TÌ TAY LÊN BẬU CỬA SỔ, TÔI DÕI MẮT NGẮM NHÌN các bông hoa tuyết lắc rắc rơi dưới bầu trời đêm, thả mình xuống sườn núi lô nhô mấy ngọn thông, ngọn sồi và rải rác đó đây vài cây bần, thảng hoặc là một số tảng đá dốc đứng đây đó. Tuyết sẽ không ngừng rơi cả ngày, và người ta bảo rằng tuyết sẽ rơi suốt cả buổi tối. Tầm nhìn của tôi có thể bươn tới tận mạn bắc của thị trấn – cả thế giới như bị mất hút trong màn sương trắng lờ nhờ. Khi trời quang, suốt cả ngày, có thể nhìn thấy rõ được mực nước xanh lơ của Vịnh Biscay. Còn với cái thời tiết này thì đành chịu, tôi không sao ngăn được mình trước thắc mắc: liệu có gì đang ẩn nấp dưới cái màu trắng lóa ở bên ngoài nhỡn giới của tôi?
Tôi ngoái nhìn lại đằng sau. Trong căn phòng lạnh lẽo với cái mái cao ngất chỉ có vỏn vẹn hai chiếc máy vi tính, nếu muốn sử dụng thì phải điền tên mình vào danh sách rồi chờ đến lượt. Buối tối, khi có người đợi thì chỉ được sử dụng đúng mười phút, còn nếu không có ai thì được sử dụng máy hai mươi phút. Hiện thời, hai cô gái kia đã ngồi tới nửa tiếng đồg hồ rồi, mà sự kiên nhẫn của tôi thì chẳng còn mấy nữa. Từ ban sáng, khi lò dò bước chân vào căn phòng này, trước bữa điểm tâm, tôi chưa hề có lúc nào kiểm tra tin tức cả. Lúc ấy, vẫn chưa có bài viết nào về John Smith, nhưng không một giây phút nào tôi lại thôi phập phồng cho điều sắp sửa xảy ra. Kể từ khi bản đầu tiên được trình làng, mỗi ngày người ta lại phát hiện thêm điều mới.
Santa Teresa là một tu viện, đồng thời cũng là một trại trẻ mồ côi chỉ nhận các trẻ em gái. Bây giờ, trong ba mươi bảy người ở đây, tôi là kẻ “già đầu” nhất, đây là cái “danh hiệu” mà tôi đã giữ suốt sáu tháng ròng, sau khi cô gái cuối cùng vừa mới bước sang tuổi mười tám đã khăn gói ra đi. Đến mười tám tuổi, chúng tôi phải tự đưa ra quyết định cho bản thân mình, hoặc là ra khỏi tu viện, hoặc là gắn bó toàn bộ cuộc đời mình với Nhà Thờ. Và thực tế là trong tất cả các cô gái đã đến ngưỡng mười tám tuổi, chưa có cô nào chịu ở lại cả. Cũng chẳng thể nào trách họ được. Ngày sinh của tôi do cô Adelina và tôi cùng ấn định lúc hai cô cháu đến tá túc nơi này, chỉ còn chưa đầy năm tháng nữa, đó cũng là cái mốc đánh dấu thời điểm tôi mười tám tuổi. Và chẳng khác nào các bạn, tôi luôn nung nấu ý định thoát khỏi cái nhà tù này, mặc cho cô Adelina có chịu lên đường cùng tôi hay không. Thật cũng khó mà hình dung là cô ấy chịu hành động cùng tôi lắm.
Tu viện Santa Teresa được xây dựng bằng đá từ năm 1510, một tu viện quá đồ sộ so với nhóm người trú ngụ. Đa số các phòng đều bò không; những phòng có người thì đem lại cảm giác ẩm ướt; hơi đất nồng nồng; cứ âm vang tiếng vọng rền trần. Tọa lạc trên một ngọn đồi cao nhất vùng, Santa Teresa trông xuống một ngôi làng có cùng tên gọi, ẩn mình sâu trong rặng Picos de Europa, nằm về phía bắc Tây Ban Nha. Cũng chắng khác nào tu viện, ngôi làng được dựng bằng đá, nhiều cấu trúc ăn sâu thẳng vào sườn núi. Nếu thuôn theo Calle Principal – con đườg chính của thị trấn – sẽ bắt gặp những khung cảnh hoang tàn. Vùng đất như chìm trong sự lãng quên thời gian. Qua hàng thế kỷ, rêu phong đã phủ đầy sắc xanh, nâu; không khí ngai ngái thứ mùi mốc ẩm.
Kể từ ngày tôi năn nỉ cô Adelina cùng lên đường với mình, theo đúng tinh thần phải luôn luôn dịch chuyển, tính đến nay đã năm năm: “Biệt Năng của cháu sẽ sớm xuất hiện thôi, cháu không muốn đón nhận nó ở chốn này, lúc nào cũng có các Sơ và mấy bạn tới lui qua lại.” Tôi đã mở lời như vậy. Và người giám hộ của tôi đã thẳng thừng từ chối, cô viện dẫn lời của La Biblia Reina Valera (Bản Kinh thánh King James) rằng chúng tôi phải tĩnh tâm để cứu rỗi linh hồn. Từ đó, cứ mỗi năm, tôi lại ra rả cái điệp khúc cầu xin, và năm nào cô Adelina cũng nhìn tôi bằng mắt vô hồn, cũng gạt phăng lời tôi bằng những huấn thị tôn giáo. Dù gì thì gì, tôi vẫn cứ đinh ninh một điều rằng sự cứu rỗi linh hồn của tôi không hề nằm ở đây.
Lướt mắt ra phía cổng nhà thờ, thả tia nhìn trôi theo sườn đồi thoai thoải, tôi có thể ghi nhận được lác đác mấy ánh đèn lập lòe của thị trấn. Đang cơn bão tuyết thế này, những đốm sáng trông chẳng khác nào các vần hào quang. Tuy chẳng nghe ra được tiếng nhạc của một trông hai quán rượu, tôi cũng dám chắc cả hai quán đang đông nghẹt khách. Ngoài chỗ này ra thì thị trấn còn có một nhà hàng, một quán cà phê, một cái chợ, một cửa hàng rượu và mấy sạp hàng nằm dọc theo đường Calle Principal hoạt động chủ yếu vào các buổi sáng và chiều. Xuống đến chân đồi, chỗ rìa nam thị trấn là ngôi trường gạch – nơi tất cả chúng tôi đang theo học.
Không gian chợt vang vọng một hồi chuông, tôi quay phắt đầu lại: giờ cầu nguyện còn đúng năm phút nữa, sau đó là giờ đi ngủ. Một nỗi sợ hãi bao trùm lấy cơ thể tôi. Tôi cần phải biết được là đã có tin tức gì mới hay chưa. Có lẽ John đã bị bắt rồi. Có khi cảnh sát đã phát hiện ra được một điều gì đó ở ngôi trường đã bị hủy hoại, một điều mà ban đầu họ đã bỏ qua rồi cũng nên. Mà dẫu không hề có tin tức gì mới mẻ đi chăng nữa, tôi cũn phải biết cho kỳ được; nếu không, tôi sẽ chẳng thể nào chợp mắt nổi.
Tôi bắt đầu điều chỉnh lại ánh nhìn, rọi thẳng vào Gabriela García – gọi tắt là Gabby – kẻ đang “chiếm dụng” một chiếc máy vi tính. Gabby mười sáu tuổi, khuôn mặt xinh xắn, có mái tóc đen dài và đôi mắt nâu; cứ mỗi lần bước chân ra khỏi tu viện là cô ta lại chọn tông đồ kệch cỡm, mặc những chiếc áo bó cố tình để lộ cái rốn xỏ khoen. Mỗi sáng, Gabby đều vận lên người bộ đồ rộng thùng thình nhưng chỉ ngay sau khi các Sơ vừa khuất dạng, cô ta đã cởi hết mấy thứ đồ ấy ra để phô phang bên trong bộ đồ thiếu vải chật ních, bó sát cơ thể. Thế rồi thay vì đến trường, Gabby dành thời gian trang điểm và làm tóc, y chang bốn cô bạn của cô ta, trong đó, có ba người là sống ở đây. Đến cuối ngày,cả ba sẽ rửa mặt sạch sẽ rồi cuốc bộ trở về tu viện, không quên thay lại các bộ quần áo thường nhật.
- Sao hả? – Gabby cất giọng léo nhéo, mắt nhìn xoáy vào tôi một cách hằn học – Tôi đang viết thư điện tử mà.
- Tôi đã chờ hơn mười phút rồi đó – Tôi sẵng giọng – Mà đâu có phải là bồ viết thư điện tử. Bồ đang coi hình mấy anh chàng cởi trần đấy chứ.
- Thì đã sao? Tính mách lẻo chuyện tôi hả, đồ nhiều chuyện? – Gabby trả treo, tông giọng đầy chất nhạo bang không khác nào đang nói với một đứa con nít.
Cô gái ngồi bên cạnh tôi có tên Hilda, nhưng hầu hết học sinh trong trường đều gọi là La Gorda – “ú nu” – (chỉ nói sau lưng thôi, không bao giờ gọi trước mặt) cười ngặt nghẽo.
Gabby và La Gorda đúng là đôi bạn hợp rơ. Tôi nín thinh, quay trở lại với ô cửa sổ, khoanh hai tay trước ngực, trong lòng không tránh được cảm xúc bực bội, phần vì muốn ngồi máy vi tính, và phần vì không biết phải đáp trả lời nói xóc xỉa của Gabby như thế nào. Lại thêm bốn phút nữa trôi qua. Sự nôn nóng ở tôi đã chuyển thành tuyệt vọng. Ắt hẳn giờ này là đã phải có tin tức rồi – tin nóng hổi hẳn hoi! – thế mà tôi không có cách nào để biết được, chỉ vì hai đứa khùng ích kỉ này không chịu nhả bớt một máy vi tính cho tôi.
Ba phút tiếp tục trôi qua. Tôi gần như run lên vì tức giận. Hốt nhiên, một ý tưởng chợt bùng phát trong đầu tôi, và môi tôi thoáng nở một nụ cười đắc ý. Liều lắm đấy, nhưng nếu thành công thì cũng đáng.
Tôi khẽ ngoái đầu lại, chỉ vừa đủ để cho chiếc ghế của Gabby lọt vào nhỡn giới. Rồi hít vào một hơi thật sâu, tôi dồn hết sức mạnh vào chiếc ghế của cô ta, dùng siêu năng lực để xô nó sang bên trái, đoạn nhanh chóng đẩy nó sang bên phải mạnh đến độ chiếc ghế gần như đổ kềnh xuống sàn. Gabby nhảy dựng lên, thét ré. Tôi quan sát đối phương đang vô cùng ngạc nhiên.
- Cái gì thế? – La Gorda sửng sốt.
- Không biết nữa; có cảm giác như ai đó vừa đá vào ghế của mình hay sao ấy. Bồ có cảm thấy gì không?
- Có thấy gì đâu – La Gorda trả lời; và vừa lúc lời lẽ đó được thốt ra, tôi xô chiếc ghế của cô ta ra sau vài xăng-ti-mét, rồi hẩy sang phải, trong lúc vẫn dõi mắt vào mục tiêu của mình ở cửa sổ. Lần này, cả hai người họ cùng kêu ré lên. Tôi hích vào chiếc ghế của Gabby, rồi tới ghế của La Gorda. Không dám nhìn vào chiếc máy vi tính của mình thêm một lần nào nữa, cả hai cô gái đồng loạt lao thẳng ra khỏi phòng, vừa chạy vừa la hét không ngớt.
- Được lắm! – Tôi nhảy bổ vào chiếc máy vi tính vừa nãy Gabby đang dùng, nhanh tay gõ lóc cóc địa chỉ trang tin mà tôi tin cậy. Sốt ruột, tôi đợi cho trang web hiển thị đầy đủ. Mấy chiếc máy này cũ mèm, cộng thêm kết nối internet chậm như rùa, đúng là hai thứ ám hại đời tôi.
Trình duyệt chuyển thành trang trắng, rồi từng hàng, từng hàng một, trang web của tôi bắt đầu hiển hiện thành hình. Nhưng tải đến khoảng chừng một phần tư trang thì có tiếng chuông réo vang. Giờ cầu nguyện chỉ còn đúng một phút nữa. Nhưng tôi đã quyết là sẽ mặc kệ tiếng chuông, thậm chí là có khả năng sẽ bị trừng phạt. Vấn đề này thì tôi chẳng mảy may quan tâm. “Chỉ còn năm tháng nữa” – Tôi tự nhủ trong lòng.
Giờ thì trình duyệt đã hiện được nửa trang, phần trên khuôn mặt của John Smith bắt đầu hiện rõ trên màn hình, ánh nhìn của cậu ta chếch lên trên, tuy nổi bất an thể hiện rõ thành sự lung túng, nhưng đôi mắt đen lay láy ấy vẫn toát lên vẻ tự tin. Tôi ngồi như dán vào ghế, chờ đợi, trong lòng khấp khởi, hai tay run run.
- Nữa đi – Tôi nói với cái màn hình trước mặt, giục giã một cách vô ích – Nữa đi, nữa đi, nữa đi.
- Marina! – Một giọng nói bất thần vang lên nơi ngưởng cửa mở toang. Tôi ngoái đầu lại và nhận ra Sơ Dora, người phụ nữ có thân hình đẫy đà và là bếp chính trong nhà bếp, Sơ đang hằm hằm nhìn tôi. Chẳng có gì mới mẻ cả. Sơ vốn vẫn có cái nhìn đầy hằn học như thế đối với bất kì ai cầm khay đi lấy thức ăn, làm như thể nhu cầu ăn uống của chúng tôi là một việc phải lấy làm nhục nhã lắm vậy. Sơ bặm môi, hai mắt se lại – Đi! Ngay! Ngay là ngay bây giờ ấy!
Thở dài, tôi ý thức được rằng mình chẳng còn sự lựa chọn nào nào khác ngoài chuyện phải nhổm dậy, bước ra ngoài. Tôi xóa phần lịch sử của trình duyệt và tắt trang rồi theo Sơ Dora đi về phía cuối hành lang tối om. Màn hình ấy có gì mới lắm; tôi vỡ lẽ ra. Tại sao khuôn mặt của John lại choán hết nguyên một trang? Một tuần rưỡi là khoảng thời gian quá dài, thừa sức biến bất kỳ một tin tức nào trở thành cũ rích, vì lẽ đó, khi cậu trai chiếm trọn màn hình thì điều đó có nghĩa là đang có một nguồn tin mới vô cùng quan trọng.
Chúng tôi bước vào chính điện của tu viện Santa Teresa, đây là một giáo đường đồ sộ với những cây cột chống cao ngất chạm tới trần nhà hình mái vòm, những ô kính màu chạy dọc theo các bức tường xung quanh. Dọc theo chiều dài căn phòng là các hàng ghế gỗ, có sức chứa tới gần ba trăm người. Sơ Dora và tôi là hai kẻ vào sau cùng. Tôi ngồi một mình ở một hàng ghế thuộc dãy giữa. Sơ Lucia – người đã mở cửa cho cô Adelina và tôi khi lần đầu tiên hai cô cháu tôi đặt chân đến tu viện, hiện vẫn còn đang cai quản nơi này – đứng nơi bục giảng, hai mắt khép hờ, đầu hơi cuối, hai tay chắp lại ở phía trước. Tất thảy mọi người đều làm theo y hệt như vậy.
- Padre divino (Đức Chúa Trời) – Lời nguyện cầu được cất lên bằng một âm thanh nghe não nuột – Que nos bendiga y nos proteja en su amor… (Ban phước cho chúng ta và bảo vệ chúng ta trong tình yêu của Người…)
Tôi chẳng mảy may để tâm, cứ lặng lẽ quan sát những cái đầu ở trước mặt mình, tất cả đều đang cúi xuống trong sự tập trung cao độ. Hay chỉ đơn thuần là cúi đầu mà thôi? Dõi mắt tìm người giám hộ, tôi nhận ra cô Adelina đang ngồi ở hàng ghế đầu tiên trong sáu chiếc ghế nằm trước mặt tôi, mé bên phải. Cô ngồi trên gối, dáng điệu cho thấy đang trầm tư, mái tóc nâu được tết chặt thành bím thả giữa lưng. Không hề ngẩn mặt lên lấy một lần, cô Adelina chẳng buồn ngoảnh mặt ra phía sau để tìm kiếm tôi, như cái dạo cô vẫn hay làm khi cả hai cô cháu vừa mới dọn đến đây trong vài tuần lễ đầu, vừa nhác thấy bóng nhau đã nhoẻn miệng cười; cả hai chúng tôi cùng nắm giữ bí mật chung. Hiện thời chúng tôi vẫn giữ bí mật ấy, nhưng rồi từ lúc nào, cô Adelina đã thôi chấp nhận điều đó. Từ lúc nào, kế hoạch ở lại cho tới chừng chúng tôi cảm thấy đủ mạnh, đủ an toàn để lên đường, đã được thay thế bằng ước vọng của cô Adelina- bằng chính nỗi sợ hãi của cô – để rồi chỉ đơn thuần là chấp nhận chôn vùi cuộc đời ở tu viện này.
Trước khi có nguồn tin về John Smith được mấy tháng, tôi có kể với cô Adelina khi tin tức rộ lên, chúng tôi đã bàn với nhau về nhiệm vụ của mình. Hồi tháng Chín, tôi có cho cô xem vết sẹo thứ ba, vết sẹo thứ ba cảnh báo rằng một Grade nữa đã bỏ mạng, rằng cô cháu tôi đang tiến thêm một bước nữa đến vị trí bị săn đuổi và chết dưới tay bọn Morgadore; thế mà người giám hộ của tôi lại làm như chẳng hề có chuyện này. Lúc nghe kể về John, cô chỉ đơn thuần là trố mắt ra rồi bảo tôi hãy thôi tin vào mấy cái chuyện cổ tích ấy đi.
- En el nombre del Padre, y del Hijo, y del Espíritu Santo, Amén (Nhân danh Cha, Con, Thánh Thần. Amen) – Mọi người đồng thanh cất tiếng, rồi tất cả những ai đang có mặt ở trong phòng đều đồng loạt làm dấu thánh giá ở câu cuối cùng, kể cả tôi, để giữ thể diện: chạm tay lên trán, ngực, rồi vai trái và vai phải.
Khi ấy tôi đang say giấc, mơ thấy mình đang thả dốc xuống núi và hai tay dang rộng ra hai bên như thể chuẩn bị bay, bất chợt tôi choàng tỉnh vì đau, dưới chân sáng rực khi vết sẹo thứ ba thành hình. Ánh sáng đã đánh thức một số người trong phòng, nhưng may mà không có Sơ phụ trách nào cả. Mọi người cho rằng tôi đang giấu một chiếc đèn pin và một quyển tạp chí dưới mền mùng, và rằng tôi đang phạm lệnh giới nghiêm. Trên chiếc giường kê kế giường tôi, Elena, một cô gái kiệm lời mười sáu tuổi có mái tóc đen nhánh thường hay đưa vào miệng mỗi khi chuyện trò, đã ném một cái ghế về phía tôi. Da thịt tôi bắt đầu cháy xém, cơn đau tồi tệ đến mức tôi phải cắn chặt răng vào mền để có thể giữ được sự câm nín. Tôi không thể nào ngăn mình thôi không khóc, bởi lẽ ở đâu đó ngoài kia, Số Ba đã bỏ mạng. Giờ thì chúng tôi chỉ còn lại sáu người.
Còn tối nay, tôi cùng các bạn nối đuôi nhau ra khỏi giáo đường đến chỗ ngủ, nơi này kê hàng loạt các dãy giường giống nhau, kẽo cà kẽo kẹt, nhưng trong tâm tưởng tôi đã lên kế hoạch rõ ràng. Để bù đắp cho những chiếc giường cứng, sự lạnh lẽo của những khối bê-tông ở từng phòng, thứ xa xỉ duy nhất chúng tôi được ban phát là các tấm ga mềm mại và những chiếc mền nặng trịch. Giường tôi được kê ở góc cuối cùng, cách xa cửa nhất nên được coi là chỗ “độc”; ở đây tuyệt đối yên ắng, và phải mất cả một thời gian dài tôi mới chiếm lĩnh được, cứ mỗi một người ra khỏi tu viện là tôi lại chuyển sang một giường gần hơn.
Đèn đóm tắt sạch vừa khi mọi người kịp đặt lung xuống giường. Tôi nằm ngửa, mắt như dán dính vào trần hình chóp đang hiện ra lờ mờ. Đột ngột, sự tĩnh lặng bỗng bị phá vỡ bởi tiếng thì thào của ai đó, tiếp theo là tiếng suỵt nhắc nhở của Sơ phụ trách. Tôi mở mắt thao láo, chờ đợi mọi người ngủ say mà sốt ruột quá đỗi. Sau nửa tiếng đồng hồ, các tiếng xì xào bắt đầu lắng dịu, thay vào đó là tiếng thở sâu đều đặn, vậy mà tôi vẫn chưa dám mạo hiểm. Còn quá sớm. Rồi mười lăm phút nữa trôi qua, vẫn không thấy động tĩnh gì. Lúc này thì tôi không thể chịu đựng được lâu hơn được nữa.
Nín thở, tôi rướn chân từng chút một ra tới mép giường, tai vẫn ghi nhịp thở đều đặn ở phía bên cạnh Elena. Hai bàn chân tôi chạm được tới sàn nhà lạnh cóng, ngay lập tức trở lạnh. Một cách từ tốn, tôi đứng dậy, hết sức tránh chiếc giường không kêu kẽo kẹt thành tiếng rồi nhón chân băng qua phòng ra đến cửa, không quên bước đi thật chậm để không va phải một chiếc giường nào. Tới ngưỡng cửa, tôi hối hả tiến đến cuối hành lang, vào phòng vi tính. Nhấc ghế ra, tôi ấn nút khởi động máy.
Tôi sốt ruột chờ cho chiếc máy vi tính khởi động, mắt không thôi dõi ra ngoài hành lang xem có ai lên theo không. Rốt cuộc, tôi cũng đã có thể gõ địa chỉ trang web và màn hình trở nên trắng xóa, tiếp theo đó là hai tấm hình hiển hiện ngay chính giữa trang, xung quanh là các dòng chữ, tít bài nằm trên cùng có màu đen được in đậm, nhưng đang còn hiện ra mờ quá, không dễ đọc chút nào. Giờ thì tới hai hình rồi – không rõ ban nãy, khi tôi cố kiểm tra cho tới bây giờ đã có gì thay đổi. Và cuối cùng, các hàng chữ cũng bắt đầu tượng hình thật rõ nét:
NHỮNG KẺ KHỦNG BỐ QUỐC TẾ
Hình ảnh của John Smith nằm ở bên trái, với quai hàm góc cạnh, mái tóc vàng sậm rối tung cùng đôi mắt màu xanh; còn cha cậu ta – có vẻ như là một Cêpan – ông Henri, nằm ở bên phải. Đây không phải là hình chụp, mà chỉ là một bức phát họa bằng bút chì trắng đen. Tôi đọc lướt qua những gì đã ý thức được – ngôi trường bị san bằng thành bình địa, năm người chết, đột ngột biến mất – và ghi nhận thêm thông tin bây giờ mới được tường thuật:
Một bước ngoặt mới trong tiến trình điều tra, hôm nay, các điều tra viên FBI đã phát hiện ra các tang vật được cho là công cụ của một kẻ làm giả chuyên nghiệp. Họ đã tìm thấy một số máy móc chuyên dụng được dùng để tạo ra các tài liệu ở thị trấn Paradise, bang Ohio, trong một căn nhà mà ông Henri và John Smith đang thuê mướn, các máy móc được để dưới hầm ngầm của phòng ngủ, sự kiện này đã khiến các điều tra viên nhắm đến khả năng có sự liên quan đến chủ nghĩa khủng bố. Tạo nên sự rung động trong cộng đồng dân cư Paradise, ông Henri và John Smith được xem là mối đe dọa của an ninh quốc gia, hiện đang lẩn trốn; các điều tra viên đang kêu gọi bất kỳ thông tin nào có thể dẫn đến chỗ trú ẩn của họ.
Tôi trở lại với hình ảnh của John, ngay vào thời khắc ánh nhìn của tôi rọi thẳng vào ánh mắt của cậu trai ấy, thì hai tay tôi chợt bắt đầu run rẩy. Đôi mắt của John – thậm chí chỉ là trong bức ảnh thôi – cũng có nét nào đó thật quen thuộc. Làm sao tôi có thể quen với ánh mắt ấy nếu không phải từ chuyến bay kéo dài cả năm trời đã đưa chúng tôi đến Địa Cầu? Giờ thì không một ai có thể làm cho tôi tin rằng John không phải là một trong sáu Grade vẫn còn lại, vẫn còn sống trong thế giới xa lạ này.
Ngả người ra sau, tôi thổi tung mái tóc đang xòa trước mắt, ước sao có thể đích thân đi tìm John. Lẽ tất nhiên là bác Henri và John Smith có thể qua mặt được cảnh sát; đến giờ hai bác cháu ấy đã ẩn mình được cả thảy mười một năm ròng, cũng như cô Adelina và tôi. Nhưng làm sao tôi có thể hy vọng được rằng mình sẽ là kẻ tìm thấy cậu ta trong lúc cả thế giới đang đổ xô kiếm tìm? Làm sao mọi thành viên trong chúng tôi có thể hy vọng được sát cánh cùng nhau?
Khắp nơi đều có các cặp mắt theo dõi của bọn người Mogadore. Tôi không rõ làm thế nào mà bọn chúng lùng ra được Số Một và Số Ba, nhưng tôi biết chắc chúng lần ra được Số Hai vì trang nhật kí cá nhân của cậu bạn ấy hay cô bạn ấy. Bản thân tôi cũng đã tìm thấy trang blog đó, tôi đã thừ người ra tới mười lăm phút liền mà không để lộ tung tích. Tuy lời nhắn rất mơ hồ, nhưng với những kẻ đang kiếm tìm như chúng tôi thì lại quá rõ ràng: Chín, giờ còn tám. Các bạn có đó không? Thông tin này được một tài khoản lấy tên là Số Hai đưa lên. Tôi đặt các ngón tay lên bàn phím và gõ thật nhanh câu trả lời, thế nhưng ngay trước khi tôi kịp nhấn nút Gửi, trang web đã bị thay đổi – có người đã trả lời trước rồi.
Tụi mình đây, nội dung dòng tin hồi âm là như vậy.
Tôi há hốc miệng. mắt trố ra trong sự sững sờ đến tột cùng. Hai tin nhắn ngắn ngủi đó đã khiến toàn bộ cơ thể tôi tràn ngập niềm hy vọng, tuy nhiên, đúng vào thời khắc các ngón tay của tôi vừa kịp gõ xong một dòng tin trả lời khác, thì ngay bên dưới chân tôi, một vòng sáng rực rỡ chợt xuất hiện kèm theo những tiếng lèo xèo của da thịt bị cháy. Đi cùng với hiện tượng ấy là cơn đau rát bỏng dữ dội đến độ tôi đã ngã quị xuống sàn và lăn lộn vì đau. Hai tay rịt chặt lấy mắt cá chân để không ai trông thấy, tôi thét đến khản cổ gọi cô Adelina. Đến khi người giám hộ của tôi tới nơi và ý thức được mọi sự, tôi trỏ tay vào màn hình, nhưng tất cả đã trống không; cả hai tin nhắn được gửi lên đã bị xóa sạch.
Tôi cất ánh nhìn khỏi đôi mắt thân thuộc của John Smith trên màn hình. Bên cạnh chiếc máy vi tính là một bông hoa nhỏ đã hoàn toàn bị lãng quên. Bông hoa héo rũ và tàn úa, teo quắt lại chỉ còn một nửa chiều cao, ven rìa lá đã ngả sang màu nâu và giòn rụm. Vài cánh hoa rụng rơi trên bàn, hiện thời khô cong và nằm rải rác quanh chiếc chậu. Hoa vẫn chưa chết, nhưng cái đích đó chẳng còn xa mấy nữa. Chồm người tới, tôi chụm tay quanh bông hoa rồi ghé mặt lại gần, vừa đủ để môi tôi khẽ chạm vào những chiếc lá, tôi thổi hơi vào đó. Một cảm giác ơn lạnh chạy dọc theo sống lưng tôi, nhưng đáp lại, sự sống hồi sinh nơi bông hoa bé nhỏ. Sinh thể ấy vươn thẳng dậy, màu xanh căng đầy nhựa sống ngập tràn trên các lá, các nhánh cành, các cánh hoa mới cũng xòe nở, ban đầu là vô sắc, rồi ngả sang màu tím thắm tươi. Trên môi tôi nở một nụ cười tinh quái, không sao ngăn được dòng suy nghĩ, chẳng biết các Sơ sẽ phản ứng như thế nào khi được chứng kiến tận mắt cảnh này. Tuy nhiên, tôi sẽ chẳng bao giờ để các Sơ có được cơ hội đó. Thể nào cũng bị hiểu sai, và tôi không muốn bị đuổi cổ ra ngoài đường trong giá lạnh. Tôi vẫn chưa sẵn sàng cho điều đó. Sẽ sớm thôi, chỉ có điều là chưa phải lúc này.
Tắt máy vi tính, tôi hối hả quay trở lại giường giữa bao suy tưởng về John Smith, rằng cậu trai ấy đang ở ngoài kia; những suy nghĩ ấy cứ không thôi chởn vởn trong đầu tôi.
Hãy giữ an toàn và náu mình thật kĩ nhé, tôi nhủ thầm trong bụng. Rồi tụi mình sẽ đi tìm những người khác.