CHÚNG TÔI VẪN ĐỂ HẠ KÍNH NHỮNG Ô CỬA SỔ, không tự tin mấy với nhiệm vụ trước mắt. Sam ghì chặt lấy vô-lăng trên con đường quốc lộ uốn khúc vắt qua Virginia.
- Cậu có nghĩ Số Sáu sẽ làm được không? – Sam lên tiếng.
- Tôi chắc chắn là được, nhưng ai mà biết được cô ấy sẽ tìm thấy thứ gì.
- Hai người hôn nhau mùi mẫn ghê nhỉ.
Tôi mở miệng ra nhưng rồi ngậm ngay lại. Một phút sau mới cất tiếng trả lời:
- Cô ấy cũng thích cậu lắm, cậu biết không?
- Biếttt, như một người bạn.
- Thật đấy, Sạm à, cô ấy thích cậu lắm lắm.
Sam đỏ mặt:
- Phải rồi. Tôi có thể hiểu được qua cái cách cô ấy lùa lưỡi vào miệng cậu.
- Cô ấy cũng hôn cậu chứ bộ, anh bạn. Tôi thấy rõ ràng mà – Tôi vỗ mu bàn tay lên ngực Sam, và có thể cảm nhận được là cậu ta đang mường tượng lại nụ hôn trong tâm trí – Sau khi hôn cô ấy xong, tôi đã hỏi liệu cô ấy có biết là cậu cũng thích cô ấy không, và…
Xe chúng tôi lấn sang hai vạch vàng trên đường.
- Cậu làm cái gì thế?
- Anh bạn, bình tĩnh đi. Đừnh có giết chúng ta đấy – Sam lượn xe trở lại phần đường của chúng tôi – Cô ấy bảo là cô ấy cũng thích cậu nữa.
Một nụ cười tinh quái hiện ra trên khuôn mặt Sam.
- Hay thật. Khó mà tin nổi – Cậu chàng lẩm bẩm.
- Trờ đất, Sam. Việc gì tôi phải nói dối chứ?
- Không phải, tôi tin rằng toàn bộ chuyện này lại là sự thất ấy cơ. Rằng cậu là có thật, Số Sáu là có thật; hay bọn ngoài hành tinh là kẻ thù kia đã rải người lên khắp hành tinh này mà xem ra, không một ai biết hết. Tôi muốn nói là bọn chúng khoét núi ngay giữa lòng tiểu bang, vậy mà sao chẳng ai nhận ra? Chúng xử lý mớ đất đá xúc ra như thế nào? Thậm chí dân cư sống quanh Tây Virginia cũng chẳng biết, lẽ ra phải có người tình cờ đi ngang qua đấy rồi chứ - những người đi điền dã, các tay thợ săn, hay phi công của những chiếc máy bay nhỏ. Còn các hình ảnh của vệ tinh thì thế nào? Ai biết được có bao nhiêu sào huyệt, hang ổ hay bất cứ cái gì cậu có thể gọi tên mà bọn chúng đã xây dựng trên Địa Cầu này? Tôi không hiểu làm sao mà chúng có thể đi lại được tự do đến như thế.
- Tôi đồng ý. Tôi cũng chẳng rõ vì sao, tuy nhiên, có một điều gì đó mách bảo với tôi rằng có lẽ chúng ta không biết một nửa chuyện còn lại. Cậu còn nhớ thuyết ngờ vực đầu tiên mà cậu nói với tôi không?
- Không – Sam đáp.
- Cậu nói rằng toàn bộ thị trấn Monata đã bị người ngoài hành tinh bắt cóc, và cậu bảo chính phủ đã thả lỏng những vụ bắt cóc này để trao đổi kĩ thuật. Giờ thì nhớ chưa?
- Hơi hơi. Rồi.
- Chà, giờ thì điều này hợp lý rồi đó. Có lẽ kĩ thuật không đóng vai trò gì trong chuyện này đâu, cũng có khi chính phủ không đồng tình với các vụ bắt cóc; nhưng tôi nghĩ thay vào đó là một thỏa ước. Cậu nói đúng, không thể nào có chuyện chúng đi lại tự do như thế mà chẳng ai nhận ra. Đằng này, chúng lại còn đi rầm rầm rộ rộ nữa chứ.
Sam không nói gì. Tôi đưa mắt sang, thấy cậu chàng đang mỉm cười.
- Thế nào, Sam? – Tôi dọ ý.
- Tôi đang nghĩ xem nếu không có các bạn đi cùng, thì giờ này tôi ở đâu. Có lẽ là một mình ở dưới tầng hầm, tìm hiểu thêm về các thuyết hoài nghi và tự hỏi xem liệu bố tôi có còn sống hay không. Bao nhiêu năm rồi, vẫn như vậy. Nhưng điều tuyệt vời nhất là giờ đây tôi thực sự tin rằng bố mình vẫn còn sống. Bố tôi chỉ ở đâu đó thôi, John à. Tôi biết mà. Và tôi biết được là nhờ các bạn.
- Tôi cũng hy vọng như vậy – Tôi thì thầm – Thật tuyệt vời khi bác Henri lại đến Ohio để tìm chú ấy, để cậu và tôi trở thành bạn của nhau gần như liền tức thì. Chẳng khác nào do số phận xếp đặt vậy.
Sam mỉm cười.
- Hay là một sự sắp xếp của vũ trụ.
- Đúng là con mọt sách – Tôi thốt lên.
Sau một lúc im lặng, Sam cất tiếng hỏi:
- Sao hả John? Cậu xác định rằng bộ xương ở trong giếng không phải là bố tôi, đúng không?
- Chắc chắn đấy anh bạn. Đó là người Lorien và rất to lớn, lớn hơn con người nhiều.
- Vậy cậu đoán như thế nào? Đó là ai?
- Kỳ thực, tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ mong ông ấy không phải là người quá quan trọng.
Bốn tiếng đồng hồ sau, cuối cùng, chúng tôi cũng trông thấy cái bảng chỉ đường đến thị trấn Ansted, cách đó sáu dặm. Cả hai chúng tôi rơi vào im lặng. Sam bẻ ngoặt vô-lăng, cho xe rẽ vào một con đường cheo leo có hai lan giao thông dẫn thẳng lên núi, cho tới khi bước vào địa phận của thị trấn. Xe chúng tôi cứ thế bon bon và quẹo trái ở cột đèn giao thông duy nhất trong vùng.
- Công viên Hawks Nest đúng không?
- Đúng, đi thêm chừng một hay hai dặm gì đó – Sam trả lời, đó là nơi chúng tôi có thể tìm thấy tấm bản đồ mà Số Sáu đã vẽ vào ba năm trước.
Tấm bản đồ nằm chính xác ở nơi Số Sáu đã chỉ, trong Công viên Quốc gia Hawks Nest trông ra dòng sông New River. Sam, Bernie Kosar, và tôi đi dọc theo đường Gysp đúng bốn mươi bảy bước thì đến được một cái cây có ghi chú E6 được khắc sâu vào thân. Từ đây, cả bọn rời khỏi đường mòn, đi tiếp ba mươi bước về phía bên phải, ngang qua một cái cây. Sau đó là rẽ trái, tiếp tục đi thêm một phần mười dặm nữa, chúng tôi trông thấy một cái cây cao hơn hẳn những cây khác. Và ở dưới gốc, chỗ lớp vỏ cây bị tách ra, có một khe hở nhỏ được lèn bằng một chiếc hộp nhựa đen, và vật được cất giấu bên trong nó chính là tấm bản đồ dẫn đến chỗ sào huyệt của bọn Mogadore.
Hai chúng tôi đi ngược trở ra chiếc SUV, lái thêm mười lăm dặm nữa, cuối cùng thì rẽ vào một con đường lầy lội, vắng vẻ. Đây là con đường gần nhất, cách cái hang đúng năm dặm về hướng bắc. Sam rút trong túi quần ra mảnh giấy mà Số Sáu đã ghi địa chỉ, bỏ vào trong ngăn chứa những vật dụng nhỏ.
- Để suy nghĩ lại – Cậu bạn lại lấy mảnh giấy ra, đút vào túi quần - Ở đâu thì cũng vậy – Cậu ta lẩm bẩm.
Tôi bỏ viên Xitharis cùng cuộn băng keo vào ba-lô của Số Sáu mà cô ấy đã bỏ lại, Sam đeo ba-lô lên vai. Sau một lúc phân vân trở con dao tới lui trong lòng bàn tay, tôi nhét nó vào túi quần sau.
Ra khỏi xe, tôi khóa tất cả các cửa lại, Bernie Kosar chạy quanh quẩn bên chân tôi. Chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là hết ngày, như vậy là chúng tôi không có nhiều thời gian. Thậm chí trong tay đang có bản đồ hướng dẫn chi tiết chăng nữa, tôi cũng không thể hình dung đến chuyện tìm cái hang mà không có sự trợ gúp của ánh mặt trời.
Sam cầm tấm bản đồ trong tay. Ở bên phải, Số Sáu đánh một dấu X đậm. Từ chỗ chúng tôi đang đứng, được đánh dấu ở bên trái bản đồ, đến X là một con đường ngoằn ngoèo dài năm dặm. Trên đường, chúng tôi sẽ phải xuôi theo lòng sông và đi qua những cột mốc được mô tả một cách tự nhiên, tất cả đều được đánh dấu một cách cẩn thận để giúp chúng tôi luôn luôn đi đúng đường – Đá Rùa. Cần Câu Cá. Dải Đất Tròn. Ngai Vua. Nụ Hôn Của Người Tình. Điểm Ngắm Cảnh.
Sam và tôi ngẩng đầu lên cùng lúc, trước mắt hai chúng tôi là một quá núi nằm cách đây một phần tư dặm, có hình dáng giống chiếc mai rùa một cách lạ lùng. Bernie Kosar nghếch mõm sủa vang.
- Có lẽ chúng ta đã biết phải đi hướng nào trước rồi – Sam thốt lên.
Và chúng tôi lên đường, đi theo hướng đã chỉ trong bản đồ. Không có đường đi, không có dấu hiệu nào chứng tỏ những quả núi này đã có bàn chân con người ở bên ngoài đặt lên, hay thậm chí là dấu vết của cư dân vùng này. Khi đã đến được Đá Rùa, Sam chợt phát hiện ra một thân cây đổ, trông giống hệt một cái cần câu đang chờ cá đớp mồi. Và chúng tôi lại cất bước, thuôn theo con đường mòn giữa ánh mặt trời đang ngả dần về vùng trời phía tây.
Mỗi bước chân đòi hỏi cái đầu phải quay ngangn quay dọc rồi đi tiếp. Thế nhưng chẳng có ai trong hai đứa tôi làm như vậy.
- Cậu đúng là một bằng hữu, đó Sam Goode – Tôi lên tiếng.
- Cậu cũng chẳng tệ chút nào – Cậu bạn của tôi đáp lại. Và rồi – Sao tay tôi cứ run hoài thế nhỉ?
Sau khi đi khỏi Ngai Vua, kỳ thực là một phiến đá có hình dạng giống chiếc ghế có lưng dựa, tôi nhận ra ngay lập tức hai cái thân cây cao hơi ngả vào nhau, các nhánh cây của chúng trông chẳng khác nào những cánh tay của đôi tình nhân đang ôm quấn lấy nhau. Tôi mỉm cười, trong phút chốc quên bẵng mình đang sợ hãi như thế nào.
- Chỉ còn có một cột mốc nữa thôi – Sam thông báo, kéo tôi trở lại với hiện thực lắm gian nan.
Năm phút sau, chúng tôi đến được Điểm Ngắm Cảnh. Tổng cộng, chuyến cuốc bộ mất một tiếng mười phút, bóng tối trải rộng, ngả dài khi tia sáng cuối cùng lúc chạng vạng tắt ngóm. Không hề có dấu hiệu cảnh báo nào, một tiếng gầm trầm đục đột ngột vang lên ngay bên cạnh tôi. Tôi nhìn xuống. Những chiếc răng của Bernie Kosar đang phơi ra sáng lóa, lông của chú chó dựng ngược dọc theo sống lưng, còn đôi mắt của nó thì xoáy thẳng vào cái hang. Bernie Kosar bắt đầu lùi lại.
- Được rồi, Bernie Kosar – Tôi trấn an, vỗ nhè nhẹ lên lưng con vật.
Sam và tôi rụp mình xuống đất, nằm úp bụng, cả hai phóng tầm mắt qua thung lũng nhỏ, chiếu thẳng đến lối vào lờ mờ của cái hang. Cửa hang lớn hơn nhiều so với những gì tôi tưởng tượng, có lẽ bề rộng, bề cao của nó tới sáu mét; nằm ẩn mình sau một lớp gì đó đang che phủ trông giống như một cái lưới, hay một tấm bạt, khiến cho cửa hang hòa lẫn với mọi vật xung quanh; phải ý thức được rằng nó hiện hữu ở đó mới có thể nhìn ra.
- Một nơi hoàn hảo – Sam thì thào.
- Phải.
Sự căng thẳng nơi tôi nhanh chóng chuyển thành nỗi sợ hãi. Cũng thần bí chẳng khác nào cái hang, tôi đoan chắc sẽ là không thiếu những thứ có thể cướp đi tính mạng của chúng tôi như vũ khí, quái vật, hay các bẫy. Tôi có thể bị giết chết trong vòng hai mươi phút tới. Kể cả Sam cũng thế.
- Ủa, ý tưởng này của đứa nào vậy nhỉ? – Tôi lên tiếng.
- Cậu chứ ai.
- Chà, lâu lâu tôi lại nghĩ ra lắm trò ngu thật.
- Chứ còn gì nữa, nhưng bằng mọi cách, chúng ta phải lấy lại cho được chiếc Hộp của cậu.
- Trong đó có nhiều thứ, tôi thậm chí còn chưa biết sử dụng như thế nào… nhưng có lẽ bọn chúng biết đấy – Tôi bộc bạch. Bất chợt có một thứ đập vào nhỡn giới của tôi.
- Nhìn trên mặt đất trước lối vào kìa – Nói rồi tôi trỏ tay về phía những hình thể đen thui trước cửa hang.
- Đá hả?
- Không phải là đá đâu. Xác thú đó – Tôi trả lời.
Sam lắc đầu:
- Hay thật.
Lẽ ra tôi không bị ngạc nhiên mới phải, vì đã được Số Sáu cảnh báo trước về điều đó, nhưng cảnh tượng trước mặt đã làm cho tôi cảm thấy kinh khiếp, không sao nghĩ cho thông suốt được. Các suy nghĩ trong tôi cứ chạy tán loạn.
- Được rồi – Tôi thốt lên và ngồi dậy – Không còn lúc nào như lúc này đâu.
Tôi hôn lên đỉnh đầu của Bernie Kosar, vuốt dọc theo sống lưng của người bạn bốn chân, hy vọng rằng đây sẽ không phải là lần cuối cùng tôi được trông thấy nó. Chú chó bảo tôi đừng đi, nhưng tôi trả lời tương thông lại rằng tôi phải đi, tôi không còn sự lựa chọn nào khác.
- Chú mày tốt lắm, Bernie Kosar à. Ta yêu chú mày lắm, anh bạn ạ.
Thế rồi tôi đứng lên, dùng tay phải vén áo sơ-mi lên để có thể lấy viên Xitharis ra khỏi túi mà không chạm vào nó.
Sam hí hoáy với cá nút bấm trên chiếc đồng hồ điện tử, cài đặt chế độ báo giờ. Một khi đã tàng hình, chúng tôi sẽ không thể nhìn vào mặt đồng hồ được, nhưng khi tới giờ, đồng hồ sẽ kêu bíp bíp – tôi cho rằng lúc đó cả hai chúng tôi sẽ nhận ra.
- Sẵn sàng chưa? – Tôi hỏi.
Chúng tôi bắt đầu bước chân đầu tiên, rồi bước thứ hai, sau đó thả bộ xuống con đường rất có thể sẽ dẫn đến cái chết. Tôi ngoái đầu lại duy nhất một lần, khi đã gần đến chỗ cái hang, và nhận ra Bernie Kosar đang dán mắt vào cả hai chúng tôi.