MỘt buổi sángtháng 9 rạng ánh mặt trời, Hillary Rodham Clinton bước ra khỏi tòa biệt thự kiểu tân Georgia của bà ở Washington cho hành trình 20 phút lái xe đến Trụ sở Quốc hội. Sau tám tháng làm công việc đầu tiên của một quan chức dân cử, Hillary vẫn đang thích nghi dần với giới lãnh đạo có xu hướng nhóm họp, và những thói quen kỳ lạ của Thượng nghị viện Hoa Kỳ. Bà càng có ít thời gian hơn để ổn định ngôi nhà 2,85 triệu đôla của mình. Xét cho cùng, bà đã có dịp quan sát Thượng viện với sự chú ý kín đáo trong suốt tám năm sống tại Nhà Trắng. Làm quen với một ngôi nhà không nằm trên Đại lộ Pennsylvania là một thách thức.
Ăn mặc lịch sự trong chiếc quần tây đen và áo sơmi màu xanh da trời, vị thượng nghị sĩ ít thâm niên từ New York mong chờ để dự buổi họp bàn về giáo dục sáng hôm đó. Đó là một đề tài mà bà hiểu rõ ngang với bất cứ thượng nghị sĩ nào, và đó là một diễn đàn hứa hẹn sẽ làm nổi bật những điểm mạnh của bà.
Trước khi leo vào chiếc Suburban màu đen đang đợi ở lối dẫn xe vào nhà, Hillary nghe được tin: Một chiếc máy bay đã đâm vào tháp bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới. Như hầu hết người dân Mỹ khi nghe bản tin đầu tiên đó, Hillary cho rằng đó là một “tai nạn khủng khiếp.” Bà yên vị vào ghế ngồi, và trong khi viên tài xế đang cố luồn lách qua dòng xe cộ vùng tây bắc Washington, radio tường thuật tin một chiếc máy bay thứ hai đã đâm sầm, lần này là vào tòa tháp nam của Trung tâm Thương mại Thế giới.
Bà nhận ra đây không hề là tai nạn.
Thôi thúc đầu tiên của Hillary là phải được biết chắc rằng Chelsea vẫn an toàn. Chelsea đang sống ở khu Manhattan, nơi cô làm việc như một nhân viên tư vấn, và Hillary biết rằng Chelsea đã có ý định đi bộ quanh công viên Battery sáng sớm hôm đó và sẽ dừng lại để uống một cốc cà phê, như thỉnh thoảng cô vẫn uống, gần khu vực hai tòa tháp. Tim đập nhanh, Hillary điên cuồng gọi vào số di động của Chelsea, nhưng cơn sóng dùng điện thoại đột ngột đã làm tê liệt hệ thống mạng di động khu vực Manhattan. Nhiều khả năng là Chelsea không gặp nguy hiểm, nhưng Hillary không thể không nghĩ tới điều tồi tệ nhất.
Sau đó Hillary gọi cho chồng. Vị tổng thống thứ bốn mươi hai của Hoa Kỳ đang ở một nơi cách xa nửa vòng trái đất, nước Úc, để trình bày một bài diễn thuyết. Khi chuông điện thoại của Bill Clinton vang lên, lúc đó là mới trước nửa đêm giờ địa phương, và ông đang ở trong phòng khách sạn, theo dõi những hình ảnh trực tiếp của Trung tâm Thương mại Thế giới bị bốc cháy. Ngay lập tức ông hỏi bà liệu Chelsea có sao không.
Hillary ngập ngừng. Làm sao bà có thể nói với chồng rằng bà không hề biết liệu con gái họ có sao không?
“Mọi việc vẫn ổn,” Hillary nói dối. “Đừng lo lắng.”
Trong lúc đó, Chelsea đang cố gắng một cách tuyệt vọng để gọi điện cho mẹ mình từ căn hộ của một người bạn trong khu Union Square của Manhattan. Có lẽ là do may mắn, cô đã quyết định không chạy bộ buổi sáng hôm đó. Sau khi một người bạn gọi điện báo tin khủng khiếp về vụ đâm thứ nhất, Chelsea đã mở tivi, theo dõi những hình ảnh truyền hình trực tiếp cảnh chiếc máy bay thứ hai càn vào Trung tâm Thương mại Thế giới. Mỗi lần cô gọi vào số di động của mẹ mình, cuộc gọi lại bị ngắt. Hoang mang bởi những hình ảnh trên truyền hình, Chelsea rời căn hộ của người bạn. Ngay lập tức cô thấy hàng trăm người đang lao hết tốc lực ra khỏi trạm tàu điện Union Square. Mọi người trông có vẻ như đang hướng về phía bắc, tránh xa khỏi mũi phía nam bị vây hãm của Manhattan, nhưng Chelsea lại cắm đầu chạy về phía nam, ngược dòng người, tìm cho ra một buồng điện thoại trả trước để gọi cho cha mẹ.
Mình sắp chết rồi, Chelsea thầm nghĩ. Vì một lý do nào đó, sự sụp đổ của hai tòa cao ốc làm cô nhớ về Humpty Dumpty. Mọi việc cứ như cả thế giới đang sụp đổ, như Humpty Dumpty, cô nghĩ.
Sau khi ngừng chạy, cô bắt đầu cầu nguyện cho nước Mỹ và cho thành phố New York. Cô cũng đọc một lời cầu nguyện cho những vị lãnh đạo của đất nước – cho Tổng thống George W. Bush, cho thị trưởng New York Rudolph Giuliani, và dĩ nhiên, cho mẹ mình. “Tôi đã cảm ơn Chúa vì có mẹ mình là một thượng nghị sĩ đại diện cho New York.” Chelsea sau đó kể lại, “Và có Rudy Giuliani là thị trưởng của chúng tôi.”
CHO TỚI KHI ĐẾN ĐƯỢC Trụ sở Quốc hội rồi, Hillary vẫn chưa nói chuyện được với Chelsea. Cùng với đám nhân viên của mình quây quanh, Hillary và hầu hết các thượng nghị sĩ khác túm tụm trước những máy truyền hình ở văn phòng và theo dõi những hình ảnh khủng khiếp. Vào lúc 9 giờ 37 phút sáng, chiếc máy bay bị khủng bố thứ ba đâm sầm vào Lầu Năm Góc, nằm sát rìa thủ đô Washington. Hầu hết một trăm thượng nghị sĩ, gồm cả Hillary, rốt cuộc cũng đã phải sơ tán ra khỏi các tòa văn phòng Thượng viện.
Hillary và một số đồng nghiệp của bà được gấp rút cho vào trụ sở Cảnh sát Quốc hội, một tòa cao ốc bảy tầng, lâu đời hơn, nằm cách Trụ sở Quốc hội vài khu nhà. Có báo cáo là một chiếc máy bay khác bị không tặc đang trên đường hướng về Washington; một vài người lớn tiếng suy đoán rằng mục tiêu tiếp theo là mái vòm Trụ sở Quốc hội hay Nhà Trắng. Giữa mớ hỗn loạn xung quanh mình, Hillary nghe thấy tiếng chuông điện thoại vang lên. Đó là Chelsea. Con gái bà vẫn an toàn. Tiếng nói của mẹ làm những giọt nước mắt lăn tròn trên má Chelsea.
Trong vòng chưa đến sáu mươi phút, những ưu tiên của nước Mỹ đã thay đổi, và theo đó là những ưu tiên của Hillary. Nền kinh tế, ngân sách, giảm thuế, giáo dục, y tế, nghiên cứu tế bào gốc... dường như không có vấn đề nào trong số này còn ý nghĩa nữa. Hillary biết rằng chính sách đối ngoại và chống khủng bố, những lĩnh vực mà bà tương đối có ít kinh nghiệm, nay mang ý nghĩa tối cao. Trên cương vị một thượng nghị sĩ mới vào nghề, Hillary đã đạt được ghế trong những hội đồng chuyên trách một số vấn đề quốc nội quen thuộc, như giáo dục và y tế. Bà đã hoan hỉ với những nhiệm vụ của mình vì chúng cho bà cơ hội “tiếp tục công việc mà tôi đã làm trong hơn ba mươi năm, thay mặt cho trẻ em và các gia đình.” Những nhiệm vụ đó giờ đây trở nên kém quan trọng hơn rất nhiều đối với một thượng nghị sĩ của một tiểu bang vừa chịu đựng vụ tấn công tệ hại nhất kể từ thời Nội Chiến.
Để tìm lời khuyên, Hillary xoay sang chồng bà. Trong gần ba mươi năm, Bill và Hillary đã nhờ vào nhau để có những lời khuyên và sự giúp đỡ, đặc biệt trong những thời khắc khủng hoảng chính trị. Lần này, sự an nguy của quốc gia đang bị đe dọa, Hillary biết rõ theo bản năng rằng bà sẽ phải trông cậy vào Bill hơn bao giờ hết. “Buổi sáng tháng 9 đó đã thay đổi tôi và những gì tôi phải làm với cương vị một thượng nghị sĩ, một người dân New York, và một người dân Mỹ,” Hillary sau đó viết.
Sau khi nói chuyện với Chelsea, Hillary gọi điện cho Bill lần thứ hai để bảo đảm với ông rằng con gái họ vẫn an toàn. Và suốt ngày hôm đó, họ đã có nhiều cuộc nói chuyện dài về quá khứ và tương lai – và về việc chiến lược nên làm gì để đối phó với cả hai. Bill kể lại hai ngày sau đó rằng ông đã nói chuyện với Hillary “khá thường xuyên, suốt cả đêm.” Bà không chỉ là một thượng nghị sĩ của tiểu bang New York, mà còn là một nữ thượng nghị sĩ có tham vọng trở thành tổng thống. Cả Bill và Hillary đều thấu hiểu bằng trực giác rằng một nữ thượng nghị sĩ sau ngày 11 tháng 9 sẽ bị đánh giá không chỉ qua cách nói chuyện về vấn đề “chiến tranh chống khủng bố,” mà còn qua những quyết định của mình.
Chồng bà không phải là vị tổng thống duy nhất mà Hillary hội ý trong ngày dài nhất đó. Buổi chiều hôm ấy, cùng với đồng nghiệp là thượng nghị sĩ New York Charles Schumer, bà nói chuyện qua điện thoại với Tổng thống George W. Bush, người đang ở trong một hầm ngầm tại Căn cứ Không quân Offutt bên ngoài Omaha, bang Nebraska. Vị tổng thống hứa với cả hai rằng ông sẽ “làm hết sức có thể để giúp cứu trợ và phục hồi, và cả những gì cần làm cho những năm sắp tới,” Schumer kể lại.
Vài giờ sau, Hillary xuất hiện trực tuyến trên kênh truyền hình CNN, chỉ vài phút trước khi Bush nói chuyện với cả nước từ Phòng Bầu dục. “Chúng ta đoàn kết lại phía sau ngài Tổng thống,” bà nói. “Đây là một cuộc tấn công vào nước Mỹ và chúng tôi sẽ ủng hộ bất cứ biện pháp nào mà tổng thống tiến hành. Chúng ta không thể để những hành động độc ác này làm chùn bước. Chúng ta sẽ ủng hộ tổng thống.”
Đầu buổi tối hôm ấy, khi mặt trời dần lặn xuống phía sau những rặng cây cao vòng quanh sân Trụ sở Quốc hội, hàng trăm thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ đã tập trung lại trên những bậc thềm của Cánh Đông tòa nhà Quốc hội. Chủ tịch Hạ viện Dennis Hastert và Chủ tịch Thượng viện Tom Daschle nói một vài lời. Rồi đến giây phút yên lặng tưởng nhớ hàng ngàn nạn nhân và các nhân viên cứu hộ. Tiếp đó, khi những ống kính truyền hình trực tiếp quét qua những gương mặt buồn và dữ tợn của những nhà làm luật hãy còn sững sờ, họ cùng nhau hát “Chúa Phù hộ Nước Mỹ.” Bài hát bắt đầu một cách tự phát, nhưng chẳng mấy chốc tất cả các nghị sĩ đã hòa cùng nhau hát lớn và rõ ràng. Lời nhạc của Irving Berlin dường như chưa bao giờ sâu sắc hơn thế, chưa bao giờ cấp bách hơn thế:
Chúa phù hộ nước Mỹ, vùng đất tôi yêu
Đứng bên cạnh Người, và dẫn dắt Người
Xuyên qua màn đêm với ánh sáng trên cao
Ít nhất một máy quay hình đã nán lại trong giây lát ở Hillary khi bà đang hát. Mắt bà long lanh nước.
Ngày hôm sau, các nhân viên cứu hộ vẫn đang kéo những xác chết ra khỏi Lầu Năm Góc, nơi tác động nghiêm trọng của chuyến bay American Airlines số hiệu 77 đã biến phần phía tây của pháo đài quân sự thành đống đổ nát. Ở thành phố New York, một cột khói xám ngàn ngụt xẻ ngang bầu trời, như thể để ra hiệu cho những vệ tinh trên cao biết về điều khủng khiếp đang diễn ra bên dưới. Bàng hoàng và có chung nỗi đau thương, người Mỹ vật lộn để nuốt vào sự tàn ác của biến cố đã xảy ra, trong khi những nhà lãnh đạo của họ đang cố nghĩ ra cách đáp trả.
Cả Hillary lẫn Bill đều biết rằng một công chúng đang dễ bị tổn thương cần những quan chức chính quyền biết vạch ra một quyết tâm vững vàng. Ngay từ hôm 11 tháng 9, Bill đã thúc giục Hillary đưa ra những lời phát biểu táo bạo nhằm cho thấy bà có được sự mạnh mẽ để giúp nước Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh lâu dài chống lại kẻ thù giấu mặt. Ngày tiếp theo, trên sàn Thượng viện, theo lời khuyên của chồng, Hillary ra một lời kêu gọi chiến tranh đầy xúc động và sôi sục. Bà miêu tả những cuộc tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới và Lầu Năm Góc như một “cuộc tấn công vào nước Mỹ” đồng thời kêu gọi một sự trừng phạt nhanh chóng và mạnh mẽ đối với các phần tử khủng bố đã chỉ huy những kẻ cướp máy bay liều chết. Thuật hùng biện của bà rõ ràng là mạnh mẽ hơn so với một số đồng nghiệp Đảng Dân chủ khác. Có một lúc, bà tuyên bố rằng bất cứ quốc gia nào đã nuôi dưỡng những kẻ khủng bố và “bằng bất cứ cách nào giúp đỡ hay dung dưỡng chúng, giờ đây sẽ phải đối mặt với sự phẫn nộ của đất nước chúng ta.” Những lời bình như vậy khiến Nhà Trắng của Bush phải chú ý. “Khi đó chúng tôi đã rất xúc động,” một quan chức Nhà Trắng của Bush cho biết, “Bởi sự mạnh mẽ và ủng hộ đối với chính sách của bài nói chuyện của bà ấy”. Tám ngày sau đó, trong một bài diễn văn trước Quốc hội mà giờ đây đã trở nên nổi tiếng, Tổng thống Bush đã lặp lại lời đe dọa đó của Hillary.
Ấy vậy mà, đối với Hillary, người mà một số bạn bè cho rằng là người cứng rắn nhất chưa từng thấy, hành động thể hiện sự cứng rắn tỏ ra là một thử thách to lớn. Sự thiếu chuyên môn của bà trong cuộc đấu tranh chống khủng bố càng làm tình hình thêm phức tạp. Trong suốt tám tháng trước ngày 11 tháng 9, vị thượng nghị sĩ mới vào nghề đã trình bày tổng cộng gần hai trăm bài diễn văn, thông cáo báo chí, và các bản tuyên bố, nhưng không bài nào trong số đó nhằm vào các vấn đề chống khủng bố. Nhân viên của bà vẫn thiếu những thông quan an ninh để tiếp cận những bí mật an ninh quốc gia nhạy cảm nhất, tuy rằng, hẳn nhiên, Bill vẫn được chia sẻ những thông tin đó. Và trong khi chồng bà là hành trang có uy thế nhất của bà – không chỉ vì kinh nghiệm, mà còn vì sự hiểu biết và nhạy bén rất chính trị của ông – theo nghĩa chính trị thuần túy, thì những sự kiện của ngày 11 tháng 9 chắc chắn đẩy Hillary và Bill ra trước một làn sóng tấn công mới về nhiệm kỳ tổng thống của ông. Với vị thế của mình, rõ ràng công việc bảo vệ di sản của Bill sẽ phải chủ yếu do Hillary đảm trách.
Đột nhiên bà phải đương đầu với những câu hỏi cấp bách nhất: trên cương vị một cựu Đệ nhất Phu nhân, làm thế nào bà có thể bảo vệ cho chính quyền Clinton khỏi những lời buộc tội rằng nó đã không làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn một cuộc tấn công chống lại nước Mỹ? Trên cương vị một thượng nghị sĩ mới vào nghề, bà có thể làm gì để giúp đỡ New York cùng đất nước hồi phục và tránh khỏi một cuộc tấn công khác?
Hillary rỜi TrỤ sỞ QuỐc hỘichiều hôm đó và bay cùng những phụ tá lâu năm của bà đến sân bay LaGuardia. Trên máy bay có Joseph Allbaugh, một đồng minh thân cận của Tổng thống Bush và là Giám đốc Cơ quan Quản lý Tình trạng Khẩn cấp Liên bang (FEMA), và Schumer, người mà mối quan hệ phức tạp với Hillary sẽ được thử lửa trong những ngày sắp tới. Từ LaGuardia, nhóm ba người bay trên một chiếc trực thăng ngang qua Vùng bình địa (Ground Zero). Một cảnh tượng kinh hoàng và khủng khiếp: ở nơi đã từng mọc những tòa cao ốc chọc trời, giờ chỉ còn là một bãi đổ nát cùng khói và hồn ma của hàng ngàn người vô tội.
Hillary và Schumer sau đó cùng gặp Giuliani, Thống đốc bang New York George Pataki, những người lính cứu hỏa, viên chức FEMA, và hàng trăm người Mỹ khác vẫn đang tìm cách cứu người từ đống đổ nát còn âm ỉ cháy. Tại Vùng bình địa, Hillary dành hàng giờ nói chuyện với Pataki và Giuliani. “Về cấp độ nhân bản, đây là một trong những trải nghiệm đẹp nhất mà tôi có được,” Hillary cho biết hai tuần sau đó. “Chúng tôi đã thật sự gắn kết. Tôi không biết phải dùng cách nào khác để diễn tả điều đó.”
Kế tiếp, Hillary hội ý riêng với Schumer. Cả hai nhất trí rằng đề nghị ban đầu của chính quyền Bush dành 20 tỷ đôla để viện trợ cứu nguy liên bang khẩn cấp cho New York, Washington, và Pennsylvania là chưa thật đủ. Hai người muốn gói trợ cấp được nhân lên gấp đôi thành 40 tỷ đôla, với một nửa trong số đó dành riêng cho New York. Những phụ tá cho cả hai thượng nghị sĩ cho biết con số 20 tỷ đôla thêm cho New York không dựa trên cơ sở vững chắc nào. Hillary sau này giải thích, “Nếu (chính quyền Bush) có thể dành 20 tỷ đôla cho cuộc chiến (chống khủng bố), tôi nghĩ họ có thể dành 20 tỷ đôla để giúp xây dựng lại thành phố. Và đó là con số hợp lý như bất kỳ con số nào khác.”
Buổi chiều ngày hôm sau, cả hai thượng nghị sĩ quay trở về Washington tham gia một cuộc họp với Tổng thống Bush trong Phòng Bầu dục. “Chúng tôi đứng bên ngài,” Hillary nói với tổng thống. “Chúng tôi đứng cạnh ngài, đoàn kết trong Quốc hội, và đoàn kết như một quốc gia.” Schumer hỏi thẳng Bush liệu ông có sẵn sàng nhân đôi gói viện trợ cứu nguy, với 20 tỷ đôla dành riêng cho thành phố New York hay không.
“Được,” vị tổng thống đáp, không chút do dự.
Sự hào phóng của việc đồng ý tức thì của Bush làm mọi người trong Phòng Bầu dục sững sờ. Hillary sau này kể lại giây phút đó như “một trong những giây phút xúc động nhất mà tôi chắc hẳn sẽ còn mãi nhớ.” Bà tiếp, “Tôi đã từng ở trong căn phòng đó rất nhiều lần, và tôi hiểu sức mạnh của tổng thống là để động viên trong những thời khắc khó khăn nhất.” (Thực ra, câu trả lời nhanh lúc đó của Bush cho yêu cầu cấp nhiều tiền hơn không phải hoàn toàn tự phát như nó có vẻ vào lúc đó. Trước buổi họp, tổng thống đã được thông báo trước về lời yêu cầu, và sau khi tự hài lòng với mình rằng đó là một yêu cầu chính đáng, ông đã ra hiệu đồng ý cho những phụ tá của mình. “Chúng tôi đã được ra dấu trước,” một viên chức Nhà Trắng cho biết.)
Vẫn còn trong cơn xúc động bất ngờ, Hillary rời buổi họp và nói với những phóng viên trên bãi cỏ Nhà Trắng rằng bà sẽ đứng phía sau Tổng thống Bush “trong một khoảng thời gian dài sắp tới.”
Vào thời điểm đó, thật khó kiếm ra một ai không ủng hộ tổng thống. Nhưng đối với Hillary, sự ủng hộ của bà đối với tổng thống thể hiện một điều thật sự phi thường. Khi mới vào Thượng nghị viện, bà đã nhanh chóng kết luận rằng Bush và những thành viên lâu năm của chính quyền của ông ta, cùng với những đồng minh đại biểu Quốc hội, đang “sử dụng tất cả điểm tựa quyền lực có được để xóa bỏ những tiến bộ kinh tế, xã hội, và toàn cầu đã đạt được dưới thời chồng tôi làm tổng thống.”
“Tôi thừa nhận mình đã nhìn viễn cảnh đó một cách lờ mờ bởi tôi luôn tin chồng mình là một vị tổng thống rất tốt, người đã để lại một đất nước được chuẩn bị tốt cho tương lai,” Hillary kể lại trong hồi ký. “Tuy nhiên, không lâu sau, tôi nhận ra rằng nghị trình (của Bush) không phải là làm xói mòn những thành quả của Bill đã đạt được trong hơn tám năm, mà là phá hủy hàng thập kỷ các chính sách, bảo hộ, và cơ hội là những thứ đã xây dựng lên tầng lớp trung lưu Mỹ giàu mạnh trong nước và duy trì các khối liên minh nước ngoài.” Và ngay trong chính Thượng viện, bà đã chỉ trích gắt gao chính quyền về một loạt những vấn đề, từ bảo vệ môi trường đến y tế.
Nhưng hai ngày sau các vụ tấn công khủng bố, Hillary ngăn lại và bỏ sang một bên những đánh giá khắc nghiệt trước đó. Bà đã chuẩn bị đứng bên cạnh tổng thống, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc bà sẽ phải bắt đầu nghĩ cách đối phó với thành tích chống khủng bố của chồng mình.
Tối đó, Hillary có lịch thực hiện ba cuộc phỏng vấn với hai đài truyền hình. Trong Bản tin Buổi tối của đài CBS, Hillary kể cho Dan Rather về việc tổng thống Bush dành 20 tỷ đôla viện trợ khẩn cấp cho New York. Rather liền nhanh chóng đánh vòng sang chuyện khác và hỏi bà về những nỗ lực của chồng bà để đối phó với Osama Bin Laden, kẻ cấp tiền cho khủng bố Arab Saudi, mà nhóm Al Qaeda của hắn đã được các quan chức tình báo xác định chính là kẻ tổ chức những vụ tấn công.
Đó là một thời khắc mà Hillary hẳn đã tiên liệu rồi, nhưng có vẻ như nó đã đến sớm hơn bà tưởng. Bà dừng mất một lúc trước khi trả lời. “Ờ, Dan, tôi vẫn luôn lo ngại về mối đe dọa khủng bố,” bà nói. “Tôi cho nó là mối đe dọa số một của quốc gia chúng ta.” Đó là một câu trả lời kỳ quặc, nếu xét đến sự thiếu tham gia của bà trước đó ở lĩnh vực này. Trên thực tế, trước ngày 11 tháng 9, Hillary chưa bao giờ nói chuyện trước công chúng trên cương vị của một thượng nghị sĩ về một mối đe dọa quốc gia nào đó đối với Mỹ. Hillary sau đó nhắc lại những hành động của chính quyền Clinton trong cuộc chiến chống khủng bố. Bà kể về sự giận dữ của chồng mình trước “việc khó khăn lắm mới lấy được tin tình báo tốt, mới biết được một nghi phạm khủng bố đang ở đâu, của việc cứ phải trông cậy vào những người – mà lòng trung thành của họ không phải dành cho nước Mỹ.”
Không lâu sau đó, Hillary xuất hiện trực tuyến trên CNN. Người dẫn chương trình Judy Woodruff xin bà cho ý kiến về một tin tức vừa mới được biết sơ qua điện thoại. Mẩu tin cho biết vào những tuần cuối cùng của nhiệm kỳ, Tổng thống Clinton đã tính đến một cuộc tấn công tiêu diệt Bin Laden sau khi những kẻ khủng bố đánh bom tàu chiến USS Cole tại cảng Yemen vào tháng 10 năm 2000. Nguồn tin một phần dựa trên thông tin từ một viên chức lâu năm của chính quyền Clinton.
Hillary có vẻ như xác nhận điều khẳng định của mẩu tin.
“À, Judy, tôi có được chia sẻ hết mọi thông tin đâu,” Hillary đáp. “Tôi biết rằng từng có tin tình báo về địa điểm của hắn. Cũng đã từng tiến hành một kế hoạch để cố gắng định vị chính xác địa điểm của hắn. Theo như tôi nhớ, kế hoạch này dựa vào cơ quan tình báo con người, tức những người trên mặt đất cung cấp thông tin cho chúng tôi. Và theo như tôi nhớ thì vào những phút cuối, những cơ quan đó tỏ ra không đáng tin cậy và không có khả năng tạo nền tảng cho một chỗ dựa vững chắc cần có để phát động một cuộc tấn công như chúng tôi đã tính toán.” Thực ra, về sau, câu chuyện hóa ra không có thật. Trong báo cáo của mình, Ủy ban 11 tháng Chín kết luận rằng lần cuối Tổng thống Clinton tính đến một cuộc tấn công quân sự nhằm vào bin Laden là vào tháng 5 năm 1999, hai mươi tháng trước khi gia đình Clinton rời khỏi Nhà Trắng và trước vụ tấn công tàu Cole khá xa.
Buổi tối hôm đó, lần xuất hiện cuối trên truyền hình của Hillary là trong chương trình Larry King Trực tuyến của CNN. Khi King yêu cầu Hillary nói về bản tin mô tả cái được cho là nỗ lực một mất một còn nổi tiếng của chồng bà hòng tiêu diệt Bin Laden, thì lần này bà né tránh câu hỏi. Thay vào đó, bà nhắc nhở người xem truyền hình về những cuộc tấn công của chính quyền Clinton “vào những căn cứ của Bin Laden ở Afghanistan” hồi tháng 8 năm 1998. Quân đội Mỹ đã đánh bom hai trong số các trại huấn luyện của Al Qaeda và một nơi được nghi là nhà máy hóa chất của Al Qaeda ở Sudan. Hillary mô tả cuộc tấn công đó như thành công một phần, tuy bà vẫn đủ biết điều để đưa ra lời nhượng bộ rõ ràng: “Chúng tôi đã không thành công trong việc diệt trừ Bin Laden và mạng lưới của hắn.”
Thứ sáu, ngày 14 tháng 9 năm 2001, Hillary ngồi trả lời một cuộc phỏng vấn truyền hình phát trên toàn quốc, lần này là với Katie Couric trên chương trình Today của đài NBC. Sự xuất hiện của bà lần này có tính chất cá nhân hơn hẳn ba buổi phỏng vấn bà đã tham dự vào tối hôm trước, ví dụ bà miêu tả nỗi lo lắng của bà trong giờ đầu tiên sau các cuộc tấn công, khi bà không thể liên lạc được với Chelsea. Bà cũng tỏ ra bớt bảo vệ thành tích chống khủng bố của Bill khi nói một cách hùng hồn – và, hóa ra lại như tiên tri – về những thách thức của cuộc chiến lâu dài chống khủng bố, một cuộc chiến chẳng bao lâu nữa sẽ bắt đầu. Bà nói, nước Mỹ, sẽ bước vào một cuộc chiến phi quy ước và phức tạp, chống lại một đối thủ cứng đầu và dai dẳng. “Đó là một kẻ thù khác với tất cả những kẻ thù chúng ta từng gặp,” bà giải thích. “Nó sẽ không giống như trận đánh bom ở Trân Châu Cảng và ngay lập tức biết cuộc tấn công là đến từ đâu và chúng ta cần phải làm gì để đánh bại được quốc gia đã gây ra cuộc tấn công đó.”
Rời trường quay NBC phía tây bắc Washington, bà lái xe đến Nhà thờ Washington, tại đó bà cùng chồng tham dự một buổi lễ cầu nguyện cho quốc gia. (Ngày hôm trước, Bill đã bay về New York từ Australia trên một chiếc phi cơ của Không quân do Tổng thống Bush cung cấp.) Mắt quầng thâm vì mất ngủ, bà lặng lẽ ngồi xuống một chỗ dành riêng gần hàng ghế đầu với chồng, tay họ đan chặt vào nhau. Cuối ngày hôm đó, khi được hỏi liệu sẽ làm gì nếu ông vẫn còn là tổng thống. Bill đáp “Điều quan trọng là tôi hành động như một dân thường và tôi sẽ ủng hộ Hillary.”
Chiều hôm đó, Quốc hội chấp thuận khoản viện trợ khẩn cấp 40 tỷ đôla. Hillary và những thành viên khác của đoàn dân biểu New York được khen ngợi cho việc bảo đảm rằng New York sẽ nhận được ít nhất là một nửa khoản phân bổ cho những nỗ lực tái thiết của mình.
ChẲng có gì lẠkhi một thượng nghị sĩ New York lại kề vai với tổng thống trong giai đoạn khủng hoảng. Nhưng cách Hillary chọn vị thế cho mình đã có tác dụng, một cách tinh tế, trong việc bắt đầu tách bạch bà ra khỏi thành tích của chồng bà. Việc nhanh chóng tách mình ra khỏi di sản của Bill về một chính trị, là quan trọng và thiết thực. Trong một cuộc thăm dò cuối tuần đó, nhiều người Mỹ đổ lỗi cho chính quyền Clinton hơn là chính quyền Bush về những vụ tấn công khủng bố. Vì không biết nhiều lắm về việc mỗi chính quyền đã cố gắng đối phó với Al Qaeda như thế nào, công chúng có vẻ như rút ra kết luận này chỉ từ một thực tế là Bill Clinton đã có tám năm để ngừng bọn khủng bố lại, trong khi George W. Bush chỉ mới có tám tháng.
Sau lễ tưởng niệm, Hillary bay đến New York, và Bush cũng vậy. Ở Vùng bình địa, ông xuất hiện một cách hình tượng, đeo huy hiệu của lính chữa cháy, tập hợp những nhân viên cứu hộ, và nói với đám đông qua một cái loa cầm tay, “Tôi có thể nghe thấy các bạn... cả thế giới nghe thấy các bạn, và những kẻ” – Bush dừng trong giây lát trong khi cả đám đông đang nở phồng cả mũi – “và những kẻ đã đánh sập những tòa nhà này cũng sẽ sớm nghe thấy chúng ta”. Hillary đứng bên cạnh và hoan hô lời thề của tổng thống.
Với mỗi ngày trôi qua trong tuần đó, Hillary dường như trở nên thoải mái hơn trong vai trò một chiến binh đường phố đầy sinh lực trong một thành phố bị tàn phá. Bà đã chứng tỏ trong suốt chiến dịch tranh cử vào Thượng viện của mình rằng bà giỏi thế nào trong môn “chính trị bán lẻ”, và trong tuần đầu tiên đó, mọi bước đi của bà dường như đều đúng. Hẳn nhiên, không thể chối cãi là bà có phần nào bị lu mờ trước đối thủ cũ của mình, Thị trưởng Giuliani, người về sau được tôn vinh là “Thị trưởng của nước Mỹ”, vì những giải pháp của ông cho vùng Hạ Manhattan ngay những giờ đầu sau cuộc tấn công và vì thành tích của ông trong việc gắn kết thành phố lại với nhau kể từ đó. Tuy vậy, đối với nhiều người dân New York, hình ảnh Hillary đấu tranh để có khoản viện trợ liên bang 20 tỷ đôla cho Hạ Manhattan, rồi đứng trên đỉnh đống đổ nát cùng tổng thống và Thị trưởng Giuliani, đã xua tan mọi nghi ngờ còn sót lại rằng bà là một chính trị gia hào nhoáng từ nơi khác tới đây trục lợi, chỉ có vài mối ràng buộc ít ỏi với tiểu bang mới của mình. “Mọi người giờ xem bà như một thượng nghị sĩ,” Bob Kerry, cựu Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ đến từ Nebraska và là hiệu trưởng trường New School ở thành phố New York, nhận xét.
Tuy nhiên, nằm trong tâm điểm chú ý của mọi người, cũng có những bất lợi của nó, và Hillary nhanh chóng được nhắc nhở rằng vẻ hào nhoáng có thể nhẫn tâm thế nào. Ngày 20 tháng 9, Tổng thống Bush chủ trì một cuộc họp chung của Quốc hội. Ông chính thức xác định Al Qaeda là thủ phạm của các cuộc tấn công 11 tháng 9. “Hoặc các bạn đứng về phía chúng tôi, hoặc các bạn đứng về phía bọn khủng bố,” Bush tuyên bố. “Từ hôm nay trở đi, bất cứ quốc gia nào tiếp tục dung dưỡng hay ủng hộ chủ nghĩa khủng bố sẽ bị nước Mỹ xem như một chế độ thù địch.” Những lời bình của tổng thống giống hệt những nhận xét của Hillary đã phát biểu ở cùng một phòng họp vào tám ngày trước. Tuy nhiên, bất chấp hai thông điệp khá giống nhau, gần một tá lần trong suốt bài diễn thuyết, ống kính cho thấy Hillay đảo tròn mắt, vỗ tay lấy lệ, nói chuyện rôm rả với Thượng nghị sĩ Schumer trong khi tổng thống đang nói, và lắc lắc đầu trong lúc thỉnh thoảng cười ha hả và tỏ ra giả vờ thích thú với bài diễn văn của tổng thống.
Vòng quanh đất nước, có một phản ứng nhanh chóng và gay gắt. Một giáo viên bang Atlanta tên Kathie Larkin đã viết một lá thư cho biên tập viên của tờ Atlanta Journal-Constitution, “Đây là kiểu cư xử tôi sẽ không chấp nhận ở những học trò lớp sáu của mình khi đang nghe một người thuyết trình, vậy mà tôi đã mong chờ cái gì đó hay ho hơn chứ ở một người lớn từ một tiểu bang bị tàn phá bởi bạo lực của bọn khủng bố. Bà Hillary cần phải trưởng thành.” Trong một lá thư được đăng trên tờ Washington Post, James Gale từ Silver Spring, Maryland, quan sát rằng Hillary “có những lúc tỏ ra chán chường và không hứng thú, vỗ tay lấy lệ, và những lúc khác thì lại nói chuyện giữa bài diễn văn. Tôi nghĩ những hành động của bà vào lúc khó khăn này đang đi ngược với vị thế của một thượng nghị sĩ.” Suốt mấy tuần liền, các nhà bình luận và các nhà báo giữ chuyên mục thuộc phái bảo thủ, được khuấy động bởi những đặc vụ Đảng Cộng hòa (bằng cách gửi những thông cáo báo chí tin tường thuật chi tiết về những phản ứng đã được phát hình của Hillary), đã đồng loạt giễu cợt những biểu lộ kỳ quặc trên nét mặt của Hillary trong suốt bài diễn văn. Tuần báo bảo thủ Human Events dự đoán rằng những biểu lộ trên nét mặt của Hillary phản ảnh cảm giác của bà về một cơ hội chính trị đã bị bỏ lỡ: “Một nhà quan sát hay hoài nghi hơn có thể ngờ ngợ rằng có lẽ Hillary đang cay đắng, vì với cương vị một tổng thống thời chiến, khả năng tái cử của Bush đã hầu như dập tắt những tham vọng của bà cho kỳ bầu cử năm 2004.”
Vài ngày sau, Hillary ngồi xuống trong văn phòng Thượng viện của mình với Nicholas Lemann của tờ The New Yorker. Như hầu hết các cử tri của mình, Hillary nhìn về quá khứ của chính mình như một cách để lấy lại dũng khí về mặt tinh thần hầu vượt qua cơn khủng hoảng. Lemann hỏi bà việc những người dân Mỹ sẽ phản ứng thế nào khi nhận ra rằng họ đang phải hứng chịu một sự giận dữ chết người.”
“Ồ, tôi biết rõ rằng có chuyện như thế chứ,” bà nói. “Một trong những trải nghiệm khó khăn nhất mà cá nhân tôi từng gặp khi còn ở Nhà Trắng là trong một cuộc tranh luận về y tế, tôi trở thành mục tiêu của sự giận dữ lạ thường. Tôi nhớ lúc đó là ở Seattle. Tôi đến đó để đọc một bài diễn văn về y tế. Thời điểm đó chắc vào khoảng tháng 8 năm 1994. Những người dẫn chương trình trò chuyện trên đài phát thanh đã thúc giục thính giả đến rồi la rồi hét rồi nổi nóng và ngăn cản mọi người nghe tôi nói. Có cả những lời đe dọa, và một vài người nhất định không muốn tôi nói, và họ bắt đầu tước vũ khí của mọi người, và bắt bớ người. Tôi đã chứng kiến tận mắt cơn giận dữ và sự căm hờn vô lý này, đổ lên một người mà bạn không hiểu rõ, một lý do mà bạn coi nhẹ – hay bất cứ điều gì thúc đẩy người ta (giận dữ).” Tuy nhiên, Hillary vẫn lạc quan về tương lai: “Tôi nghĩ chúng ta đã nhận ra rằng cái cảm giác bất khả xâm phạm, vốn là tượng đài của tâm lý Mỹ, đã bị tan vỡ,” bà nói. “Chúng ta giờ đây đứng vai kề vai với dân Israel, những người lo lắng khi đi đến tiệm pizza. Hay với người dân London, những người thức dậy mỗi ngày và đối mặt với những quả bom suốt thời gian xảy ra Cuộc chiến Anh quốc. Hay với hầu hết phần còn lại của nhân loại đã từng tồn tại, và đang tồn tại, những người mà cuộc sống của họ được hình thành từ những hiểm nguy của cuộc sống. Nhưng đó không nên là một cái cớ để đầu hàng nỗi sợ hãi hay buông xuôi cuộc sống. Mục đích của chủ nghĩa khủng bố là gây khiếp sợ. Và cách duy nhất để một kẻ khủng bố đạt được chiến thắng sau cùng là khi bạn cho phép hắn đánh gục bạn.”
Hai tuần sau, trong một buổi tối trung tuần tháng 10 tại Madison Square Garden, “Buổi hòa nhạc vì New York” được tổ chức để gây quỹ cho những nạn nhân của cuộc khủng bố. Màn trình diễn chính là của cựu thành viên ban nhạc Beatle Paul McCartney. Thị trưởng Giuliani, Thống đốc Pataki, và Bill Clinton xuất hiện trong chốc lát, và mỗi người được chào đón nồng hậu bởi cả đám đông chật ních hai chục ngàn người, đa số là lính cứu hỏa và cảnh sát New York. Nhưng khi Hillary bước lên sân khấu, bà phải đương đầu với một dàn đồng thanh mạnh mẽ của những tiếng la ó và ngắt lời – một phản ứng không bất ngờ nếu biết rằng lính cứu hỏa và hội liên hiệp cảnh sát đã không ủng hộ cuộc ứng cử thượng viện của bà vào năm 2000 cộng với những bất mãn về hành động của bà trong suốt bài diễn văn của ông Bush.
“Cám ơn! Cám ơn các bạn đã đến đây tối nay!” Hillary bắt đầu nói, nhưng tiếng la ó lộn xộn và ngắt lời chỉ càng trở nên lớn hơn. Khi đó bà bắt đầu nói to hơn để có thể nghe được qua những tiếng ầm ĩ. “Cám ơn các bạn vì đã ủng hộ New York! Cám ơn vì sự rộng lượng của các bạn!” Từ đám đông, những người cảnh sát và lính cứu hỏa la hét, “Xuống khỏi sân khấu!” và “Chúng tôi không muốn bà ở đây!” Hillary mỉm cười, phớt lờ những người ngắt lời, và cho qua mọi chuyện.
Về sau, Hillary miêu tả những tiếng huýt sáo và la ó “gần như là một phần của quá trình làm lành” của những người cảnh sát và lính cứu hỏa, và thêm vào rằng bà không cay cú vì những phản ứng của họ. “Họ có thể xả hơi theo bất kỳ cách gì họ muốn,” bà nói với một cái nhún vai. “Họ đáng được như vậy.” Một chương trình truyền hình buổi hòa nhạc phát sau đó trên VH-1 và sau đó phát hành ra đĩa DVD đã thay thế những tiếng la ó khi Hillary bước lên sân khấu bằng những tiếng cổ vũ nồng nhiệt.
Mùa thu năm đó, Hillary đồng bảo trợ cho một dự luật phát hành một loại tem thư Mỹ có giá đặc biệt để gây quỹ cho gia đình của những nhân viên cứu hộ đã hy sinh trong ngày 11 tháng 9. Đó là một loại cử chỉ tượng trưng, khiêm tốn mà bà bỏ ra nhiều thời gian trong vài tháng tiếp theo để thực hiện. Bà cũng diễn thuyết về một số đề tài liên quan đến các cuộc tấn công khủng bố – an ninh sân bay, khủng bố sinh học, an ninh biên giới – nhưng sự tham gia của bà chủ yếu giới hạn ở những lời phát biểu công khai tại những cuộc họp báo hoặc được thông báo bởi nhân viên của bà, vì những nhiệm vụ của ủy ban đã không cho phép bà được rộng chỗ để tham gia về mặt lập pháp vào vấn đề này. Bà ủng hộ sự xâm chiếm của Bush đối với Afghanistan nhằm dẹp tan Taliban, một chính quyền đã cung cấp nơi ẩn náu an toàn cho Al Qaeda cùng những trại huấn luyện của chúng. Và vào ngày 25 tháng 10, bà đã bỏ phiếu thông qua Đạo luật Yêu nước (the Patriot Act), đạo luật đã trao nhiều công cụ mới cho những nhân viên thi hành luật pháp và những điệp viên tình báo để thu thập và chia sẻ thông tin. (Duy nhất một thượng nghị sĩ – Russ Feingold của Đảng Dân chủ từ bang Wisconsin – bỏ phiếu chống lại đạo luật này.) Bà vẫn “diều hâu” một cách cương quyết, gần với Tổng thống Bush hơn rất nhiều so với đa số các đồng nghiệp Đảng Dân chủ của bà.
Tuy nhiên, không quá lâu sau, Hillary tìm ra một vấn đề về ngày 11 tháng 9 cho mình. Những công nhân và cư dân lâu nay đã làm việc gần như suốt ngày đêm kể từ 11 tháng 9 tại Vùng bình địa, và nhiều người đã phàn nàn về những điều kiện độc hại. Chính quyền Bush đã đảm bảo với công chúng rằng những điều kiện đó rất an toàn, nhưng một số công nhân rõ ràng là đang phải chịu đựng những vấn đề về đường hô hấp và những căn bệnh khác. Hillary bắt đầu vận động hành lang để thuyết phục Quốc hội thông qua khoản tiền để theo dõi xem việc không khí ô nhiễm xung quanh Vùng bình địa ảnh hưởng thế nào đến phổi của những nhân viên tái thiết. Cuối cùng bà thuê một trong những chuyên gia hàng đầu về rủi ro nghề nghiệp và bệnh phổi, Tiến sĩ William Rom của trường Đại học New York, làm nghiên cứu viên lập pháp của mình. Rom đã chứng minh như đinh đóng cột rằng những mảnh vụn thủy tinh, sợi amiăng, và tro bay (một loại bụi khoáng được dùng để thay thế cho xi măng) đã lọt vào phổi của những nhân viên cứu hộ. Khám phá của ông đã giúp Hillary dễ dàng đạt được nhiều sự hợp tác hơn từ phía Nhà Trắng và Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA), vốn không sẵn lòng thừa nhận rằng những điều kiện tại Vùng bình địa đang góp phần gây ra những vấn đề về sức khỏe của công nhân. Nhằm tạo áp lực hơn nữa cho Nhà Trắng, bà đặt một lệnh hoãn pháp lý (đặc quyền của một thượng nghị sĩ để trì hoãn một sự bổ nhiệm) lên việc bổ nhiệm Mike Leavitt làm lãnh đạo EPA của chính quyền. Chiến lược của bà có tác dụng, và một buổi họp sớm đã được lên lịch giữa Hillary và những phụ tá Nhà Trắng. Rom đi cùng bà đến buổi họp, tại đó ông giải thích nghiên cứu của mình về những nhân viên cứu hộ “11 tháng 9” và khả năng những sợi amiăng có thể khiến họ phát bệnh ung thư. Hillary đã thuyết phục được EPA đồng ý nghiên cứu thêm về vấn đề này. Cuối cùng, nghiên cứu khám phá ra rằng gần 70% những người làm ở Vùng bình địa đã xuất hiện những bệnh liên quan đến phổi, hậu quả của chất lượng không khí tồi tệ sau các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9.
Về phần Hillary, đảm nhận những vấn đề về chất lượng không khí là một bước đi sáng suốt. Bằng cách nêu bật vấn đề y tế và môi trường, bà đã thành công trong việc tạo ra một đề tài hậu 11 tháng 9 nêu bật được sở trường của bà đồng thời đáp ứng nhu cầu của các cử tri. Song song đó, việc này đồng thời tạo ra một khoảng cách giữa bà và chính quyền Bush và là một cơ hội để quay về với nền tảng của đảng bà, với những người đã không ủng hộ Bush nhiều như bà.
Không phải ngẫu nhiên, triết lý chính trị của Bill Clinton đã bắt rễ chính xác từ “phép tính tam giác” đầy chiến thuật này: ông sẽ chiếm lấy khoảng trống giữa những thái cực, quan điểm của ông không tự do mà cũng không bảo thủ, còn những mối liên minh của ông đều thuận lợi. Cho tới thời điểm này, Hillary đã làm y vậy với sự kiện 11/9, dẫu có một chút ngả về cánh hữu, hơn cả những gì mà một số người – bao gồm cả đối thủ của bà – vẫn tưởng. Nhưng trong vòng một năm sau các cuộc tấn công, bà sẽ phải đương đầu với cái gọi là cuộc chiến chống khủng bố của chính quyền Bush, và bà sẽ phải vật lộn với điều được bà mô tả “có lẽ là quyết định khó khăn nhất mà tôi phải đưa ra.” Vì quyết định này, vị thượng nghị sĩ mới vào nghề từ New York sẽ không những phải tiếp tục bảo vệ thành tích của Bill Clinton mà còn phải ghi được một thành tích cho riêng mình, một thành tích mà bà biết sẽ quyết định những tham vọng tổng thống trong tương lai.
“Quyết định khó khăn nhất” đó liên quan đến một đất nước đã gây ra cho chồng bà không ít phiền toái – nhưng dù cho có thời điểm ngắt quãng của khủng hoảng ngoại giao, cũng hiếm khi nào là một thách thức lớn nhất. Chính quyền hiện tại lại cảm thấy hơi khác một chút. George Bush và phó tổng thống của ông, Dick Cheney, tuyên bố rằng lãnh đạo của Iraq, Saddam Hussein, là một mối đe dọa trực tiếp đối với nước Mỹ.
Một lần nữa, Hillary sẽ buộc phải chứng tỏ sự cứng rắn của mình.