. Anh cười đáp.

Ý kiến cho rằng Price có thể yêu một người nào đó thật là phi lý. Anh rùng mình nghĩ đến hình ảnh xấu xí của cô, tóc tai bết ẩm, tay chân bẩn thỉu, và bộ đồ nâu đã bạc thếch, gấu rách tơi tả. Có vẻ cô túng quẫn, nhưng tất cả bạn học nào có hơn gì cô, nhưng ít nhất cô cũng phải ăn ở cho sạch sẽ và điều chắc chắn là với cây kim sợi chỉ, cô có thể sửa soạn cho xiêm áo gọn gàng.

Philip bắt đầu phân loại cảm tưởng của mình đối với người mình có quan hệ. Anh không còn quá ngây thơ như những ngày ở Heidelberg mà lúc này tựa chừng đã lùi xa vào dĩ vãng, anh đã bắt đầu thận trọng chú ý đến bản chất con người, anh có khuynh hướng khảo sát và phê phán. Trong ba tháng liền ngày nào anh cũng gặp Clutton vậy mà Philip thấy anh ta khó hiểu hơn là ngày mới quen nhau. Mọi người trong xưởng vẽ đều nghĩ rằng anh ta có tài, tin rằng anh ta nhất định làm được những việc lớn, bản thân Philip cũng đồng ý với cách đánh giá đó, nhưng nói thật chính xác anh ta sẽ làm được gì, thì cả Philip và bất kỳ ai đều hoàn toàn không biết. Trước khi đến trường Alnitrano, anh ta đã làm việc tại nhiều xưởng vẽ, ở Julians, the Beaux-Arts và tại trường Mác-Pherson, anh ở trường Amitrano lâu hơn mọi nơi vì anh ta thấy rằng ở đây mình được thảnh thơi nhiều hơn. Anh ta không thích và không như phần đông đám sinh viên mỹ thuật trẻ tuổi, anh ta không yêu cầu ai khuyên bảo mà cũng không khuyên bảo ai. Người ta đồn rằng tại xưởng vẽ nhỏ bé ở đường Campagne Premiere, vừa là phòng làm việc, vừa là phòng ngủ, anh ta có những bức tranh kỳ diệu, nhất định sẽ làm cho anh ta nổi tiếng nếu có ai đó xui anh ta đem triển lãm. Anh ta không có tiền thuê người mẫu mà chỉ vẽ tĩnh vật, Lawson thường nói đến đĩa táo mà anh ta tuyên bố là kiệt tác. Anh ta khó tính và khi nhắm vào cái gì, anh ta hoàn toàn không nắm bắt được đầy đủ nên anh thường không hài lòng tác phẩm của mình một cách trọn vẹn; có lẽ anh ta chỉ thích một bộ phận nào đó của bức tranh, một cẳng tay hoặc cẳng chân hoặc bàn chân của tĩnh vật; thế là anh ta cắt riêng ra giữ lại và hủy chỗ còn lại của bức vẽ. Vì vậy khi người ta đòi xem tranh của anh, anh có thể thật thà trả lời không có một bức tranh nào để đưa cho họ xem. Ở Brotanhơ, tình cờ anh ta gặp một họa sĩ chẳng một ai được nghe nói đến, một gã kỳ quặc trước đây vốn làm mối lái cổ phần chứng khoán mãi đến lúc đúng tuổi mới bắt đầu say mê hội họa. Thế là các tác phẩm của hắn tác động mạnh mẽ đến Clutton. Anh ta liền quay lưng lại trường phái ấn tượng, tìm cho mình một tính cách riêng biệt không chỉ về hội họa mà cả về cách nhìn nữa. Philip nhận ra ở anh ta có cái gì đó rất độc đáo.

Ở Nhà hàng Gravier mà họ đến ăn những buổi tối, ở Versailles hay ở công viên Closerie des lilas, Clutton thường lầm lầm lì lì. Anh ngồi yên lặng, về nhạo báng lộ rõ trên khuôn mặt hốc hác, chỉ lên tiếng khi có dịp vào một câu dí dỏm. Anh thích châm chọc và vui vẻ ra mặt những khi có ai đó ở bên để anh có thể thực hiện sở thích đó. Anh ít nói đến những chuyện khác ngoài hội họa, và lúc ấy chỉ với một vài người mà anh ta cho là xứng đáng. Philip phân vân tự hỏi không biết anh ta có thực sự có một cái gì đó trong tâm hồn. Tính lầm lì, vẻ dữ dội nhưng hài hước cay độc, tất cả những cái đó có vẻ như tính cách nhưng cũng có thể đấy chỉ là một tấm mặt nạ mà bên trong thì rỗng tuếch.

Với Lawson thì trái lại. Chẳng mấy chốc mà Philip trở nên thân mật. Ở con người này có rất nhiều điều thú vị khiến anh chàng thành một người bạn dễ chịu. Anh ta đọc nhiều hơn phần đông các sinh viên khác, mặc dù thu nhập của anh ít ỏi nhưng anh thích mua sách và sẵn lòng cho mượn. Như thể Philip làm quen với Flaubert và Balzac, Verlaine, Heredia, và Williers de I’isle-adam. Hai người thường xem kịch, thỉnh thoảng đến nhà hát Opera-comique bằng những tấm vé hang bét. Rạp Odeon rất gần chỗ họ ở nên chẳng mấy chốc mà Philip cũng chia sẻ niềm say mê những vở bi kịch thời Louis XIV và thể thơ Alexandrin giàu âm điệu. Phố Tournon có Nhà hát Concert Rouge. Ở đây với bảy mươi lăm xu họ được nghe tiếng nhạc tuyệt vời mà lại còn mua thêm được cái gì đó hoàn toàn có thể uống được. Tuy ghế ngồi không thoải mái, rạp lúc nào cũng chật như nêm, không khí ngột ngạt, khói thuốc rẻ tiền, nhưng với tuổi thanh niên sôi nổi, họ dửng dưng không để ý. Thỉnh thoảng họ đến Bal Bullier. Trong những dịp đó, Flanagan cùng đi với họ. Tính dễ bị kích thích và sự hăng hái ồn ào của anh làm cho hai người phì cười. Flanagan là tay khiêu vũ giỏi nên vào phòng chưa đầy mười phút đã thấy anh quay tít với một cô bé bán hàng nào đó mà anh mới làm quen.

Tất cả bọn họ người nào cũng muốn có tình nhân ở Pari. Chuyện này là một phần trong cuộc sống riêng của sinh viên mỹ thuật, điều này làm cho họ được bạn bè kính trọng và là dịp để họ có thể huênh hoang. Nhưng thật khó khăn đối với họ vì tiền cũng chỉ vừa đủ để ăn, và cho dù họ có lý luận rằng phụ nữ Pháp đảm đang, hai miệng ăn cũng chẳng tốn kém hơn một là bao, họ thấy khó mà gặp được một người phụ nữ trẻ nào vui lòng chia sẻ quan điểm đó. Ðại đa số họ chỉ thèm muốn khát khao hoặc lợi dụng những phụ nữ được các họa sĩ đã có tên tuổi vững chắc hơn họ che chở. Thật kỳ lạ là những chuyện này ở Pari lại khó khăn đến thế! Lawson làm quen được với một cô bé và liền hẹn hò gặp mặt. Trong suốt hai mươi bốn giờ anh chàng xốn xang chờ đợi, gặp ai cũng hết lời mô tả người đẹp chim sa cá lặn, nhưng đến giờ hẹn, chẳng thấy cô nàng đến. Khuya lắm mới thấy anh chàng đến nhà hàng Gravier mặt mày nhăn nhó.

- Đồ quỷ quái! Nó lại cho mình ăn thịt thỏ! Mình không hiểu được tại sao lại như vậy, tại sao bọn họ lại không thích mình. Có lẽ tại mình nói tiếng Pháp không giỏi hoặc tại cái tóc đỏ này của mình. Chán quá chừng, ở Pari hơn một năm rồi mà chẳng kiếm nổi được một nàng.

- Tại cậu không biết cách tiến hành - Flanagan nói. Anh này có thể kể lại một bản liệt kê dài dòng đáng ghen tỵ về những cuộc chiến thắng, mặc dù anh em từ chối không tin tất cả những chuyện anh thuật lại, nhưng họ cũng buộc phải thừa nhận rằng anh chàng không hoàn toàn nói dối. Nhưng anh không kiếm tìm những quan hệ lâu bền. Anh chỉ ở Pari có hai năm; đáng lẽ phải vào đại học anh đã thuyết phục được gia đình để anh học mỹ thuật nhưng hết thời gian này anh phải trở về Seattle, đi theo con đường kinh doanh của cha. Anh quyết định phải tận dụng thời gian để chơi bời cho thỏa thích. Trong chuyện yêu đương anh yêu cầu số lượng hơn là chất lượng.

- Tôi không hiểu làm thế nào mà bắt được họ - Lawson giận dữ hỏi Flanagan.

- Việc đó thì có gì là khó khăn hả cu con - Flanagan chỉ cần cậu cứ lao thẳng vào bọn họ thôi. Cái khó là làm sao giữ được bọn họ. Ðó mới là cái cậu cần phải tinh tế.

Philip có quá nhiều bận rộn với công việc, nào đọc sách, nào xem kịch, nào nghe nói chuyện, nên anh không phải băn khoăn lo nghĩ về vấn đề ham muốn với phụ nữ. Anh cho rằng việc đó sẽ đến khi nào anh nói tiếng Pháp trơn tru hơn, anh vẫn còn thiếu thốn thời gian dành cho việc này. Từ ngày anh gặp cô Wilkinson đến nay đã hơn một năm trôi qua. Trong những tuần lễ đầu tiên ở Pari, anh quá bận rộn nên không viết trả lời một lá thư cô viết cho anh ngay trước khi anh rời khỏi Blackstable. Khi có tiếp thư khác, anh biết thư chỉ toàn lời lẽ trách móc, mà anh thì chẳng thích thú gì những thư đó, nên anh xếp vào một chỗ, định bụng sau này sẽ xem, nhưng rồi anh quên bẵng mất một tháng sau cũng không động đến, cho tới khi dốc ngăn kéo tìm bít tất lành, anh mới nhìn thấy bức thư chưa mở mà bàng hoàng cả người. Anh sợ mình đã làm cho cô Wilkinson đau khổ nhiều và anh cảm thấy mình thật là tàn ác, nhưng bây giờ chắc hẳn cô đã hết đau khổ. Chính điều này làm cho anh nẩy ra ý nghĩ rằng phụ nữ thường hay quá quan trọng trong cung cách biểu lộ tình cảm. Nếu là của bọn đàn ông thì chẳng có gì đáng kể và anh quả quyết chẳng có điều gì buộc mình phải gặp lại cô. Ðã lâu quá rồi anh không thư từ, thì nay có viết thư cũng chẳng ích gì. Và anh nhất định không đọc lá thư đó.

- Mình dám chắc cô ta sẽ không viết nữa - Anh nghĩ bụng - Cô ta không thể không thấy mọi sự việc đã kết thúc, và lại cô ấy đã đáng tuổi mẹ mình. Cô phải hiểu biết hơn chứ: Trong mấy tiếng đồng hồ, anh cảm thấy trong người bực dọc. Hiển nhiên thái độ anh là đúng, nhưng anh vẫn thấy không hài lòng với toàn bộ sự việc. Tuy nhiên, Wilkinson không viết nữa mà cũng không bất ngờ đến Pari để biến anh thành trò cười cho bạn bè, như anh lo sợ một cách phi lý. Chẳng mấy chốc anh quên hẳn cô.

Lúc ấy đang là lúc anh dứt khoát từ bỏ những thần tượng cũ của mình. Cảm giác kinh ngạc lần đầu xem tác phẩm trường phái ấn tượng giờ đây đã biến thành sự khâm phục và chẳng mấy chốc mà chính anh nói đến tài của Manet, Monet và Degas cũng hùng hồn như người khác. Anh mua phiên bản bức Odalisque của Ingres và phiên bản Olympia treo cạnh nhau trên giá rửa mặt để khi cạo mặt anh có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của. Bây giờ anh biết chắc hoàn toàn rằng trước Monet hề có tranh phong cảnh, và anh cảm thấy lòng thật sự rộn ràng vui sướng khi đứng trước “Các tông đồ ở Emmaus” của Rembrandt hay bức “Người đàn bà bị bọ chét đốt mũi” của Velasquez. Cũng như Ruskin, Burne-Jones và Watts, Philip đã bỏ chiếc mũ ống và tấm cà vạt màu xanh trắng mộc mạc mà anh dùng ngày mới đến Pari, bây giờ anh vui với chiếc mũ mềm rộng vành, dải cà vạt phất phơ và tấm áo choàng không tay kiểu may lãng mạn.

Anh đi bộ dọc đại lộ Montparnasse như đã cả đời quen với nó và do kiên trì luyện tập, anh đã hiểu cách uống rượu áp xanh mà không thấy kinh. Anh để tóc dài, và nếu như anh không để râu thì chỉ vì tạo hóa đã tàn nhẫn không quan tâm đến những khát vọng bất diệt của tuổi trẻ.

ì hại đâu. - Ồ, thế cùng được. Bà Carey vào phòng làm việc. Sưu tầm sách là niềm say mê duy nhất của ông Carrey; bao giờ đến Tercanbury ông cũng mất vài giờ đồng hồ để đi xem các cửa hiệu sách cũ và lần nào ông cũng trở về với mấy quyển sác
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.