VÀO TỐI THỨ BẢY, TUYẾT NGỪNG RƠI. TIẾNG XẺNG lạch cạch khua xuống mặt đường rộn rã cả đêm. Từ chỗ ô cửa sổ, tôi có thể lờ mờ trông thấy bóng dáng của những người dân bản địa đang hất tuyết sang những chỗ thưa, chuẩn bị cho chuyến đi lại vào buổi sáng để dự các buổi thánh lễ ngày chủ nhật. Sự yên ả của thị trấn không bị phá vỡ bởi công việc phải thực hiện trong đêm vắng, ai nấy đều có chung một lý do, và tôi ước sao được ở ngoài đó cùng mọi người. Chợt, tiếng chuông báo hiệu giờ ngủ rung lên. Chưa đầy một phút sau, mười bốn cô gái trong phòng đều đã ở trên giường, đèn đóm mau chóng được tắt sạch.
Thế rồi khi tôi vừa khép mắt lại, cơn mơ của tôi cũng bắt đầu. Đó là một ngày hè ấm áp, tôi đứng trên một cánh đồng hoa. Xa xa, về phía bên phải tôi là dãy núi ghồ ghề, sừng sững giữa cảnh mặt trời lặn, và bên trái tôi là đại dương. Một cô gái mặc bộ quần áo màu đen, mái tóc đen nhánh, còn đôi mắt màu xám rất ấn tượng không rõ từ đâu chợt xuất hiện. Cô gái ấy mỉm cười, một nụ cười chứa đầy vẻ hung tợn lẫn sự tự tin. Không gian lúc này chỉ có hai chúng tôi. Từ phía sau bỗng chợt dậy lên sự rung chuyển, như thể một cơn địa chấn cục bộ đang khởi hoạt, mặt đất nứt toác và vỡ toang. Tôi không hề ngoái nhìn lại để xem điều gì đang diễn ra. Người đối diện nhìn xoáy vào mắt tôi, giơ tay lên, ra hiệu cho tôi nắm lấy. Tôi đưa hai tay tới. Hai mắt mở bừng.
Những tia nắng rọi thẳng vào các ô cửa sổ. Cứ ngỡ mới chỉ vài phút trôi qua, thế mà kỳ thực cả đêm trường đã tan biến. Tôi lắc đầu rũ hẳn cơn mê. Chủ nhật là ngày nghỉ, thế mà trớ trêu thay, với chúng tôi đấy lại là ngày bận rộn nhất tuần, phải chuẩn bị Thánh lễ Misa kéo dài đằng đẵng.
Có vẻ như hôm nay là sẽ là một ngày Chủ Nhật đông đúc bởi lòng đạo mộ của cộng đồng, nhưng lý do chính xác là vì El Festin, một bữa ăn thịnh soạn sau Thánh Lễ. Tất cả chúng tôi phải làm công việc này. Chỗ của tôi là ở quầy ăn. Và chỉ khi nào kết thúc bữa ăn, ai nấy mới thực sự được thảnh thơi. Nếu may mắn, chúng tôi sẽ làm xong trước bốn giờ, sau đó thì không phải làm gì nữa cho đến khi mặt trời lặn. Với thời gian này trong năm thì có nghĩa là sau sáu giờ một chút.
Chúng tôi hối hả vào phòng tắm, tắm cho thật nhanh, đánh răng và chải tóc rồi tròng vào người bộ đồ lễ Chủ Nhật trắng-đen thật oách kín mít, chỉ để lộ có mỗi hai tay và cái đầu. Khi đám con gái lục tục kéo nhau ra khỏi phòng đã gần hết thì bất chợt cô Adelina bước vào. Cô đứng trước mặt tôi, sửa lại cho tôi cái cổ áo. Điều này làm cho tôi cảm thấy mình nhỏ lại. Tôi ghi nhận được tiếng ồn ã của đám đông đang nổi thành hàng tiến vào giáo đường. Cô Adelina vẫn im lặng. Tôi cũng thế. Tôi đưa mắt nhìn lên khoảng tóc xám trên mái tóc màu nâu vàng của cô, trước đây tôi đã không để ý tới. Nơi mắt và khóe miệng của người giám hộ đã xuất hiện nếp nhăn. Chỉ mới bốn mươi hai tuổi thôi nhưng trông cô già hơn.
- Cháu nằm mơ thấy một cô gái có mái tóc đen và đôi mắt xám chìa tay về phía cháu – Tôi lên tiếng, phá tan sự im lặng – Cô ta muốn cháu nắm lấy.
- Được rồi – Cô Adelina đáp lại. Chẳng hiểu vì sao tôi lại kể cho cô nghe về giấc mơ.
- Cô có nghĩ rằng có thể đó là một trong những động đội của ta không?
Cô Adelina chỉnh lại lần cuối cái cổ áo.
- Cô nghĩ cháu không nên tìm hiểu giấc mơ nhiều quá.
Tôi rất muốn tranh cãi với cô, nhưng chẳng biết nói năng thế nào. Vì vậy, tôi đành phải nói:
- Nhưng cảm giác rất thực, cô à.
- Thì nhiều giấc mơ cũng thế mà.
- Nhưng hồi lâu rồi, cô có bảo với cháu rằng trên hành tinh Lorien, thi thoảng, ở khoảng cách thật xa, chúng ta vẫn có thể kết nối với nhau được.
- Phải, và ngay sau đó cô có đọc truyện cho cháu nghe chuyện về một con sói có thể thổi sập nhà và một con ngỗng có thể đẻ trứng vàng.
- Đó là chuyện cổ tích mà.
- Tất thảy đều là chuyện cổ tích, Marina.
Tôi cười toe toét:
- Làm sao cô có thể nói như thế được. Cả hai cô cháu mình đều biết tỏng đó không phải là chuyện cổ tích. Cả hai cô cháu mình đều biết chúng ta từ đâu tới và tại sao chúng ta lại có mặt ở đây. Cháu chẳng rõ vì sao cô lại hành xử chẳng khác nào cô không hề đến từ Lorien và cô không có trách nhiệm dạy dỗ cháu vậy.
Người đối diện chắp tay ra phía sau và dõi mắt lên trần nhà.
- Marina, nhờ cô được ở đây, nhờ chúng ta được ở đây, mà chúng ta mới may mắn biết được sự thật về sự sáng tạo và nơi chúng ta từ đó ra đi, cũng như nhiệm vụ thực sự của chúng ta trên Địa Cầu này. Tất cả những điều đó đều được tìm thấy trong Kinh Thánh.
- Và Kinh Thánh không phải là chuyện cổ tích chứ gì?
Đô vai của cô Adelina săn cứng. Cô nhíu mày, hai quai hàm đanh lại.
- Hành tinh Lorien không phải là chuyện cổ tích – Tôi lên tiếng trước khi cô Adelina kịp trả lời, và, dùng đến siêu năng lực, tôi nâng chiếc gối ở cái giường gần đó lên, quay tròn nó trong không gian. Cô Adelina đã làm một hành động mà chưa bao giờ cô thực hiện trước đây: cô tát vào mặt tôi, một cú giáng cực đau. Tôi đánh rơi chiếc gối, ôm ngay lấy bên má bị đau, miệng há hốc.
- Cháu dám để cho người ta nhìn thấy cháu làm điều đó sao? – Người giám hộ của tôi gằn từng tiếng một cách dữ tợn.
- Điều cháu vừa mới làm đó, nó không phải là chuyện cổ tích. Cháu không phải là một phần của chuyện cổ tích. Cô là Cêpan của cháu, và bản thân cô cũng không phải là một phần của chuyện cổ tích.
- Cháu muốn gọi là gì thì tùy – Cô Adelina điềm nhiên đáp lại.
- Chẳng lẽ cô chưa đọc tin tức ư? Cô thừa biết cậu trai ở Ohio là một đồng đội của chúng ta; cô phải biết điều đó! Có thể cậu ấy là hy vọng duy nhất của chúng ta!
- Hy vọng duy nhất của chúng ta về cái gì? – Người đối diện thắc mắc.
- Về cuộc sống.
- Thế cháu gọi cái này là cái gì?
- Phí phạm bao ngày sống bên những lời dối trá của người ngoài hành tinh này không phải là cuộc sống – Tôi khăng khái tranh luận.
Cô Adelina lắc đầu.
- Thôi đi, Marina – Nói rồi cô bỏ đi.
Tôi chẳng còn cách nào khác là phải bước theo cô.
Marina – cái tên bây giờ đã quá đổi bình thường – được dùng để ám chỉ tôi. Tôi chẳng phải nghĩ tới nghĩ lui gì nữa khi cô Adelina rít lên cái tên ấy hòng gọi tôi hay khi một trong những cô gái của trại trẻ mồ coi thét gọi trên đường ra khỏi trường, tay vẫy vẫy quyển sách toán mà tôi bỏ quên. Thế nhưng đấy chẳng phải lúc nào cũng là tên tôi. Hồi hai cô cháu tôi còn lang thang tìm một bữa ăn ấm áp hay một chiếc giường để ngả lưng, hồi trước khi chúng tôi đến Tay Ban Nha và Santa Teresa, trước khi cô Adelina có tên là Adelina thì tôi tên là Geneviève. Cô Adelina là Odette. Đấy là những cái tên của Pháp.
- Cứ mỗi lần đến quốc gia mới thì mình cần phải đổi tên – Cô Adelina đã khẽ khàng giải thích như vậy khi lấy tên là Signy, lúc chúng tôi ở Na Uy, nơi con tàu của hai cô cháu cặp vào đất liền sau nhiều tháng trời lênh đênh trên biển. Cô chọn tên Signy bởi đó là cái tên được ghi chú trên áo người phụ nữ đứng sau quầy hàng.
- Thế cháu nên lấy tên là gì? – Tôi thỏ thẻ thắc mắc.
- Cháu muốn lấy tên gì cũng được – Cêpan của tôi trả lời. Chúng tôi đang ngồi trong quán cà phê giữa một ngôi làng vắng vẻ, thưởng thức hơi ấm của món sô-cô-la nóng mà hai cô cháu cùng chia nhau. Cô Signy đã đứng dậy và cầm lên một tờ báo cuối tuần nằm trên chiếc bàn gần đó. Ngay nơi trang báo đầu tiên có in hình một người phụ nữ đẹp tuyệt trần, chưa bao giờ tôi thấy ai đẹp đến như vậy. Người phụ nữ ấy sở hữu một mái tóc vàng, đôi gò má cao, và một đôi mắt xanh thăm thẳm. Cô ấy có tên là Birgitta. Thế là tôi mang tên Birgitta.
Thậm chí ngay cả khi hai chúng tôi đang ngồi trên xe lửa, hết miền này đến xứ kia cứ vùn vụt lướt qua cửa sổ như những bóng cây, chúng tôi cũng luôn phải đổi tên, dầu cho chuyến đi chỉ mất có mấy giờ đồng hồ. Phải, để trốn tránh bọn người Mogadore hay bất kì ai khác có thể đang lần theo chúng tôi, vậy mà đó chính lại là điều đã nâng tâm hồn hai cô cháu lên giữa những thất vọng não nề. Tôi luôn cho rằng điều này thật nhộn, tôi ước sao chúng tôi đã du ngoạn khắp Châu Âu mấy lần. Hồi ở Ba Lan, tôi là Minka, còn cô là Zali. Thế rồi cô có tên là Fatima khi ở Đan Mạch; còn tôi là Yasmin. Lúc ở Áo, tôi có tới hai cái tên: Sophie và Astrid. Còn cô thì yêu cái tên Emmalina.
- Sao lại là Emmalina hả cô? – Tôi đã hỏi như vậy.
Người giám hộ của tôi cười khinh khích.
- Cô cũng chẳng biết nữa. Chắc cô thích cái nào giống như hai tên ghép lại làm một. Tên nào cũng đẹp, nhưng cháu mà chập lại làm một thì cháu sẽ được một thứ thật đặc biệt.
Kỳ thực, bây giờ thì tôi tự hỏi liệu đó có phải là lần cuối cùng tôi được nghe thấy cô Adelina cười hay không. Hay đó là lần cuối cùng chúng tôi ôm lấy nhau, quyết định về vận mệnh của mình? Tôi cho rằng đó là lần cuối cùng tôi còn cảm nhận được rằng cô Adelina quan tâm đến vai trò là Cêpan của tôi, hay đến điều gì sẽ xảy ra cho Lorien – chuyện gì đang xảy đến với tôi.
Cả hai cô cháu đến dự Lễ Misa vừa kịp lúc Thánh Lễ bắt đầu. Mấy chỗ ngồi được chỉ còn tập trung ở hàng cuối, nơi dù so chăng nữa, tôi vẫn thích ngồi hơn. Cô Adelina thì bước một cách chậm rãi lên hàng đầu, chỗ có các Sơ đang ngồi. Ngài linh mục, Cha Marco, bằng chất giọng âu sầu vốn dĩ bắt đầu cất lời cầu nguyện mở màn, hầu hết các lời lẽ của Cha đều nghèn nghẹn, chẳng thể nào nhận ra trước khi chúng lan được đến chỗ tôi. Tôi thích như thế: ngồi dự Thánh lễ Misa cùng sự hờ hững tự nhiên. Cố gắng không nghĩ đến chuyện bị cô Adelina bạt tai, tôi dành đầu óc nghĩ đến chuyện sẽ làm sau buổi El Festin. Tuyết chưa tan, nhưng dù sao, tôi cũng đã quyết sẽ đến cái hang cho bằng được. Tôi có ý tưởng mới cần vẽ, và tôi muốn hoàn tất bức tranh John Smith mà tôi đã bắt đầu vào tuần trước.
Thánh lễ Misa kéo rề rà mãi chẳng dứt, chí ít thì nó mang lại cảm giác như vậy, nào là nghi thức, tế lễ, ban thánh thể, đọc kinh, cầu nguyện, rồi hành lễ. Tới màn cầu nguyện cuối cùng thì tôi hoàn toàn mệt đứ đừ, không còn buồn làm ra vẻ là đang cầu nguyện một cách bình thường nữa, thay vào đó, tôi ngồi thừ ra, đầu ngẩng cao, mắt mở to, đưa mắt nhìn khắp một lượt mấy cái đầu người tham dự. Hầu như người nào cũng giống người nào. Một ông đang ngủ ngồi trên chiếc ghế, hai tay khoanh lại, cái cằm chạm hẳn vào ngực. Tôi quan sát ông này cho tới khi có điều gì đó trong mơ đã khiến ông ta choàng ngay dậy và kêu ú ớ. Vài cái đầu quay phắt về phía ông ta, người đàn ông hớt hải định thần lại phương hướng. Tôi bất giác mỉm cười; và khi quay đi, tôi nhận ra Sơ Dora đang quắc mắc nhìn tôi. Cúi đầu, tôi khép mắt lại, giả vờ nguyện cầu, đọc theo những gì mà Cha Marco đang ề à, nhưng tôi biết chắc là mình đã bị bắt gặp phạm quy. Đó là những gì Sơ Dora hay làm. Sơ bước ra khỏi chỗ để bắt quả tang kẻ nào đang làm gì đó không phải phép.
Màn cầu nguyện kết thúc bằng việc làm dấu thánh, đã đặt dấu chấm hết cho Thánh lễ Misa. Tôi đứng dậy, trước tất cả mọi người và nhanh chân bước ra khỏi giáo đường để vào bếp. Có lẽ trong các Sơ, Sơ Dora có dáng người dềnh dàng nhất, nhưng khi cần, Sơ cũng nhanh nhẹn phải biết, tôi không muốn Sơ có cơ hội bắt được tôi. Nếu Sơ không bắt được thì may ra tôi mới thoát khỏi sự trừng phạt. Và tôi đã làm được điều đó, Sơ Dora bước vào nhà ăn đúng năm phút sau khi tôi bắt đầu hí hoáy gọt khoai tây, bên cạnh cô bé Paola ôm o mười bốn tuổi và cô em gái mười hai tuổi Lucia của Paola, cô bé chỉ chú mục vào tôi.
- Bà ấy làm sao vậy hả chị? – Paola thắc mắc.
- Bà ấy trông thấy chị cười trong giờ Thánh Lễ.
- May mà chị không bị đánh vào mông – Lucia lí nhí góp chuyện.
Tôi gật đầu và trở lại với công việc dở dang. Cũng chỉ là thoáng qua không khác gì mọi ngày, nhưng những khoảnh khắc nhỏ nhoi này đã đưa chúng tôi đến gần nhau hơn, do tất cả đều có chung một kẻ thù. Khi còn nhỏ, tôi cứ tưởng những mối tương đồng dạng này, đều mồ côi và cùng sống chung với nhau dưới sự bạo ngược, sự kết nối chúng tôi thành những người bạn chí thân, suốt đời. Vậy mà kỳ thực lại có tác dụng chia rẽ khiến chúng tôi xa nhau, tạo thành những nhóm nhỏ giữa một đám con gái chẳng lấy gì làm nhiều nhặn – những cô gái xinh xắn thì chơi riêng với nhau (trừ La Gorda, nhưng vẫn là một phần của nhóm ấy), những cô gái thông minh, những cô gái thể thao, những kẻ nhỏ tuổi – cho tới lúc tôi bị bỏ lại.
Nửa tiếng đồng hồ sau, mọi thứ đã đâu vào đấy, chúng tôi bưng thức ăn từ nhà bếp lên quầy ẩm thực. Đám đông những người chờ đợi nhất loạt vỗ tay. Ở phía sau quầy, tôi trông thấy người mà tôi cảm mến nhất ở Santa Teresa: Héctor Ricardo. Quần áo anh ta nhăn nhúm và bẩn thỉu, tóc tai thì bù xù. Đôi mắt Héctor lúc nào cũng đỏ ngầu, khuôn mặt và đôi má đỏ hây hây. Thậm chí ở khoảng cách khá xa, tôi cũng có thể nhận ra tay của anh ta đang run rẩy, một hiện tượng quen thuộc vào Chủ Nhật – ngày duy nhất Héctor không đụng đến rượu. Hôm nay, trông anh bạn của tôi thật phong trần, dù rằng khi cuối cùng cũng tiến về phía tôi, anh ta chìa ra chiếc khay và cố nở nụ cười lạc quan nhất trong khả năng của mình.
- Cô có khỏe không, nữ hoàng biển cả của tôi? – Héctor hỏi thăm.
Tôi khẽ cúi đầu, đáp lại:
- Tôi vẫn khỏe, Héctor. Còn anh thế nào?
Đã nhún vai như để thay cho câu trả lời, song cuối cùng, Héctor vẫn nói:
- Cuộc sống chẳng khác nào một thứ rượu ngon, phải nhấm nháp và thưởng thức mới thấy được vị ngon của nó.
Tôi cười. Lúc nào Héctor cũng có một câu triết lí nào đó để chia sẻ với tôi.
Lần đầu tiên tôi gặp Héctor là năm tôi mười ba tuổi. Lúc đó, anh ta đang ngồi bên ngoài một quán cà phê vắng hoe ở Calle Principal, uống rượu một mình. Khi ấy là giữa trưa, tôi đang trên đường từ trường về nhà. Đôi mắt của chúng tôi đã giao nhau lúc tôi đi ngang qua chỗ anh ta ngồi.
- Marina, cái tên mang ý nghĩa của biển khơi – Héctor đã nói như vậy, và tôi lấy làm lạ vì anh ta biết tên tôi, dù rằng tôi không nhất thiết phải có cảm giác như thế, bởi từ khi dọn vào sống ở tu viện, tuần nào tôi cũng thấy Héctor đến nhà thờ - Đến nói chuyện với thằng say một chút đi.
Và tôi đã làm theo đúng như vậy. Chẳng hiểu vì sao. Có lẽ ở Héctro toát lên một điểm gì đó dễ chịu. Anh ta khiến tôi có cảm giác thư thái, chẳng hề tỏ ra vẻ này nọ như bao kẻ khác vẫn làm. Héctor sống rõ ràng theo phương châm: “Tôi là vậy đó, chịu được thì chơi, không chịu được thì nghỉ.”
Vào cái ngày đầu tiên chúng tôi ngồi bên nhau trò chuyện, thời gian trôi qua đủ lâu để người bạn mới quen uống hết một chai rượu và gọi thêm một chai nữa.
- Cô chơi với tên Héctor Ricardo nhé – Anh ta đã nói thế vào cái thời khắc tôi phải trở về tu viện – Tôi sẽ chăm nom cho cô; tên của tôi là vậy đó. Nghĩa gốc La-tinh của Héctor là “bảo vệ và giữ gìn”. Còn Ricardo có nghĩa là “sức mạnh và lòng can đảm” – Héctor nói liền một hơi, nắm tay phải dộng vào vồng ngực đúng hai lần – Héctor Ricardo sẽ chăm sóc cho cô!
Tôi có thể khẳng định rằng Héctor nói thật.
Người bạn mới quen của tôi nói tiếp:
- Marina. “Thuộc về đại dương”. Tên của cô hàm nghĩa như vậy đó; cô biết không?
Tôi đã trả lời Héctor rằng tôi không biết. Tôi cũng thắc mắc không biết Birgitta nghĩa là gì. Rồi Yasmin. Và ý nghĩa của cái tên Emmalina nữa.
- Tức cô là nữ hoàng biển cả của Santa Teresa – Héctor nói thêm cùng một nụ cười nửa miệng.
Tôi cười.
- Anh uống nhiều lắm rồi đó, Héctor Ricardo.
- Ừ - Người đối diện xác nhận – Tôi là con sâu rượu mà, Marina thân mến. Nhưng tôi sẽ không làm cô nổi khùng đâu. Héctor Ricardo lúc nào cũng là kẻ che chở cho người khác. Và ai đối xử với mình tồi làm sao, mình sẽ đối lại tệ y như thế!
Những năm sau đó, Héctor là một trong số vài người tôi có thể coi là bạn.
Cũng phải mất hai mươi lăm phút sau, mấy trăm con người mới nhận xong suất ăn của mình; sau khi người cuối cùng rời khỏi quầy, chúng tôi mới đến lượt ăn, ngồi tránh xa những người khác. Ai nấy đều cố gắng ăn nhanh thật nhanh, ý thức được rằng càng dọn dẹp và cất dọn mọi thứ mau chừng nào, chúng tôi càng mau sớm có thời gian của riêng mình chừng nấy.
Mười lăm phút sau, năm người chúng tôi – thuộc nhóm trực ở quầy thực phẩm, bắt đầu chà nồi, chảo và lau tất cả các quầy kệ. Việc dọn dẹp được tiến hành lúc mọi người đã rời khỏi khu nhà ăn sau khi đã dùng xong bữa, vậy mà may thay, chỉ tốn khoảng một tiếng đồng hồ, đó là điều hiếm khi nào xảy ra. Giữa lúc cả bọn đang mãi hí hoáy lau chùi, khi nhận biết được rằng chẳng có ai quan sát mình, tôi đã kín đáo bỏ vào trong bao những món có thể để dành, định bụng hôm nay sẽ đưa vào hang: trái cây khô tổng hợp, quả hạch, một lon cá ngừ, một lon đậu. Điều này đã trở thành một thứ phong vị cuối tuần của riêng tôi. Đã từ lâu, tôi tự thuyết phục mình rằng cần phải làm như vậy để có cái mà bỏ bụng khi vẽ lên thành hang. Nhưng kỳ thực tôi đang tạo ra một kho dự trữ thực phẩm trong trường hợp điều tồi tệ nhất xảy đến buộc tôi phải trốn đi. Và cái điều tồi tệ nhất ấy chính là tôi muốn ám chỉ đến bọn chúng.