Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Trí Tuệ Bang New York

❊ ❊ ❊

TẠI PHÒNG TIẾP TÂN tiệc Giáng sinh trong Nhà Trắng tháng 12 năm 1997, chủ tịch Đảng Dân chủ bang New York, bà Judith Hope, nắm lấy cánh tay Hillary, kéo sang một bên và thì thầm, “Nhiều người nghĩ rằng khi rời Nhà Trắng, bà phải ra ứng cử vào Thượng viện Hoa Kỳ từ bang New York!”

“Bà không đùa đấy chứ!”, Hillary vừa đáp vừa nhướn lông mày, buông một tràng cười rất đặc trưng của bà. Phản ứng tức thì của Đệ nhất Phu nhân cho thấy một sự trộn lẫn của nhún nhường, ngạc nhiên, và không chỉ là “hơi” thích thú.

Chiếc ghế mà Hope đang nhắm cho Hillary lúc ấy thuộc về vị thượng nghị sĩ già được yêu mến của bang New York, ông Daniel Patrick Moynihan. Mặc dù người ta đã đồn đoán từ lâu rằng ông sẽ về hưu vào năm 2000, nhưng trong thực tế, ông Moynihan vẫn suy tính việc ra ứng cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Và với tư cách một trưởng lão của Đảng Dân chủ, chắc chắn là ông không hoan nghênh việc mà bạn bè của Hillary đã quyết định, rằng bà nên cố gắng nối gót ông. Ông vốn đã có một mối quan hệ căng thẳng với vợ chồng Clinton và càng căng thẳng hơn nữa khi rõ ràng Hillary đã không hề hỏi ý ông về thời gian biểu về hưu sắp tới của ông.

Lời đề nghị thầm thì của Judith Hope – bị tiết lộ cho tờ The New York Post – là lời ám chỉ công khai đầu tiên rằng một phong trào “Đề cử Hillary” đang được tiến hành. Nhưng suy nghĩ và kế hoạch đó đã bắt đầu rất lâu truớc mùa đông năm 1997. Sau khi đã có những cuộc thảo luận sơ bộ với một nhóm các cố vấn tin cậy, bao gồm cả chiến lược gia Harold Ickes và nhà vận động tài chính Terry McAuliffe, cả Hillary và Bill Clinton quyết định rằng sẽ tốt hơn nếu như sự quan tâm của Hillary đến chiếc ghế Thượng viện và bang New York có vẻ là do được đề xuất từ bên ngoài Nhà Trắng. Chiến lược này cần được tiến hành để dập tắt lời đồn đại không thể tránh được rằng Hillary là một “carpetbagger”[1], chỉ quan tâm tới việc sử dụng chiếc ghế Thượng nghị sĩ bang New York như một bệ phóng để sau này ra tranh cử tổng thống – nhưng tất nhiên, đó chính là chuyện bà đang làm.

Vào tháng 11 năm 1998, bất chấp vụ tai tiếng Lewinsky và cuộc điều tra để luận tội tổng thống, Đảng Dân chủ vẫn giành thêm được năm ghế trong Hạ viện, thu hẹp khoảng cách với Đảng Cộng hòa còn mười hai ghế (223 Cộng hòa, 211 Dân chủ). Vào đêm thứ Sáu sau cuộc bầu cử, khi ông Bill và các đảng viên Dân chủ vẫn còn xúc động vì thắng lợi bất ngờ của họ, bà Hillary nhận được một cú điện thoại vào lúc khuya từ dân biểu Charlie Rangel – dân biểu của địa hạt Harlem và là bạn thân của gia đình Clinton.

“Tôi vừa nghe tin Thượng nghị sĩ Moynihan công bố ông ta sắp nghỉ hưu,” Rangel bảo bà Hillary. “Tôi rất hy vọng bà sẽ xem xét việc ra tranh cử bởi vì tôi nghĩ bà có thể thắng.”

Hillary đáp lại: “Ôi, anh Charlie! Tôi rất vinh dự vì anh đã nghĩ đến tôi, song tôi không hứng thú với việc đó. Vả lại, hiện nay chúng tôi đang có một số việc cần thiết khác phải giải quyết.”

Rangel trả lời: “Vâng tôi biết. Nhưng tôi nói nghiêm túc đấy. Tôi muốn bà suy nghĩ về chuyện đó.”

Ngay cả khi Rangel thôi thúc, Hillary vẫn giả vờ không hứng thú và khó chịu về triển vọng cuộc vận động tranh cử vào Thượng viện. “Trong đầu tôi lúc ấy có những chuyện khác,” bà viết trong cuốn sách của mình. Còn trong chỗ riêng tư, bà tiếp tục khuyến khích phong trào “Đề cử Hillary”.

* * *

XẾp hàng đẦutrong danh sách “những việc khác” của bà Hillary là vụ luận tội ông chồng bà đang lù lù hiện ra, một đốm đen không thể nào tẩy xóa được và sẽ để lại một vết sẹo trong di sản của Bill Clinton. Bất chấp kết quả bầu cử giữa nhiệm kỳ rất thuận lợi cho Đảng Dân chủ, vụ luận tội đang được tiếp sức trong phiên họp của Hạ viện “vịt-què”[2].

Vào ngày 11 và 12 tháng 12 năm đó, Ủy ban Tư pháp Hạ viện đã bỏ phiếu trong từng đảng để đề xuất bốn điều khoản luận tội cho toàn thể Hạ viện bỏ phiếu. Sau hậu trường, các luật sư của ông Bill cố gắng thuyết phục lãnh đạo phe Cộng hòa trong Hạ viện thay việc bỏ phiếu cho một vụ luận tội đầy đủ bằng một sự khiển trách chính thức đối với tổng thống. Nhưng cuộc chiến đấu của họ đã thất bại.

Trong những tuần lễ cuối cùng của năm 1998, Hillary vắng mặt trong một số phiên họp chiến lược mà Bill chủ trì cùng với đội ngũ pháp lý và cố vấn chính trị của mình. Sự vắng mặt của bà không khó nhận ra. Giờ đây bà tập trung vào chính bà, quyền lợi của bà, tương lai của bà. Ông Bill đã quen với việc Hillary điều động binh mã trong mọi cuộc khủng hoảng, và vì thế, thiếu sự tham gia của bà trong chiến dịch này làm cho ông thêm rối trí, thêm ủ rũ và cộc cằn.

Một người bạn nhận xét: “Bà ấy đã ra đi. Bà ấy đang nghĩ về mình nhiều hơn về ông ấy… Đây là lần đầu tiên tôi thấy điều này xảy ra… Bà ấy muốn vào Thượng viện, có lẽ một ngày nào đó bà ấy sẽ ứng cử tổng thống. Ông ấy thì đang bấn lên, và ông ấy biết như vậy. Giờ đây ông ấy phải giúp bà ấy đạt được cái bà ấy muốn… Cả hai người đều biết đã đến lúc ông ấy phải hòa hợp với bà ấy.”

Sáng sỚm mỘt buỔi sánglạnh lẽo và đầy mây mù ngày thứ bảy 19 tháng 12, Hillary đi trên chiếc xe limousine màu đen của tổng thống từ Nhà Trắng đến Đồi Capitol với nỗ lực động viên tinh thần của một nhóm đảng viên Dân chủ đang rầu rĩ trong Hạ viện. Trong mấy tiếng đồng hồ nữa, theo lịch, Hạ viện sẽ đem ra xem xét vụ luận tội tổng thống – lần thứ hai trong lịch sử Hoa Kỳ. Đứng trước nhóm dân biểu Dân chủ trong Hạ viện, Hillary nói, “Tất cả các bạn có lẽ đều nổi điên với Bill Clinton. Chắc chắn là tôi cũng không vui vẻ gì với những chuyện chồng tôi đã làm. Nhưng luận tội không phải là câu trả lời. Thiệt hại sẽ rất lớn nếu ở đây chúng ta bị rối trí vì những thứ không quan trọng.” Hillary trấn an mọi người rằng chồng bà không có ý định xoa dịu Đảng Cộng hòa bằng cách từ chức. Buổi trình diễn thấm đẫm cảm xúc của bà gây phấn chấn cho phe Dân chủ trong Hạ viện, truyền cho họ niềm hy vọng trong một ngày đen tối. Bà cũng nói giản dị: “Tôi yêu mến và quan tâm chồng tôi sâu sắc.”

Tiếng hò reo rất to dội ra tới tận bên ngoài căn phòng họp kín của Đảng Dân chủ trong suốt buổi nói chuyện của Hillary. Một vài người vừa bước ra ngoài vừa chậm nước mắt.

Chiều hôm ấy Hạ viện chấp thuận hai trong bốn điều khoản luận tội chống lại tổng thống – một về tội khai man trước đại bồi thẩm đoàn và hai là tội cản trở công lý. Kết quả là vào tháng 1 Bill Clinton phải đối mặt với một phiên xử tại Thượng viện Hoa Kỳ, phiên xử sẽ quyết định ông có bị buộc phải từ chức hay không.

Sau cuộc bỏ phiếu lịch sử ở Hạ viện, một nhóm các dân biểu Dân chủ buồn bã, dẫn đầu bởi dân biểu Richard Gephardt bang Missouri, lái xe từ Đồi Capitol tới Nhà Trắng để đứng bên cạnh tổng thống nhằm thể hiện tình đoàn kết trong Đảng. Sau một thoáng giật mình ngắn ngủi, vài phụ tá cao cấp của Nhà Trắng bỗng lo ngại rằng Hillary có thể không tham gia cùng tổng thống trong nghi thức này. Thiếu bà, rõ ràng như vậy, nhưng mọi người thở phào nhẹ nhõm khi thấy Đệ nhất Phu nhân tiến đến và không nói một lời, khoác tay mình vào cánh tay chồng. Sau đó Bill Clinton và Hillary, tay trong tay chầm chậm đi trên lối đi vòng vèo từ Phòng Bầu dục ra Vườn Hồng, nơi các dân biểu Đảng Dân chủ trong Hạ viện đứng chờ sẵn.

Phó Tổng thống Al Gore nồng nhiệt giới thiệu tổng thống và nói rằng, “Tôi hiểu trái tim ông, ý chí ông.” Bill có vẻ rơm rớm nước mắt vì những lời đó. Với Hillary đứng bên cạnh, ông tuyên bố rằng ông có ý định phục vụ “cho tới giây phút cuối cùng của ngày cuối cùng trong nhiệm kỳ của tôi.” Mặc cho cuộc bỏ phiếu luận tội, buổi gặp này mang không khí của một cuộc lên tinh thần, với những người Dân chủ vẫn đầy vẻ lạc quan. Tuy vậy Hillary thì vừa tỏ ra nghiêm trang vừa có vẻ rối trí; có nhiều lúc rất lâu, bà đưa mắt nhìn vào xa xăm mà không biểu lộ cảm xúc gì. Bà chỉ liếc ông Bill thoáng qua và có vẻ buồn rầu.

Vào đêm Giao thừa năm mới, một cuộc thăm dò của Viện Gallup cho thấy Hillary là người phụ nữ được nể trọng nhất nước Mỹ. 28 phần trăm những người được hỏi ý kiến trong cuộc thăm dò xếp tên bà lên hàng đầu trong khi Oprah Winfrey xếp thứ hai. Phóng viên Maureen Dowd của tờ The New York Times vẫn ngoan cố nhận xét rằng Hillary cuối cùng cũng đã được người Mỹ mến mộ “không phải vì những gì bà đã làm mà vì những gì bà đã chịu đựng.” Trong ý nghĩa nào đó, Hillary đã ẩn nấp dưới một vỏ sơn cứng rắn lâu đến nỗi như thể người dân cần phải thấy bà dám đấu tranh với tính dễ tổn thương của chính mình, trước khi họ cho bà một cơ hội thứ hai. “Thật là tốt lành khi thấy bà ấy được công chúng đề cao như vậy, nhưng cũng thật buồn khi nghĩ tới lý do tại sao lại như vậy,” đó là nhận xét của Peter Edelman, người đã rời bỏ Chính phủ của Clinton để phản đối việc ông Bill ký ban hành điều luật về cải cách hệ thống phúc lợi xã hội. “Khi nào bà ấy trở thành một Đệ nhất Phu nhân đúng với truyền thống hơn, thiên về nghi lễ hơn thì tỷ lệ ủng hộ bà ấy càng cao hơn”, ông nói. Thực vậy, Hillary bị giày vò trước sự kiện: khi vai trò của bà chỉ như một người vợ lặng lẽ và phiền muộn thì lại mang về cho bà tỷ lệ ủng hộ cao kỷ lục và tình mến thương của hầu hết người dân trong nước. Tuy nhiên, là một chính trị gia, liệu bà có chấp nhận và lợi dụng điều đó không?

Phiên luẬn tỘi cỦa ThưỢng viỆnvới William Jefferson Clinton bắt đầu vào ngày 7 tháng 1 năm 1999 và dự kiến kéo dài khoảng năm tuần lễ. Bởi vì để kết tội một tổng thống cần phải có sáu đến bảy mươi phiếu, trong khi Đảng Cộng hòa đối lập chỉ có năm mươi lăm ghế tại Thượng viện, cho nên đã biết trước cái kết luận là Bill Clinton sẽ không bị truất phế. Tuy nhiên, Đảng Cộng hòa có ý định làm nhục ông thêm nữa và hy vọng sẽ gây thiệt hại cho Đảng Dân chủ, còn những người Dân chủ thấy không cần thiết phải chặn đứng tiến trình luận tội đó.

Hillary cố tránh theo dõi phần lớn cuộc luận tội; bà nghĩ rằng mình sẽ không nhịn cười được khi trông thấy Chánh án William H. Rehnquist nổi bật trên diễn đàn Thượng viện trong chiếc áo dài đen có ba nẹp vàng trên vai. Rehnquist nói với các phóng viên rằng ông đã đích thân thiết kế chiếc áo đặc biệt này, lấy ý tưởng từ những bộ trang phục mà ông từng nhìn thấy trong vở hài kịch Iolanthe của Gilbert và Sullivan. Trong cuốn hồi ký của mình, Hillary nhận xét: “Thật là tương xứng làm sao khi ông ấy mặc một phục trang sân khấu để chủ trì một câu chuyện tiếu lâm chính trị!” Thật vậy, phiên xử tổng thống đã teo lại còn cái kết cục đã được biết trước, với sự pha trộn của một vở hài kịch học trò trung học và một bộ phim hạng B.

Chính Hillary là người nảy ra ý tưởng đưa ông Dale Bumpers, cựu thượng nghị sĩ bang Arkansas, làm người biện hộ cho Bill Clinton trên diễn đàn Thượng viện. Ở đó, ông Bumpers đã nêu lên câu hỏi sau đây, làm cho Hillary xúc động sâu sắc: “Đâu rồi những yếu tố của tha thứ và cứu chuộc, nền tảng của Thiên Chúa giáo?” Hillary từng bảo bạn bè, chính đức tin, cái nền tảng vững chắc của đạo Thiên Chúa, đã giúp bà đứng vững được trong cái năm dài dằng dặc ấy. Bà thường nghĩ tới một câu tục ngữ cổ xưa mà bà học được trong lớp học ngày chủ nhật: “Đức tin cũng giống như leo xuống một vách đá dựng đứng và chuẩn bị đón nhận một trong hai kết cục – hoặc là rơi xuống nền đất cứng, hoặc sẽ học được cách bay lên.” Không thể nào phủ nhận rằng, đất nước này dường như biết ơn Hillary sâu sắc vì bà đã đứng bên cạnh chồng. Và kết cuộc, bà không chỉ cứu rỗi được cuộc hôn nhân của mình, mà còn cứu được cương vị tổng thống của ông ấy. Giờ, đến lượt bà bay lên.

Không có gì sai tráikhi một người của công chúng sử dụng tham vọng chính trị thô thiển làm một động lực cá nhân để theo đuổi những chức vụ cao hơn; bất kỳ người nào đã từng tìm cách làm tổng thống đều phải dựa vào những tham vọng hết sức to lớn để nâng mình lên, để giành lấy giải thưởng tối cao trong đời sống chính trị ở Mỹ. Vào ngày 12 tháng 2, khi Thượng viện Mỹ bỏ phiếu “không có tội” cho cả hai điều khoản của vụ luận tội chống lại chồng bà thì Hillary đang ở Nhà Trắng, gặp gỡ Harold Ickes, chuyên gia về chính trị New York có lối nói thẳng thừng không cần giữ ý. Những nhận xét không che đậy của ông thường bị coi là báng bổ. Hillary nói, Ickes đã “thuyết phục tôi rằng tôi phải công nhận cái áp lực của công chúng về việc tôi ra ứng cử đang tăng lên và tôi phải xem xét việc vận động tranh cử một cách nghiêm túc.”

Gần đây nhất là năm 1997, Hillary có ám chỉ việc bà và ông Bill có ý định trở về sinh sống ở Little Rock sau khi rời Nhà Trắng. Bà nói với đài truyền hình C-SPAN: “Chắc chắn là chúng tôi sẽ sống ở Arkansas.” Giờ đây Ickes trải ra một tấm bản đồ bang New York trên mặt bàn trong phòng làm việc của bà. Một không gian tới 54.000 dặm vuông để mà kiểm soát, rất nhiều thị trấn và thành phố cỡ trung để mà thăm viếng, rất nhiều vấn đề chính trị địa phương vô cùng rắc rối để mà nắm bắt. Và rồi có thành phố New York, trung tâm đô thị lớn nhất nước Mỹ; năm khu dân cư của thành phố này là một mớ hỗn tạp các chính trị gia xung đột với nhau, các nhóm lợi ích cạnh tranh nhau, mà chỉ mỗi việc tìm ra đường để băng qua được đã là một cơn đau đầu khủng khiếp.

Nếu như tất cả những điều đó chưa đủ làm cho Hillary nản chí, thì tiếp đó Ickes nêu thêm một danh sách dài những rào cản về chính trị: Bà không phải là người bang New York; bà chưa bao giờ ứng cử vào các chức vụ do dân bầu lên; và người có khả năng trở thành đối thủ của bà trong cuộc chạy đua vào Thượng viện – chính là ông Thị trưởng thành phố New York được nhiều người biết tới, ông Rudolph Guiliani – là một đối thủ rất ghê gớm. Ickes cũng cảnh báo rằng Đảng Cộng hòa sẽ làm mọi việc trong quyền hạn của họ để biến “bà Hillary cùng hoạt động chính trị của bà thành quỷ”. Rồi còn một vấn đề khác cũng gây nhiều tranh cãi: Làm thế nào một Đệ nhất Phu nhân có thể ra ứng cử một chức vụ dân cử? Trước đây chưa từng có chuyện đó là vì một lý do. Nó bày ra một cơn ác mộng về logic, bởi vì đúng ra thì Hillary phải từ Nhà Trắng ứng cử vào chiếc ghế đại diện cho New York.

Sau mấy tiếng đồng hồ gặp gỡ, Ickes thú nhận: “Thậm chí tôi cũng không biết bà có phải là một ứng cử viên tốt hay không, bà Hillary à.” Đó là một nỗi lo lắng chính đáng. Mặc dù tỷ lệ ủng hộ Hillary đang lên cao hơn bất kỳ thời điểm nào trong nhiệm kỳ tổng thống của chồng bà, bà vẫn là một gương mặt gây ra những ý kiến trái chiều, lại không có tí kinh nghiệm nào trong việc tìm kiếm một chức vụ dân cử. Hillary còn nhận ra một vấn đề nan giải tiềm tàng: những người phụ nữ Dân chủ, đặc biệt là những phụ nữ có nghề nghiệp chuyên môn, “những người mà bình thường sẽ là trụ cột đương nhiên của tôi” lại tỏ ra “hoài nghi” về những động cơ tối thượng của bà và quan trọng hơn là về quyết định “tiếp tục làm vợ Bill Clinton.”

Tuy vậy, những cảnh báo ấy khó mà ngăn cản được động lực của Hillary. Khi vụ luận tội cuối cùng đã lùi lại sau lưng Bill, vào ngày 16 tháng 2 năm 1999, văn phòng của Hillary công bố rằng bà đang xem xét việc ra tranh cử vào Thượng viện. Công bố này chỉ đơn thuần khẳng định điều mà nhiều nhà phân tích chính trị đã dự đoán từ lâu. Nhưng trong cuốn sách Living History, Hillary nhấn mạnh rằng, mãi đến gần ngày công bố đó, thực sự bà vẫn chưa quyết định, thậm chí có phần chống lại việc tranh cử. Nhiều người trong số bạn bè và cố vấn thân cận của bà – kể cả người xếp lịch làm việc của bà là Patti Solis Doyle, cựu chánh văn phòng Maggie Williams, cố vấn về truyền thông Mandy Grunwald và nhiều người khác nữa – đã thúc giục bà không nên ra tranh cử. Họ nói với bà rằng, bà sẽ có ảnh hưởng sâu rộng hơn đối với những vấn đề mà bà quan tâm nếu như bà làm việc bên ngoài vòng cương tỏa của cái câu lạc bộ một trăm thành viên Thượng viện. Đặc biệt bà Doyle, một tay chân thẳng tính của bà, còn nói tuột ra, “Hillary, tôi không nghĩ rằng bà có thể thắng trong cuộc đua này.”

“Tôi cần một cú đẩy,” Hillary viết trong cuốn sách của mình, và bà nói rằng bà đã nhận được cú thúc đó từ một nơi không ngờ tới. Vào ngày 4 tháng 3, bà đi thăm trường thực nghiệm thành phố New York ở Chelsea gần Manhattan. Đây là chuyến du hành thứ mười tới New York của bà kể từ mùa thu năm trước. Khán giả của trường đã tụ tập để chào đón các nữ vận động viên và để xem một cuốn phim tài liệu do HBO sản xuất có nhan đề Cuộc chiến đấu của phụ nữ trong thể thao. Hillary xuất hiện trên sân khấu của trường cùng với vận động viên huyền thoại môn tennis Billie Jean King, vận động viên huy chương vàng Olympic môn thể dục dụng cụ Dominique Dawes và ngôi sao bóng rổ nữ quốc gia Nikki McCray. Phía trên đầu bà có treo tấm biểu ngữ với dòng khẩu hiệu nổi bật dòng chữ: “Hãy dám đua tranh”.

Một học sinh của trường, em Sofia Totti, cũng là đội trưởng đội bóng rổ nữ, lên giới thiệu Đệ nhất Phu nhân. “Hôm nay chúng ta có một ngôi sao tennis, một huy chương vàng Olympic về thể dục dụng cụ, một anh thư bóng rổ,” Totti nói. Rồi quay sang bà Hillary, với một nụ cười tinh nghịch, em nói tiếp, “Và hy vọng cả một vận động viên chạy đua”[3]. Lúc Hillary bước lên bục thuyết trình, bà bắt tay Totti. Cô bé thì thầm vào tai bà: “Hãy dám đua tranh, bà Clinton nhé. Hãy dám đua tranh.”

Đó là một câu chuyện hết sức lôi cuốn và việc nó được đưa vào cuốn Living History giúp cho người đọc tin rằng Hillary phân vân nhiều hơn so với thực tế. Hillary kể lại, thách đố của Totti “đã làm tôi mất cảnh giác”, và những lời nói thầm thì kia đã buộc bà phải bắt đầu xem xét nghiêm túc hàng loạt vấn đề hóc búa của đời bà sau khi rời Nhà Trắng. “Có thể nào tôi lại lo sợ khi làm một việc mà tôi đã thúc giục vô số phụ nữ khác hãy làm?”, Hillary nói bà đã tự hỏi mình như vậy, “Tại sao tôi lại dao động trong việc chấp nhận cuộc đua này? Tại sao tôi không suy nghĩ nghiêm túc hơn về điều đó? Có lẽ tôi phải dám đua tranh thật.”

Tuy cuộc độc thoại nội tâm này đọc rất thú vị, nhưng theo lời một số người tin cẩn của Hillary, nó đồng nhất với hình ảnh đã được tô hồng của bà trước công chúng hơn là sự thực. Suốt 531 trang tự truyện của Hillary, khó mà tìm ra điểm nào cho thấy bà đang ôm ấp một tham vọng cá nhân. Và mặc dù cuốn tự truyện của bà lấy nhan đề là Living History (Sống cùng lịch sử), bà thường tránh việc tự khắc họa chân dung mình như một con người tích cực tìm kiếm một vị trí nổi bật cho chính mình trong đại tự sự Mỹ vĩ đại hơn. Tất nhiên việc ứng cử vào Thượng viện, và cuối cùng là vào chức vụ tổng thống, đã là mơ ước mà bà và ông Bill từng bàn đến, thậm chí đã khát khao, từ những tháng ngày xa xưa. Một cựu thượng nghị sĩ Hoa Kỳ miêu tả việc này như sau: “Bà ấy có một tham vọng cháy bỏng, vượt cả tham vọng của ông chồng, Trong thực tế, phần lớn tham vọng của ông ấy là do bà – thế nên chẳng lạ gì việc ông ấy lắm tham vọng thế.” Nhưng câu chuyện sẽ hấp dẫn hơn nếu nói rằng Hillary bị lôi kéo lên vũ đài chính trị bởi những tiếng hoan hô.

Hillary nói rằng những lời động viên của cô nữ sinh Totti gợi cho bà nhớ lại một cảnh trong bộ phim mà bà ưa thích, phim A League of Their Own, kể về một đội bóng rổ nữ chuyên nghiệp vào thập niên 1940. Trong phim, khi cầu thủ bắt bóng ngôi sao của đội, do Geena Davis đóng, tuyên bố rằng mình muốn từ bỏ đội bóng để quay về nhà với chồng, thì huấn luyện viên của đội, do Tom Hanks đóng, bảo rằng cô không thể từ bỏ được.

“Quả thực là quá khó khăn,” nhân vật của Geena Davis than phiền.

“Chắc là phải khó thôi,” Hanks đáp, “Nếu không khó thì mọi người đã làm cả rồi – khó mới làm nên vĩ đại.”

Khó mới làm nên vĩ đại. Hillary yêu thích sự lôi cuốn giản dị của câu nói đó. Chắc chắn tranh cử vào Thượng viện là việc rất khó. Nhưng đó cũng là việc vĩ đại. Bà biết như vậy, và bà biết mình sẽ làm việc đó cho dù bà giả vờ như sẽ làm ngược lại.

Mùa xuân năm 1999, Mark Penn, chuyên gia về thăm dò dư luận và là một trong những cố vấn thân cận nhất của Hillary, đã thực hiện cuộc thăm dò ý kiến đầu tiên về cuộc vận động tranh cử còn tiềm tàng của Hillary. Ông đã gửi một báo cáo nội bộ với tin tức tốt lành: cư dân bang New York sống ở vùng nông thôn sẵn sàng chấp nhận cái ý tưởng ra ứng cử của bà. Cả ông Penn và bà Mandy Grinwald, cố vấn về truyền thông, đều khuyến khích Hillary đi thăm hết sáu mươi hai quận hạt của bang New York. Penn sáng chế ra cụm từ “Listening Tour” (Tour nghe ngóng) để diễn tả cái cách thức mà ông tin rằng Đệ nhất Phu nhân nên theo để tự giới thiệu mình ở một tiểu bang bà chưa từng sinh sống.

Hillary nhận định, “Nếu tôi chứng minh được với cử tri New York rằng tôi am hiểu những vấn đề mà gia đình họ phải đương đầu, và quyết tâm làm việc cật lực vì họ, thì rất có thể tôi sẽ làm được điều đó.” Không có cách nào chứng minh tốt hơn là đi ngang đi dọc khắp tiểu bang New York và lắng nghe nhiều hơn là phát biểu.

Nhưng trước khi làm cuộc du hành lên vùng Đông Bắc, Hillary lại có một chuyến đi nghỉ ngắn ngày ở miền Nam. Vào cuối tháng 5, Hillary và Bill có kỳ nghỉ năm ngày ở Florida. Gần như đêm nào họ cũng thức tới gần sáng trò chuyện về cuộc tranh cử của bà. Triển vọng đó làm ông Bill phấn khích; ông sẽ không có cuộc tranh cử nào nữa trong tương lai – một điều làm cho ông bực bội sâu sắc; nhưng một vài nỗi khó chịu đó đã được gột đi nhờ cái viễn cảnh ông sẽ có thể cùng kinh qua cuộc tranh cử đầu tiên của bà. Có thể hiểu được rằng Hillary đang rất phân vân: làm thế nào xoay xở với việc dấn thân vào kiểu “chính trị vận động phiếu”, bắt tay và kề vai sát cánh với công chúng, và tất nhiên là phải ứng đối nhanh chóng, không hề chuẩn bị với cử tri và báo chí (chính cái khía cạnh này, cả hai người đều biết rõ, đã mang lại cho bà khá nhiều phiền toái trong suốt đợt vận động tranh cử của ông Bill năm 1992.) Và ông Bill hứa sẽ giúp bà trong vai trò huấn luyện viên.

Hillary biết mình cần phải cải thiện, và cũng như mọi việc khác, bà có thiện chí làm việc tích cực để cải thiện. Ông Bill cam kết sẽ có mặt để hỗ trợ bà. Một người quen thân của họ nhận xét: “Có một con đường giúp tổng thống thoát khỏi tình trạng xuống dốc – là hãy cho bà vợ bất cứ cái gì bà ấy muốn.” Một người bạn lâu năm khác, biết rõ về cặp vợ chồng này, cũng nói: “Ông ấy cảm thấy mình mắc nợ bà ấy.” Đối với những bạn bè thân thiết của họ, chuyện này là hiển nhiên. Chẳng phải là nhờ những buổi tư vấn tâm lý gia đình hoặc một dòng thác những lời xin lỗi thành tâm của ông Bill mà vết rạn gây ra vì một năm điêu đứng vụ Lewinsky từng bước được chữa lành. Cũng chẳng phải nhờ cuộc tranh cử vào Thượng viện của bà Hillary mà họ có một cái gì đó mới mẻ và thú vị để bàn luận; mà chính là nhờ sự cứu vớt cuộc hôn nhân của hai người.

Vào mỘt buỔi tỐiđầu mùa hè ấm áp tháng 6, Hillary chủ trì cuộc hội ngộ lần thứ mười ba các cựu sinh viên trường Đại học Wellesley khóa 1969 tại Nhà Trắng. Khi buổi dạ tiệc và khiêu vũ kéo dài qua mười giờ đêm, bà mời năm sáu người bạn thân nhất thời đại học lên lầu, Phòng kiếng Solarium ở tầng ba, để uống nốt mấy ly rượu.

Nhóm này gồm Alan Schechter, giáo sư khoa chính trị học; Jan Piercy, bạn cùng phòng với Hillary ở trường và bây giờ là giám đốc điều hành đại diện Hoa Kỳ trong Ngân hàng Thế giới; và Johanna Branson, giáo sư nghệ thuật và lịch sử tại Boston, cũng là bạn cùng phòng với Hillary thuở trước.

Hillary nhanh chóng thay đổi trang phục. Bên ngoài những khung cửa sổ cao của Phòng kiếng Solarium, ánh đèn thành phố thủ đô lung linh bên dưới. Hillary gợi câu chuyện mọi người đều đang suy nghĩ nhưng không ai dám đề cập. Bà nói, như mớm lời cho bạn bè: “Jan nói rằng tôi đang toan tính chuyện điên rồ.”

Bà Jan đáp lời ngay: “Tôi không bao giờ nói như thế, Hillary à, bởi vì tôi chẳng bao giờ đưa cho bà lời khuyên nào về chính trị cả.”

Chồng của bà Branson là Jock Gill, thì chống đối quyết liệt. Ông nêu ra hàng loạt lý do tại sao Hillary nên tránh cái đám đông hỗn loạn của chính trị Mỹ. Liệu có tốt hơn cho bà không nếu bà theo đuổi sự nghiệp của mình theo một con đường khác?

Hillary nói rằng bà đã suy xét việc điều hành một quỹ từ thiện mà các nhà hảo tâm giàu có đã đề nghị sẽ thành lập cho bà. Và có nhiều chọn lựa khác nữa: nhận lời làm chủ tịch một trường đại học, chủ trì một chương trình truyền hình hoặc làm tổng giám đốc điều hành. “Nhưng,” Hillary nói, “Tôi sẽ luôn luôn bị coi là cựu Đệ nhất Phu nhân. Người ta sẽ bảo cựu Đệ nhất Phu nhân đã nói thế này, thế này…”.

Mấy người bạn của bà gật đầu. Họ hiểu. Trong nhiều trường hợp, Hillary đã quen dùng cụm từ “người vợ phái sinh” (derivative spouse) để tự mô tả chính mình. Cuộc tranh cử này sẽ xóa bỏ tình trạng đó.

Ông Gill dồn bà: Chứ không phải các chính trị gia đã đẩy bà vào hoàn cảnh đáng thương đó sao? Tại sao bà vẫn muốn gia nhập cái câu lạc bộ của họ?

“Tôi chỉ cảm thấy mình quá tận tụy. Tôi không thỏa mãn với những gì chúng tôi đã làm. Tôi chưa làm xong,” Hillary trả lời.

Ông Gill vẫn băn khoăn tại sao Hillary vẫn gắn bó với Thượng viện hơn là một cơ quan chỉ huy nào đó nổi bật hơn, hiệu quả hơn của Nhà trắng.

Hillary giải thích: “Anh biết không, biết bao năm, bao nhiêu thập kỷ, tôi đã viết những báo cáo pháp lý. Tôi đã đọc vô số diễn văn. Tôi đã nhiều lần vận động ở hành lang Quốc hội. Tôi đã đứng bên ngoài, gõ vào cánh cửa trong lúc trong phòng họ đặt ra chính sách và thông qua các đạo luật. Tôi muốn đi vào bên trong để làm những việc đó. Tôi đã đứng bên ngoài lâu quá rồi.”

Câu hỏi kế tiếp: Tại sao trong tất cả các bang bà lại chọn New York?

Bằng một phong cách láu lỉnh, Hillary tiết lộ rằng bà đã điều tra “một số tiểu bang khác có thể chọn, nhưng các bang đó sẽ có nhiều ứng cử viên sáng giá ra tranh cử; đó là những người đã làm việc tận tụy và khao khát trở thành người đại diện dân cử của tiểu bang nơi họ sống.”

Đối với Hillary, điều đầu tiên mà New York hấp dẫn bà là ở đó từng có một tiền lệ lịch sử: một người không phải là cư dân của bang New York nhưng hết sức nổi tiếng – ông Robert Kennedy – đã giành được một ghế ở Thượng viện vào năm 1964 và chỉ bốn năm sau đã trở thành tổng thống.

Hillary kể cho các bạn mình nghe rằng, một chuyện hấp dẫn khác của cuộc tranh cử vào Thượng viện là ở chỗ, đây là một chuyện hiếm khi xảy ra trong chính trị nước Mỹ – một ứng cử viên do đề cử mà không qua bầu chọn. “Tôi đã được cử,” bà nói. “Thật hiếm khi được cử lên theo kiểu này. Bản chất của chính trị là bạn phải nắm lấy khoảnh khắc khi cơ hội đến, hoặc là nó sẽ không bao giờ đến nữa.” Bà muốn người ta phải muốn mình.

Giờ đây tất cả những gì còn lại là chọn một thời điểm và một địa điểm để công bố ý định ra tranh cử của bà. Các chiến lược gia đã quyết định địa điểm tốt nhất sẽ là trang trại rộng chín trăm mẫu rất nên thơ của Thượng nghị sĩ Moynihan ở vùng thôn quê Pindars Corners. Tuy vậy thực hiện được một cuộc khởi động như vậy cũng là một chuyện khó.

Thượng nghị sĩ Moynihan vẫn âm thầm tức tối về chuyện ông không trực tiếp biết được ý định của Hillary muốn thay thế vị trí của ông. Mandy Grunwald, nguyên là phụ tá của Moynihan, được cử làm phái viên của Hillary để “xoa dịu” nỗi tức giận của ông thượng nghị sĩ. Tuy nhiên, cho dù đã có sự xoa dịu của bà Mandy, ông Moynihan xem ra chẳng mấy nhiệt tình chấp nhận tư cách ứng cử viên của Hillary. Ví dụ, ông quyết định rằng báo chí không được phép đi ngang qua một số cây cối trong trang trại của ông – một quyết định nhằm ngăn cản các nhóm quay phim truyền hình có được hình ảnh ngôi nhà của ông.

Dù sao đi nữa, vào buổi chiều ấm áp ngày 7 tháng 7, với vị thượng nghị sĩ già sắp về hưu của bang New York bên cạnh, Hillary bước xuống con đường lầm bụi tiến về một đám đông khoảng hai trăm phóng viên báo chí từ khắp nơi tụ về, trong đó vài người đến từ Nhật Bản. Ông Moynihan nói về Plutarch’s Lives[4] trước khi tuyên bố thẳng thừng: “Tôi nghĩ bà ấy sẽ thắng cử.”

Sau đó, Hillary công bố việc bà đã thành lập một ủy ban thăm dò cho mục tiêu tranh cử vào Thượng viện Mỹ và sẽ bắt đầu một “Tour lắng nghe khắp bang New York”. “Tôi cho rằng, câu hỏi đang nảy ra trong tâm trí các bạn là: Tại sao là Thượng viện? Tại sao New York? Và tại sao là tôi?”

Đó là những câu hỏi thích đáng, nếu xét tới việc cho đến lúc đó Hillary vẫn chưa mua nhà trong tiểu bang. (Sau đó vào mùa hè, trong một chuyến đi săn nhà đất, bà sẽ tìm được một trang trại dễ thương kiểu thời thuộc địa Hà Lan ở Chappaqua trong quận Westchester phía bắc thành phố New York). Trong lúc Hillary lo đỡ gạt cuộc phỏng vấn không thể tránh khỏi, một vài phóng viên nhận ra rằng ông Moynihan có vẻ như hơi nước đôi, thậm chí có vẻ chán chường. Neel Lattimore, cựu thư ký báo chí của Hillary nhớ lại: “Mọi việc vẫn còn rất khó khăn, ngay cả sau khi được ông ấy chấp nhận cho Hillary đến trang trại của mình. Moynihan đang làm việc cho đảng nhiều hơn là cho bà Hillary.”

Đối với Hillary, ngày hôm ấy đánh dấu một bước chuyển giai đoạn trong cuộc đời bà. Bên cạnh việc cuối cùng bà đã tự đứng một mình với tư cách một ứng cử viên (ông Bill không có mặt ở đó) bà còn thấy ngày hôm ấy giống như trang đầu tiên của một chương mới trong cuộc sống chung giữa bà và ông Bill. Trong đầu bà, quyết định tiếp tục sống với ông ấy, rồi ra tranh cử quốc hội, về bản chất là liên kết với nhau.

Về phần mình, Bill Clinton cũng rất hài lòng. Dưới mái lều vải màu trắng, trong ánh chiều hè rực rỡ ở trang trại Marthas Vineyard tháng 8 năm ấy, ông tâm sự với một đám đông những ủng hộ viên và bạn bè rằng lúc Hillary quyết định đến Arkansas chung sống với ông năm 1973, ông giật mình kinh hoàng vì cho rằng mình đã tước bỏ mất của bà vô vàn cơ hội lập nghiệp hết sức kỳ thú. Ông nói: “Tôi sợ rằng mình đã kéo Hillary ra khỏi cuộc sống của cô ấy – đó là người tài năng nhất tôi biết được cho tới thời điểm ấy. Và như thế, tất cả những gì cô ấy làm hôm nay là những gì tôi đã từng nghĩ tới, vì lợi ích của đất nước… lẽ ra cô ấy đã có thể làm những việc này từ năm 1973. Tôi rất sung sướng vì khi đó cô ấy đã không làm như vậy; và tôi rất sung sướng vì cô ấy đã làm những việc đó vào hôm nay.” Ông cũng tâm sự với đám đông rằng mới đây ông đã bảo vợ: “Trong hai mươi năm qua chúng mình đã đi đến nơi mà anh muốn đến, đã làm những gì anh muốn làm; và anh sẽ cho em hai mươi năm kế tiếp. Và nếu như đến ngày ấy anh vẫn còn sống thì chúng ta sẽ cùng nhau chiến đấu suốt quãng thời gian còn lại.”

Một người có mặt trong buổi gặp gỡ đó kể lại: “Trong lúc ông ấy nói những lời như vậy, vẻ mặt của bà ấy thể hiện một niềm vui thuần khiết, một tình yêu thật sự.”

Ra khỎi cỔng, Hillary vấp ngã không chỉ một lần. Tại một sự kiện trong mùa thu năm 1999, khi ông Bill đón tiếp các cầu thủ đội bóng rổ vô địch thế giới Yankee của New York tại Nhà Trắng, đội trưởng Joe Torre trao cho Hillary một chiếc mũ của đội Yankee. Một cổ động viên lâu năm của đội Cubs không bỏ lỡ cơ hội đội ngay chiếc mũ lên đầu bà với một nụ cười hăm hở. Nhiều người dân New York, đặc biệt là các tờ báo lá cải, đã đem hình ảnh đó ra làm trò cười. Vào dạo đó Hillary có nói rằng đội Bronx Bombers luôn luôn là đội ưa thích nhất của bà trong giải ngoại hạng Mỹ; còn trong sách của mình, bà nói rằng bà là cổ động viên cuồng nhiệt của Mickey Mantle (cầu thủ huyền thoại của đội Yankee) từ hồi còn bé. Có thể đúng như vậy, nhưng ở một tiểu bang mà đối thủ của bà nổi tiếng là cổ động viên cuồng nhiệt cho đội Yankee, chuyện đó có vẻ giả tạo.

Thế rồi vào tháng 11 năm 1999, Hillary lại bị hố một vố lớn hơn nữa. Trong một chuyến công du tới Israel, bà đã tham dự một sự kiện với tư cách Đệ nhất Phu nhân, cùng với bà Suha Arafat – phu nhân của lãnh tụ Palestin, ông Yasser Arafat. Sau bài phát biểu của bà Suha Arafat, trong đó bà này nói Israel đã sử dụng hơi độc để chống lại người Palestin, Hillary đã đi lên bục để phát biểu và hôn nhẹ lên má bà Arafat. Cộng đồng người Do Thái ở New York nổi giận. Về sau Hillary nói rằng, “những lời lẽ đáng ghét” của bà Arafat đã không được dịch đúng từ tiếng Arab sang tiếng Anh trong tai nghe của bà, và bà cực lực phản đối lời tố cáo của bà Arafat. Báo chí New York lại có một ngày đáng ghi nhớ với câu chuyện này.

Phản ứng của bà là cứ tiếp tục tiến tới. Hillary hy vọng sẽ đến thăm đủ sáu mươi hai quận hạt trong toàn bang NewYork và gặp được càng nhiều nhóm nhỏ cử tri, nhất là phụ nữ, càng tốt. Lái ngang dọc tiểu bang trên chiếc “conversion van” hiệu Ford (cánh báo chí đặt tên cho nó là “toa xe tốc hành HRC”) bà đi theo Luật Vận động Tranh cử của ông Bill: bắt tay được càng nhiều người càng tốt; lắng nghe được càng nhiều người càng tốt; đừng bao giờ không mỉm cười hoặc không nêu câu hỏi. Khi bà bắt đầu cảm thấy thoải mái trong việc mở rộng lòng mình, thì cử tri cũng đáp lại thuận lợi. Một con người bình dị, thậm chí là nép mình xuống, Hillary không giống như những gì phần lớn mọi người vẫn nghĩ. Nhiều cư dân New York được báo chí địa phương trích lời đã nói rằng Đệ nhất Phu nhân “xem ra cũng giống chúng ta.” Sự phán xét ban đầu dọc theo những con đường lầm bụi ở miền quê New York là một thành quả rất lớn lao của một người phụ nữ sinh ra tại tiểu bang Illinois, và trải qua phần lớn cuộc sống trưởng thành của mình ở bang Arkansas.

Không lâu sau khi chiến dịch vận động năm mới của bà bắt đầu, Hillary xuất hiện trong chương trình Late Show with David Letterman. Bà rất lo lắng về sự xuất hiện của mình. Bà nghĩ ông Letterman có tính chua ngoa sẽ cố làm cho bà lúng túng. Letterman hỏi về ngôi nhà của gia đình Clinton ở Chappaqua; ông đùa rằng sau khi ông nhắc tới nó rồi, thì “sắp tới thằng khùng nào trong vùng cũng sẽ chạy xe ngang và bóp còi cho mà xem.”

“Ồ, phải anh không đó?” Hillary hỏi lại. Letterman cười vang và đám đông cũng gào lên.

Việc công bố chính thức ý định ra tranh cử của bà diễn ra vào tháng 2 năm 2000. (Các phóng viên đùa cợt rằng đây là lần thứ tư Hillary ra hiệu cho biết ý định của bà là ra tranh cử Thượng viện.) Tại sự kiện này, tổ chức ở Purchase, New York, Hillary Rodham Clinton bỏ luôn không chỉ một mà hai – cả họ và tên chồng trong tên của bà ra khỏi các văn bản, phù hiệu, bích chương tranh cử, để chỉ còn đơn giản là “Hillary”.

Tên đơn giản, một chữ, là một phần quan trọng trong chiến lược tự khắc họa hình ảnh của bà với người dân New York, không phải như một Đệ nhất Phu nhân cả thế giới đều biết, mà như một người bạn, một người láng giềng, như một người muốn bạn biết tới mình chỉ qua một cái tên ngắn gọn. “Ai cần đến tính long trọng của một cái họ cơ chứ, khi tên của bạn đã khá khác thường, và sự nổi tiếng của bạn thì không ai sánh nổi?” Đó là nhận xét của J. Harpaz, một phóng viên của hãng tin AP chuyên đưa tin về cuộc vận động năm 2000 của Hillary. “Đã có Elvis, Cher, Madonna, Oprah và nay thì Hillary!”, ông nói.

Vài tuần sau, đến lượt chính thị trưởng thành phố New York, ông Guiliani, bị báo chí công kích kịch liệt. Khi một sĩ quan cảnh sát chìm của New York nổ súng và giết chết một người đàn ông da đen tên là Patrick Dorismond vào tháng 3 năm 2000, mối quan hệ vốn đã căng thẳng giữa ông Guiliani với cộng đồng người thiểu số ở thành phố đã trở thành một vấn đề tranh cử nổi cộm – một vấn đề mà Hillary và các cố vấn của bà biết rằng họ phải lợi dụng. Nhiều công dân ở các khu dân cư thiểu số căm ghét cảnh sát, và sau khi ông Guiliani công bố hồ sơ vị thành niên đã niêm phong của Dorismond, rồi đặt nghi vấn về thanh danh của người đã chết, thì cộng đồng thiểu số của thành phố càng giận dữ hơn với chiến thuật của ông thị trưởng. Hillary nhìn thấy cách xử trí tình huống đó của Guiliani là “sai lầm” – và bà đã nói như thế.

Ở Harlem, tại nhà thờ Bethel AME., Hillary bất ngờ tấn công dữ dội vào ông thị trưởng, bà liên tục phê phán ông Guiliani về cách thức ông xử lý trường hợp đó. Bà nói: “New York có một vấn đề thực sự và tất cả chúng ta đều biết – Tất cả chúng ta, chỉ trừ ông thị trưởng.” Đám đông hưởng ứng với những tràng pháo tay không dứt. Giuliani nổi điên lên, ông nói rằng Hillary và mục sư Al Sharpton “đang đọc cùng một văn bản. Những gì họ đang cố thực hiện là lợi dụng một tình huống khó khăn và cố gắng biến nó thành một tình huống phân cực về chính trị mang lại lợi thế cho mình.” Nhưng các cố vấn của Hillary tin rằng hoạt động của bà ở Harlem đã đánh dấu bước chuyển biến trong chiến dịch vận động tranh cử của bà. Hillary tin rằng cuối cùng mình đã tìm được tiếng nói chính trị của chính mình, một tiếng nói vừa cứng rắn vừa đầy lòng trắc ẩn.

Vài tuần sau đó ông Giuliani làm mọi người sửng sốt với tuyên bố rằng ông rút lui khỏi cuộc chạy đua sau khi chẩn đoán mình bị ung thư tuyến tiền liệt. Vào lúc đó, Hillary dẫn trước tám điểm. Một ứng cử viên mới của Đảng Cộng hòa nổi lên – một người trẻ, một gương mặt mới là dân biểu Hạ viện Mỹ đại diện khu vực Long Island tên là Rick Lazio.

Mùa xuân năm ấy trong lúc đang tiếp tục cuộc vận động tranh cử, bà bị đau đớn cùng cực khi nghe tin người bạn tốt nhất của mình, bà Diane Blair, đã bị ung thư phổi di căn. Ở tuổi sáu mươi mốt, Blair là người tin cẩn nhất của Hillary và Hillary đã mấy lần đến thăm bà ở bệnh viện thành phố Fayetteville. Vào tháng 6, chồng của Diane là Jim gọi điện cho Hillary nói rằng giây phút cuối cùng đã đến gần. Hillary, cùng với Bill và Chelsea, đã bay tới bên giường bệnh của bạn. Diane vì trải qua xạ trị nên sức khỏe rất yếu và tóc rụng hết. Nhưng mặt bà sáng lên khi Hillary vào phòng bệnh để nói lời chia tay.

“Đừng từ bỏ chính mình và những gì cậu tin tưởng,” bà Diane bảo Hillary. “Hãy chăm sóc Bill và Chelsea. Họ cần cậu. Và hãy thắng cuộc bầu cử này vì mình. Mình ước gì mình có thể đứng bên cậu khi cậu chiến thắng. Mình yêu cậu.”

Với Bill và Chelsea đứng bên cạnh Hillary, cuối cùng bà Diane Blair nói, “Hãy nhớ.”

“Nhớ gì?” Ông Bill hỏi.

“Chỉ cần nhớ.”

Năm ngày sau đó, Diane Blair qua đời. Khoảng trống mà cái chết của bà để lại vẫn là khoảng trống khổng lồ trong cuộc đời Hillary; bà vẫn nghĩ về người bạn cũ ít nhất mỗi ngày một lần.

TRỞ LẠI NHÀ, HILLARY BẮT ĐẦU chuẩn bị cho ba cuộc tranh luận với Rick Lazio. Bà đã xây dựng được một vị trí dẫn đầu khá thoải mái trong các cuộc thăm dò ý kiến: vào khoảng mười hai đến mười lăm điểm. Trong cuộc tranh luận diễn ra ở thành phố Buffalo ngày 13 tháng 9, Lazio đập bà Hillary vì đã nhận những đóng góp rất lớn bằng tiền mặt từ ủy ban toàn quốc Đảng Dân chủ và ông thách thức bà cấm bộ máy vận động của bà nhận những tấm séc có giá trị lớn từ Đảng Dân chủ. Hillary chuẩn bị phản công, nhưng Lazio vẫn tiếp tục nói, vừa vẫy vẫy một tờ giấy mà ông gọi là “Hiệp định New York không nhận tiền mặt”. Ông ta rời bục nói chuyện của mình, tiến về phía Hillary và đặt tờ giấy trước mặt bà nhưng bà từ chối, không ký tên vào đó. Ông xán lại gần sát bà hơn, vừa vỗ vỗ tờ giấy trước mặt bà vừa hét lên: “Ký đi! Ngay bây giờ!”

Hillary chìa tay ra bắt tay Lazio nhưng ông ta chỉ nói: “Không, không, tôi chỉ muốn chữ ký của bà. Bởi vì tôi nghĩ rằng mọi người muốn thấy bà ký vào một điều mà bà nói rằng bà tán thành. Tôi cũng tán thành. Tôi chưa từng làm việc đó. Bà thì vi phạm. Tại sao bà không đứng lên và làm một điều gì đó – một điều gì quan trọng cho nước Mỹ. Trong lúc nước Mỹ đang nhìn về New York, tại sao bà không thể hiện chút tài năng lãnh đạo bởi vì nó sẽ trở thành niềm tin, trở thành tính cách.”

Thoạt đầu, các nhà bình luận và phóng viên báo chí nghĩ rằng hành động gây hấn của Lazio về vấn đề tiền tài trợ sẽ mang lại cho ông ta một thắng lợi vang dội. Nhưng nhiều khán giả theo dõi cuộc tranh luận, nhất là phụ nữ, cảm thấy bực bội bởi cái cách mà ông Lazio “xâm lấn” không gian của bà Hillary với một thái độ hung hăng như vậy.

Lazio phát hiện ra tác động của cuộc đối đầu đó vào sáng hôm sau, tại một chặng dừng chân trên đường vận động tại một trường học ở Rochester. Một bé gái bảy tuổi nhìn ông Lazio và hỏi: “Tối qua cháu nhìn thấy ông trên truyền hình NBC – tại sao ông lại đánh nhau với bà Clinton?” Một cuộc thăm dò của báo Daily News cho thấy cách biệt hai-một. Các nữ cử tri cho rằng bà Hillary đã thắng trong cuộc tranh luận.

Mặc dù bị tấn công dữ dội sau cuộc đối đầu trong đêm tranh luận đó, Lazio vẫn tiếp tục tiến hành cuộc vận động chủ yếu theo hướng tiêu cực. Hillary đánh trả bằng những quảng cáo sắc nhọn của mình, trong đó có một tiểu phẩm đưa hình ông cựu thị trưởng New York Ed Koch, người cảnh cáo Lazio bằng câu nói, “Rick, hãy thôi ngay những trò bẩn ấy đi.” Mặc dù Lazio thu hẹp khoảng cách với Hillary vào tháng 10, chênh nhau chỉ vài điểm, Hillary vẫn tiếp tục giành thắng lợi với số điểm 55-43.

Hillary và Bill hết sức vui mừng. Bà nói, “Tám năm có danh mà không có phận. Giờ đây tôi đã là một thượng nghị sĩ được bầu lên.” Đối với Hillary, cái danh từ đó có một ý nghĩa ngọt ngào. Nửa thứ hai trong kế hoạch làm tổng thống đầy tham vọng của vợ chồng Clinton đã bắt đầu được triển khai.

❀ ❀ ❀

[1] Người ra tranh cử vào Quốc hội Mỹ bên ngoài địa hạt của mình, một kẻ trục lợi trên một địa hạt không dính líu gì tới mình - ND

[2] Lame-duck session: phiên họp của nhóm người (hay người) cầm quyền đã thất cử, chờ nhóm người (hay người) kế nhiệm để chuyển giao - ND

[3] Runner – ở đây tác giả chơi chữ, runner vừa là người chạy bộ, vừa là người tranh cử - ND

[4] Plutarch, triết gia, nhà văn Hy Lạp cổ, sinh sống khoảng năm 46-120. Ông đã viết tác phẩm “Những cuộc đời song song” (Parallel Lives) - một tuyển tập tiểu sử và truyện danh nhân mà Shakespeare sử dụng để sáng tác những vở kịch về cung đình La Mã - ND

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.