GẦN ĐÂY, MỖI ĐÊM, TÔI HAY NẰM TRẰN TRỌC cả mấy tiếng đồng hồ, mắt thì mở thao láo, tai dỏng lên ghi nhận âm thanh của sự im lặng ở xung quanh. Thảng hoặc, tôi lại ngóc đầu dậy khi nghe thấy một tiếng động từ xa vọng lại – tiếng một giọt nước rơi xuống sàn, tiếng một người trở mình trong lúc ngủ - và lâu lâu, tôi lại ra khỏi giường, bước về phía cửa sổ để chắc chắn rằng ngoài kia không có gì, rõ rằng tôi đang cố tìm đến cảm giác mang dáng dấp của sự an toàn, nhưng cũng rất mong manh.
Đêm nào giấc ngủ của tôi cũng rút ngắn hơn đêm trước. Tôi trở nên yếu dần, mệt lử với sự mê sảng. Việc ăn uống của tôi cũng vấp phải vấn đề. Tôi cũng ý thức được rằng nỗi lo lắng chẳng đem lại điều gì tốt đẹp, tuy thế, tôi vẫn chẳng màng đến chuyện nghỉ ngơi, ăn uống, hoặc làm gì để cải thiện cảm giác của mình. Và rồi, cuối cùng, tôi chìm vào giấc ngủ, khi ấy, không một thứ gì có thể xua đuổi được các giấc mơ hãi hùng vẫn khiến tôi phải bật dậy luôn.
Sau cái hôm gặp gã đàn ông có ria trong quán cà-phê, tôi không còn trông thấy bóng dáng của hắn ở đâu nữa, thế nhưng tôi không thể nào gạt bỏ cái ý niệm rằng không thấy hắn không có nghĩa là hắn không còn ở ngoài kia nữa. Tôi cứ ngẫm nghĩ quanh đi quẩn lại mấy câu hỏi giống nhau: kẻ nào đã ở trong cái hang của tôi? Gã đàn ông để ria trong quán cà-phê là ai hay là nhân vật nào? Vì sao hắn lại đọc quyển sách có tên cái tên Pittacus trên bìa? Và, quan trọng nhất, vì lẽ gì mà hắn lại để tôi đi một khi hắn chính là Mogadore? Chẳng có một lời giải thích nào khả dĩ chấp nhận được, thậm chí cả cái tựa nằm trên quyển sách của gã đàn ông ấy. Tôi chẳng tìm thấy gì ngoài mấy dòng miêu tả vắn tắt trên internet: một vị tướng lĩnh của Hy Lạp có những phát biểu ngắn gọn, súc tích, đã đánh bại quân đội Athena khi họ sắp mở cuộc tấn công càn quét thành phố thuộc Mytilene. Như vậy thì biết làm gì được.
Không bàn đến những câu hỏi về cái hang và quyển sách, tôi đã rút ra được hai kết luận. Thứ nhất là tôi không gặp phải chuyện gì vì con số của tôi đang mang. Trong hiện tại, nó sẽ giữ cho tôi được an toàn, nhưng được bao lâu? Thứ hai, chính những người trong quán cà-phê đã khiến cho tên Mogadore không dám manh động. Tuy nhiên, từ những gì tôi biết được về kẻ thù, thì một tên Mogadore sẽ không để cho các nhân chứng cản địa chúng. Tôi đã thôi không còn đến lớp và tan trường trước mọi người nữa, thay vào đó, tôi luôn hòa mình vào đám đông. Cũng như để bảo vệ Ella, tôi không còn đi chung với bé con ở bên ngoài. Tôi ý thức được hành động này sẽ khiến em bị tổn thương, nhưng như vậy là tốt nhất. Bé con không đáng phải vướng vào những rắc rối của tôi.
Tuy nhiên, tất cả những chuyện này đã đem lại cho tôi một tia hy vọng, đó chính là những thay đổi đễ nhận thấy ở cô Adelina. Nỗi lo lắng tạo thành những nếp nhăn trên trán cô. Sự lo lắng luôn túc trực trong đôi mắt khi cô cho rằng không có ai nhìn thấy, và đôi mắt ấy đảo tới đảo lui trong phòng không khác gì một con thú đang hoảng loạn, sợ hãi; động thái hệt như cách đây vài năm, lúc cô vẫn còn có niềm tin về Lorien. Kể từ lúc tôi ngã vào vòng tay của cô Adelina sau khi chạy như bay như biến từ quán cà-phê trở về, hai cô cháu chúng tôi không còn nói chuyện với nhau nữa, chính những thay đổi này nơi cô đã khiến tôi đinh ninh rằng Cêpan của tôi đang trở lại.
Bóng tối. Sự tĩnh lặng. Mười lăm người đang ngủ. Tôi ngóc đầu dậy, nhìn sang bên kia phòng. Thay vì trông thấy cái dáng nhỏ nhắn trên chiếc giường của Ella, mấy chiếc mền lại được hất sang một bên, và chiếc giường của con bé trống không. Đây là đêm thứ ba liên tiếp tôi ghi nhận được sự vắng mặt của cô bé, và chưa bao giờ tôi nghe thấy tiếng bước chân bỏ đi của em. Tuy nhiên, tôi đang đối diện với những vấn đề lớn đáng lo hơn là tìm hiểu xem con bé đã bỏ đi đâu.
Tôi lại gục đầu xuống gối và đưa mắt ra ngoài cửa sổ. Bên ngoài là mặt trăng tròn vành vạnh, sáng rực và vàng óng. Tôi chú mục vào vầng trăng ấy một hồi lâu, bị mê hoặc trước vật thể sáng ngời treo giữa bầu trời. Hít vào một hơi thật sâu, tôi khép mắt lại. Và khi tôi mở mắt ra, mặt trăng đã chuyển từ màu vàng tươi sang màu đỏ máu, lờ mờ, rồi tôi nhận ra đó không phải là mặt trăng, mà chính là hình ảnh phản chiếu của nó tỏa sáng dưới một cái hồ nước đen ngòm. Hơi nước bốc lên khỏi mặt hồ, không khí nồng nặc thứ mùi kim loại hăng hắc. Tôi ngẩng đầu lên một lần nữa, và chỉ đúng vào lúc này, tôi mới thấy mình đang đứng giữa một trận địa hoang tàn nhuộm đầy máu.
Xác người nằm rải rác khắp nơi, những người đã chết và những người đang hấp hối, hậu quả của một cuộc chiến không còn ai sống sót. Theo bản năng, tôi đưa hai tay lên cơ thể mình, tìm kiếm những vết thủng của chỗ bị thương, các vết cắt, nhưng hóa ra tôi không bị làm sao cả. Vào khoảnh khắc đó, tôi trông thấy cô gái ấy, cô gái có đôi mắt xám vẫn từng hiện diện trong giấc mơ của tôi, cô gái mà tôi đã vẽ trên thành hang, bên cạnh John Smith. Cô gái đang nằm bất động trên bãi. Tôi chạy tới. Máu đang tuôn ra khỏi cơ thể của cô gái, thấm vào cát và bị cuốn ra biển. Mái tóc đen nhánh ôm lấy khuôn mặt nhợt nhạt. Cô gái không còn thở nữa, tôi đau đớn biết dường nào khi hiểu rằng mình không thể làm bất cứ một điều gì để thay đổi. Bất chợt đằng sau tôi bỗng vang lên một tiếng cười trầm đục, giễu cợt. Tôi khẽ khép mắt lại và một cách chậm rãi, quay lại để đối diện với kẻ thù.
Tôi mở mắt ra, chiến trường biến mất; trở về với chiếc giường quen thuộc trong căn phòng tối đen. Mặt trăng vẫn bình thường và vàng rực. Tôi ngồi dậy, thò chân xuống đất, đi về phía cửa sổ, quét mắt vào màn đêm tĩnh lặng và êm ả. Không có bóng dáng của gã đàn ông để ria, mà cũng chẳng có bất kỳ một thứ gì khác. Tuyết đang tan, mặt trăng tỏa sáng lấp lánh trên những viên sỏi ướt. Hắn có đang quan sát tôi không?
Tôi quay người lại, trở vào giường. Trong tư thế nằm ngửa, tôi hít vào từng hơi thật sâu để lấy lại bình tĩnh. Toàn bộ cơ thể tôi căng thẳng và săn cứng. Tôi nghĩ đến cái hang và việc tôi đã không trở lại đó từ lúc phát hiện ra những dấu giày bốt như thế nào. Tôi trở mình, xoay lưng ra phía cửa sổ. Tôi không muốn nhìn những gì đang hiện diện ở ngoài kia nữa. Ella vẫn chưa trở lại giường. Tôi cố thức để chờ bé con trở lại, nhưng sau đó đã ngủ quên mất. Không còn giấc mộng nào kéo đến nữa.
Khi hồi chuông báo sáng réo vang, tôi nhấc đầu dậy khỏi gối, toàn bộ cơ thể cứng đờ và đau nhừ. Những hạt mưa lạnh quật liên hồi vào cửa sổ. Tôi đưa mắt sang bên kia phòng, trông thấy Ella đang ngồi dậy, vươn vai, giơ hai tay lên hướng trần nhà và ngáp dài.
Chúng tôi cùng lê bước ra khỏi phòng, không ai nói với ai một lời nào. Cả hai đứa lại bắt đầu những công việc quen thuộc của Chủ Nhật và ngồi dự Thánh Lễ Misa, đầu để thẳng. Có một lần, tôi huých vào Ella để đánh thức em, nhưng rồi hai mươi phút sau, cô bé đã trở lại tình trạng cũ. Tôi tiếp tục đứng ở quầy ăn phục vụ El Festín, lấy thức ăn cho mọi người, không quên quan sát xem có ai đáng nghi ngờ hay không. Khi mọi việc diễn ra bình thường, tôi không thể xác định là mình cảm thấy nhẹ nhõm hay thất vọng. Điều khiến tôi buồn nhất là không thấy bóng dáng của Héctor.
Đến lúc phải dọn dẹp, La Gorda và Gabby bắt đầu chạy quanh, xịt nước vào nhau bằng cái ống gắn vào bồn rửa chén trong bếp, còn tôi thì đang rửa ráy và lau khô đĩa. Tôi phớt lờ cả hai, dù thậm chí có lúc tôi bị bắn nước lên mặt. Hai mươi phút sau, khi vừa lau khô chiếc đĩa cuối cùng, cẩn thận đặt nó lên trên cùng chồng đĩa khá cao, thì một cô gái tên là Delfina trượt chân trên sàn nhà ướt nhẹp đã va mạnh vào tôi, khiến tôi ngã vào chồng đĩa và làm cho tổng cộng ba mươi chiếc đĩa rơi trở lại vào nước bẩn, một vài chiếc bể tan tành.
- Sao không chịu chú ý gì hết vậy hả - Tôi hét lên và đẩy cô ta bằng một tay.
Delfina quay lại, xô tôi ngược ra sau.
- Này! - Ở bên kia bếp, Sơ Dora quát to – Hai đứa kia, có thôi ngay đi không! Hừ!
- Bồ sẽ phải trả giá cho mà xem – Delfina cảnh báo.
Tôi không sao có thể chờ đợi mà chịu đựng thêm được cái Santa Teresa này.
- Được. Cứ đợi xem – Tôi đáp sẵng giọng, mặt vẫn cau có.
Delfina gật đầu, vẻ hiểm độc hiện rõ trên khuôn mặt của cô ta.
- Thế thì cẩn thận đấy.
- Nếu ta mà phải tới đó, thề có Chúa, hai đứa sẽ phải hối hận đấy – Sơ Dora đe nẹt bằng giọng gay gắt.
Thay vì dùng siêu năng lực ném Delfina tốc mái – cũng như Sơ Dora hay Gabby, La Gorda – tôi trở lại với đống đĩa.
Cuối cùng, khi đã hoàn tất công việc, tôi bước ra ngoài. Trời vẫn còn mưa nên tôi dừng dưới hiên nhìn về phía cái hang. Bùn sẽ đóng dày ở sườn núi, và cả người tôi sẽ lấm lem hết. Tôi vin vào lý do đó để không đi, dù tôi ý thức được rằng dẫu cho không mưa, tôi cũng không có can đảm, tuy rất tò mò muốn biết xem có dấu giày bốt mới trên bùn hay không.
Tôi đi ngược trở lại vào trong. Nhiệm vụ trong ngày Chủ Nhật của Ella lả quét dọn giáo đường và lau chùi các ghế, sau khi mọi người đã rời khỏi. Khi tôi tới đó, mọi thứ đã xong đâu vào đấy cả rồi.
- Em có trông thấy Ella ở đâu không? – Tôi hỏi một em gái mười tuổi tên là Valentina. Cô bé lắc đầu. Tôi trở lại phòng ngủ, cũng không thấy bóng dáng của Ella. Tôi ngồi xuống chiếc giường của cô bé. Tấm nệm nảy lên làm lộ ra một vật màu bạc ở bên dưới gối của Ella. Đó là một chiếc đèn pin nhỏ xíu. Tôi bật đèn lên. Đèn chiếu sáng lóa. Tôi tắt đèn và đặt trở lại nơi đã tìm ra để các Sơ không trông thấy.
Tôi bước dọc theo các hành lang, vừa đi vừa ngó vào từng phòng. Vì mưa nên hầu hết mọi người đều ở lại, tụ tập thành những nhóm nhỏ ở chỗ này chỗ kia, cười đùa, tám chuyện và chơi trò chơi.
Tiền sảnh nơi tầng hai được kết cấu tách ra làm hai, dẫn vào hai chái nhà thờ riêng biệt, tôi đi về hướng bên trái, tiến vào hành lang đầy bụi bặm, tối tăm. Ở đây có những căn phòng trống, các bức tượng cổ ăn sâu vào đá và trần nhà hình vòng cung; tôi lần lượt ló đầu vào các cửa để tìm Ella. Không có bóng dáng của cô bé. Các hành lang đều nhỏ hẹp, mùi bụi bặm lẫn với mùi đất nóng ẩm ướt. Ở cuối lối đi là một cánh cửa lằm bằng gỗ sồi được khóa trái mà một tuần rưỡi trước, tôi đã từng nạy ra để tìm chiếc Hộp. Đằng sau cánh cửa là một cầu thang đá bao quanh một cái tháp hẹp dẫn lên gác chuông hướng bắc, nơi đặt một trong hải quả chuông của Santa Teresa. Chiếc Hộp cũng không hề ở đó.
Tôi lướt internet một lúc nhưng không tìm thấy tin gì của John Smith. Thế là tôi trở về chỗ ngủ, nằm trên giường và giả vờ ngủ. May thay, La Gorda, Gabby, và Delfina không vào phòng, mà tôi cũng chẳng thấy Ella. Tôi rời khỏi giường, đi về cuối hành lang.
Bước vào giáo đường, tôi tìm thấy Ella đang ngồi ở hàng ghế cuối. Tôi ngồi xuống bên cạnh bé con. Cô bé mỉm cười với tôi, dáng điệu tỏ ra mệt mỏi. Hồi sáng này, tôi có cột tóc kiểu đuôi ngựa cho em, nhưng giờ thì đuôi tóc đã lỏng. Tôi tháo sợi dây, Ella xoay đầu để tôi có thể cột lại.
- Em đã ở đâu cả ngày vậy? – Tôi hỏi han – Chị tìm em mãi.
- Em tìm kiếm đó mà – Bé con thốt lên, giọng đầy tự hào. Hốt nhiên, tôi cảm thấy mình thật là tồi tệ hết sức khi đã phớt lờ em trên đường đến trường.
Cả hai chị em tôi cùng sóng bước trở về phòng và chúc nhau ngủ ngon. Luồn người vào dưới những tấm mền, chờ đợi đèn tắt, tôi cảm thấy thất vọng và buồn, muốn cuộn mình lại mà khóc ngon lành. Và đó là những gì tôi đã làm.
Tôi tỉnh dậy vào giữa đêm, không biết là mấy giờ, dù tôi chắc mẩm mình đã thiếp đi ít nhất là mấy tiếng đồng hồ. Tôi trở người và khép mắt lại, nhưng có một cái gì đó khang khác. Căn phòng đang có sự thay đổi mà tôi không thể giải thích được, cảm giác ấy khuấy động sự lo lắng mà tôi đang phải đeo mang cả tuần nay.
Tôi lại mở mắt ra, trong thời khắc đôi mắt đã quen với bóng tối, tôi phát hiện ra có một gương mặt đang chú múc vào mình. Thở dốc, tôi bật ngay dậy, lùi hẳn về phía sau, nép người vào bức tường. Mình bị bắt rồi, tôi nghĩ bụng, bị bắt ở ngay cái góc xa nhất. Mình ngốc biết bao khi lại thích cái giường này. Tôi siết hai tay lại, và đúng lúc tôi sắp sửa thét lên đồng thời đá thẳng vào khuôn mặt ấy thì tôi nhận ra một đôi mắt nâu.
Ella.
Ngay lập tức, tôi thư giãn người. Không rõ bé con đã đứng đó bao lâu.
Một cách chậm rãi, cô bé đưa ngón tay trỏ bé tí xíu lên môi. Rồi với đôi mắt mở to, em mỉm cười, rướn người tới. Em khum tay quanh tai tôi:
- Em tìm thấy chiếc Hộp rồi – Ella thì thào.
Tôi ngả người ra sau, nghiêm nghị nhìn vào khuôn mặt rạng rỡ, nghếch lên của bé con, hiểu ngay tức khắc rằng cô bé nói thật. Đến lượt đôi mắt tôi cũng mở to hết cỡ. Tôi không sao ngăn được sự phấn khích của mình. Tôi kéo Ella lại, ôm lấy cái cơ thể bé bỏng ấy thật chặt, chặt đến mức tối đa.
- Ôi Ella, em không biết là chị tự hào về em đến thế nào đâu.
- Em đã nói với chị rằng em sẽ tìm ra nó mà. Em đã nói với chị rồi, vì mình là một đội và mình luôn giúp đỡ nhau.
- Phải rồi – Tôi cũng nhỏ giọng, thì thầm đáp lại.
Rồi tôi buông Ella. Gương mặt của bé con tràn trề sự hãnh diện.
- Đi, chị. Em sẽ chỉ chỗ cho chị xem – Nói đoạn bé con nắm tay tôi, kéo tôi theo cô bé đi vòng qua chiếc giường, nhón chân thật khẽ.
Chiếc Hộp – tia sáng hy vọng tôi đang trông chờ, là vật tôi đang cần nhất trên đời.