ĐẾN GẦN CÁI HANG, KHI ĐÃ BẮT ĐẦU CÓ THỂ tàng hình, tôi và Sam nấp ngay vào đằng sau một cái cây. Tôi đặt viên đá Xitharis lên mặt dính của cuộn băng keo. Sam chú mục vào chiếc đồng hồ bấm giờ với các ngón tay rà tới rà lui trên nó.
- Sẵn sàng chưa? – Tôi hỏi.
Cậu bạn của tôi gật đầu. Tôi ấn viên Xitharis cùng mảnh băng keo vào dưới xương ức. Ngay lập tức, tôi biến mất; Sam bấm vào một cái nút trên đồng hồ, tạo ra một tiếng bíp nhỏ. Tôi nắm lấy tay Sam, cả hai đứa đi vòng qua thân cây, chạy về phía hang. Nhiệm vụ đã tới, với ý niệm đó trong đầu, tôi không còn lo lắng như lúc đi đến đây nữa.
Cái hang được phủ một tấm bạt ngụy trang cực lớn. Chúng tôi lẻn qua bãi đất hoang toàn xác thú, cẩn trọng không giẫm lên bất kỳ một cái xác nào, đây là một điều vô cùng khó khăn khi không thể trông thấy đôi chân của mình. Bên ngoài, không có bóng dáng tên Mogadore nào, tôi xông xái tiến lên trước và vạt tấm bạt sang một bên hơi mạnh tay. Sam và tôi có phần ngại ngần khi bước vào. Có bốn tên bảo vệ vừa bật dậy khỏi ghế ngồi, nâng những khẩu thần công lên – đây chính là loại súng đã từng chĩa vào trán tôi trong cái đêm ở Florida. Hai chúng tôi lập tức đứng im như tượng một lúc, sau đó mới rón rén lẻn vào, không gây ra một tiếng động nào; hy vọng chúng sẽ nghĩ rằng tấm bạt đột nhiên động đậy là do cơn gió ở bên ngoài.
Một luồng gió lành lạnh thổi ra từ hệ thống gió, không khí trong lành một cách đáng ngạc nhiên, không thể ngờ rằng trong đó có lẫn hơi độc. Trong hang, các vách đá xám láng mịn chẳng khác nào đá lửa, các sợi dây điện nối với những ánh đèn lờ mờ được bố trí cách đều nhau sáu mét.
Chúng tôi đi ngang qua những tên do thám khác mà không bị phát hiện ra. Tiếng tích tắc đều đặn của chiếc đồng hồ khiến tôi và Sam hết sức căng thẳng. Chúng tôi bước dồn, chạy, nhón chân và đi. Thế rồi đường hầm hẹp lại và bắt đầu đổ dốc, hai chúng tôi đi nép vào một bên. Bầu không khí mát lành chuyển sang ấm nóng và khó thở, thứ ánh sáng đỏ lè cuối đường hầm đi vào tầm nhìn. Chúng tôi tiến thẳng về phía ấy cho tới lúc, cuối cùng, cũng đến được trung tâm cái hang.
Trung tâm cái hang to lớn hơn rất nhiều so với những gì tôi hình dung theo mô tả của Số Sáu. Một ria tường dài chạy dọc theo các vách thuôn tròn và xoắn ốc, từ cao xuống thấp, khiến cho toàn cảnh y hệt như một kiến trúc tổ ong; tất cả đều nhộn nhịp – hàng trăm tên Mogadore đi lại qua những gờ đá nhấp nhô uốn thành cầu, chúng không ngớt vào ra các đường hầm. Nền hang sâu hoắm, vòm hang trải rộng cách nhau tới nửa dặm, Sam và tôi đang ở rất gần vị trí trung tâm. Tại đây, có hai cây cột khổng lồ từ dưới nền hang vươn thẳng lên đến vòm để chống sập. Lối đi nhiều vô kể.
- Trời đất ơi – Sam thì thào trong nỗi kinh sợ - Khám phá cái thứ này phải mất tới mấy tháng chứ chẳng chơi.
Đôi mắt tôi bị hút xuống cái hồ chất lỏng màu xanh lục đang phát sáng ở bên dưới. Thậm chí ở khoảng cách rất xa, sức nóng tỏa ra từ cái hồ vẫn khiến bầu không khí trở nên khó thở. Dù nhiệt độ rất cao, nhưng có tới hai mươi, ba mươi tên Mogadore đang làm việc quanh đó, chúng lấy lên từ dưới hồ đang sủi bọt những chiếc xe và nhanh chóng chuyển đi. Bỏ qua cái hồ màu xanh lục ấy, đôi mắt tôi tập trung vào một thứ khác.
- Tôi nghĩ có lẽ chúng ta đang thắc mắc dưới đường hầm với những chấn song khổng lồ kia có cái gì – Tôi thì thào vào tai Sam.
Đường hầm phía bên dưới cao và rộng gấp ba lần so với chỗ lối đi đã đưa chúng tôi đến đây, ở đó có tấm lưới sắt đang nhốt những con quái vật. Sam và tôi có thể nghe thấy chúng đang gào rú ở bên dưới, âm thanh nghe trầm đục và buồn bã, thể hiện một điều rất rõ ràng: số lượng của chúng không nhỏ chút nào.
- Phải mất tới vài tháng đó – Sam lặp lại, lời thầm thì tỏ rõ sự hoài nghi.
- Chà, trong khi tụi mình thì có chưa tới một tiếng đồng hồ - Tôi cũng khe khẽ đáp lại – Vậy nên tụi mình phải khẩn trương lên.
- Tôi nghĩ mình nên đặt một dấu X thật to lên tất cả những đường hầm tối tăm, nhỏ hẹp, khó di chuyển.
- Đồng ý. Mình nên bắt đầu bằng con đường xuyên thẳng qua bên kia – Tôi đề xướng, chú mục vào con đường huyết mạch của gian phòng trung tâm – rộng hơn, sáng hơn tất cả những con đường ở nơi khác – đây là con đường có số lượng bọn Mogadore đi lại đông nhất. Cây cầu bắc qua đó uốn cong, dài, làm bằng đá cứng, và chỉ rộng khoảng sáu mươi xăng-ti-mét là cùng – Cậu xem có thể đi qua cây cầu uốn cong vồng kia không?
- Để xem – Sam ậm ừ.
- Cậu đi trước hay đi sau?
- Để tôi đi trước cho.
Sam ngập ngừng tiến lên vài bước. Vì phải khoác tay nhau, nên trong khoảng mười hai mét đầu, chúng tôi bước ngang. Thời gian như kéo dài ra vô tận, nếu mà qua được bên kia rồi đến khi trở ra, ắt hẳn chúng tôi không thể di chuyển với tốc độ này.
- Đừng có nhìn xuống nhé – Tôi nhắc nhở Sam.
- Đừng có nói sáo thế - Cậu bạn của tôi đáp lời, chỉnh lại tư thế.
Cả hai cứ thế tiến lên phía trước một cách chậm rãi, tôi ước sao mình có thể thấy rõ được đôi chân chỉ trên cái chướng ngại vật này thôi. Tôi tập trung cho khỏi ngã đến độ không cảm nhận được là Sam đã dừng sững lại từ lúc nào, việc này làm cho tôi đâm sầm vào cậu ta, suýt một chút nữa là cả hai bay ra khỏi cây cầu.
- Cậu làm cái gì thế hả? – Tôi cất tiếng, tim đập dồn dập trong lồng ngực. Rồi tôi ngẩn đầu lên, hiểu ngay được lý do khiến người bạn đồng hành dừng bước; đang chạy về phía chúng tôi là một tên lính Mogadore. Hắn đang lao sang cầu, và khoảng cách thật gần đến độ chúng tôi không có thời gian để phản ứng.
- Không có lối đi – Sam trả lời.
Tên lính vẫn tiếp tục phóng sang, trong tay hắn là một gói đồ, và khi hắn gần đến nơi, tôi cảm nhận được là Sam co rúm người lại. Đúng một tích tắc sau, đôi chân của tên lính Mogadore bỗng bị chệch ra ngoài, hắn vô cùng ngạc nhiên. Tên lính rơi xuống dưới cầu, hắn vội vã bám lấy thành cầu bằng một tay, gói đồ bị rơi mất. Tên lính Mogadore thét lên vì đau khi bàn chân vô hình của tôi nghiến lên những ngón tay của hắn, buộc phải buông tay và rơi tự do, chìm nghỉm ở bên dưới kèm theo một tiếng thịch nghe rợn người.
Sam kéo theo tôi chạy hộc tốc sang được đến bên kia trước khi có tai họa xảy ra. Những tên lính quanh đó đều ngừng bước, ngạc nhiên nhìn nhau. Không hiểu chúng có cho rằng điều vừa xảy ra là một tai nạn hay không, hay bây giờ chúng bắt đầu cảnh giác?
Sam siết chặt lấy tay tôi khi cả hai đứa sang được bờ bên kia an toàn, cậu chành mạnh dạn tiến lên phía trước, sự tự tin đã được củng cố sau khi chúng tôi đã thanh toán được tên lính.
Lối đi tiếp theo rộng rãi và nhộn nhịp, tuy nhiên chẳng mất mấy thời gian, Sam và tôi cùng nhận ra rằng cả hai đã đi sai hướng; các căn phòng của chúng tôi đi qua rõ ràng là phòng riêng, toàn bộ chái hang này là nơi ở của bọn Mogadore: những cái hang với những chiếc giường, một nhà ăn lớn với hàng trăm cái bàn, một phòng tập bắn. cả hai chúng tôi chạy nước rút tới một hành lang gần đó, nhưng kết quả cũng chẳng có gì khá hơn. Chúng tôi thử đến lối đi thứ ba.
Tôi và Sam men theo đường hầm xung quanh co ăn sâu vào núi. Có vài nhánh hang dẫn ra khỏi con đường chính, chúng tôi chỉ biết quẹo hú họa, chẳng dựa vào cái gì ngoại trừ cảm giác đơn thuần. Ngoài cái sảnh chính mà tôi và Sam đã vào, toàn bộ quả núi chỉ là một mạng lưới của những lối đi bằng đá ẩm ướt ăn thông nhau, từ đó tạo thành các phòng dùng làm trung tâm nghiên cứu với những bàn kiểm tra, máy vi tính và những dụng cụ sáng lóe, sắc nhọn. Hai chúng tôi băng qua một số phòng thí nghiệm mà cả hai đứa đều ước sao có thêm thời gian để có thể khám phá được nhiều hơn. Có lẽ chúng tôi đã chạy được một dặm, mà cũng có thể là hai dặm, và cứ mỗi một hành lang không có kết quả nào, sự căng thẳng lại dâng lên trong huyết mạch của tôi.
- Tụi mình còn chưa đầy mười lăm phút nữa đâu, John.
- Tôi biết rồi – Tôi thì thào, bức bối, hậm hực và nhanh chóng đánh mất mọi hy vọng.
Rồi chúng tôi quẹo vào một ngã rẽ tiếp theo, hối hả chạy lên một con dốc, lướt qua thứ làm cho tôi kinh hãi nhất: một phòng đầy những xà-lim. Sam ngừng lại nửa chừng, nắm chặt lấy tay tôi, khiến tôi cũng dừng lại ngay tắp lự. Có từ hai mươi tới ba mươi tên Mogadore đang cảnh gác hơn bốn mươi xà-lim, tất cả các xà-lim đều nằm theo một đường thẳng với những cánh cửa thép nặng trịch. Phía trước mỗi cánh cửa đều có một trường xung điện màu xanh lơ.
- Mình ngó qua mấy cái phòng giam kia đi – Sam đề nghị. Tôi hiểu rằng cậu bạn của mình đang nghĩ đến bố.
- Gượm đã – Tôi thốt lên. Bất giác có một lời giải sượt qua đầu tôi. Nó thật rõ ràng.
- Sao cơ? – Sam thắc mắc.
- Tôi biết chiếc Hộp ở đâu rồi – Tôi trả lời.
- Vậy hả?
- Tôi thật ngu hết biết – Tôi thì thào – Sam này, nếu được chọn duy nhất một nơi trong toàn bộ cái địa ngục này để không bao giờ phải đặt chân tới, thì đó sẽ là nơi nào?
- Ở dưới hầm, chỗ có mấy con quái vật đang gào rú – Sam trả lời ngay, không ngập ngừng lấy một giây.
- Đúng thế - Tôi thốt lên – Nào, mình tới đó thôi.
Tôi kéo cậu bạn đi ngược trở lại hành lang trống, dẫn thẳng ra hang trung tâm; tuy nhiên, trước khi chúng tôi rời bỏ chốn dùng để giam cầm, thì một cánh cửa bỗng mở ra. Sam ghì lấy tay tôi, buộc phải dừng lại.
- Nhìn kìa – Cậu ta bảo tôi.
Ở cánh cửa của xà-lim gần nhất vừa được mở rộng ra, có hai tên bảo vệ bước vào. Chúng nói với nhau bằng một tiếng mẹ đẻ một cách cáu bẳn trong mười giây, rồi khi trở ra ngoài, chúng kéo tay lôi theo một người đàn ông da trắng hốc hác, đang ở vào cuối độ tuổi hai mươi. Anh ta yếu sức, không thể đi nổi, Sam siết chặt tay tôi khi bọn bảo vệ xô người đàn ông tới trước. Một tên mở khóa cửa xà-lim thứ hai và cả ba biến vào bên trong.
- Cậu nghĩ người bị chúng nhốt kia là ai? – Sam lên tiếng hỏi khi tôi kéo cậu ta tiến về phía trước.
- Chúng ta phải đi thôi, Sam – Tôi nhắc nhở thay cho câu trả lời – Chúng ta không có thời gian.
- Chúng tra tấn con người đó, John à – Sam bộc bạch khi rốt cuộc chúng tôi cũng đến được trung tâm của hang núi – Con người đó.
- Tôi biết rồi – Tôi thì thầm, quét mắt khắp một lượt cái khoang hang rộng lớn để tìm đường nhanh nhất đi xuống. Bọn Mogadore ở khắp mọi nơi. Bên cạnh đó, linh tính mách bảo với tôi rằng tôi sắp sửa phải đối mặt với những thứ còn đáng sợ hơn bọn do thám và bọn lính gấp nhiều lần.
- Những người có gia đình không biết rằng họ đã biệt tăm biệt tích ở đâu – Sam vẫn tiếp tục khẽ giọng thổ lộ những cảm nghĩ miên man của mình.
- Biết rồi, biết rồi – Tôi lẩm bẩm – Nào, tụi mình sẽ bàn chuyện đó khi đã ra khỏi đây. Có lẽ Số Sáu sẽ có kế hoạch cụ thể.
Cả hai chúng tôi chạy quanh hành lang xoắn ốc và chuẩn bị bước xuống một cái thang rất dài, tuy nhiên, không thể nào làm như vậy được khi đang phải nắm tay một người khác ở bên trên. Tôi nhìn xuống bên dưới. Đường còn xa thăm thẳm.
- Chúng ta phải nhảy thôi – Tôi thông báo với Sam – Chứ mà leo xuống hết chỗ này thì phải mất tới mười phút.
- Nhảy hả? – Sam hỏi lại với giọng hoài nghi – Chết chứ còn gì.
- Đừng lo – Tôi trấn an cậu bạn của mình – Tôi sẽ đỡ cậu.
- Làm thế quái nào cậu đỡ tôi được khi mà lúc nào tôi cũng nắm tay cậu thế này.
Đã đến lúc gấp lắm rồi, thời gian chẳng còn để tranh luận hay bàn cãi gì nữa. Tôi hít vào một hơi thật sâu rồi buông mình khỏi hành lang cách đáy hang ba mươi mét. Sam rú lên, nhưng tiếng ồn chát chúa do công việc đang diễn ra ở nơi đây đã át hẳn âm thanh ấy. Đôi chân của tôi đáp xuống mặt đá ghồ ghề, lực va chạm khiến tôi ngã bật ra sau; song, tôi vẫn giữ chặt lấy tay Sam, và cậu ta đã tiếp đất trên người tôi.
- Chúng ta đừng bao giờ làm cái việc này nữa nhé – Sam lên tiếng và lồm cồm bò dậy.
Tầng trệt nóng đến mức gần như không thể nào thở được, tuy nhiên, tôi và Sam vẫn phải cất giò mà chạy quanh cái hồ xanh lục về phía cánh cổng lớn đang giam giữ những con quái vật. Khi chúng tôi đến nơi, một luồng gió lành lạnh ùa vào trong mấy chấn song, và tôi nhận ra rằng đó là những làn khí trong lành dùng để cản bất kỳ hơi độc nào đi vào đường hầm này.
- John, chắc chắn chẳng còn chút thời gian nào nữa đâu – Sam nài nỉ.
- Tôi biết mà – Tôi đáp lại Sam, sau khi để cho một nhóm khoàng mười tên Mogadore phía trước mặt chúng tôi ra khỏi đó.
Thế rồi chúng tôi bước vào đường hầm tối tăm. Mấy vách đá xung quanh dính đầy nước dãi nhớp nháp, các chuồng có chấn song nằm xếp dọc theo hai bên ống thông hơi. Giữa trần nhà có tới mười cái quạt gió khổng lồ đang hoạt động, tất cả đều hướng ra lối chúng tôi vừa bước vào, hẳn là để giữ cho không khí luôn mát mẻ và ẩm ướt. Có vài cái chuồng nhỏ xen lẫn với những chuồng lớn hơn, tất cả đều vọng ra những âm thanh hoang dại và hung tợn. Trong chiếc chuồng ở bên trái chúng tôi có tới ba mươi con kraul đang nhảy lên người nhau và rít lên những tiếng the thé đinh tai nhức óc. Bị nhốt ở bên phải hai chúng tôi là những con chó có kích cỡ của loài sói, trông rất quái dị - mắt vàng và không có lông. Bên cạnh chúng là một nhân vật có ngoại hình của một gã khổng lồ với chiếc mũi to đầy mụn cóc. Bên kia lối đi, ở trong một cái chuồng lớn hơn có một con piken đồ sộ - không khác với con đã phá hủy nhà tù vào buổi sáng hôm nào – đang đi tới lui, hít hà trong không khí.
- Có lẽ chúng ta không cần phải bận tâm đến những cái chuồng nhỏ đâu – Tôi cân nhắc – Nếu chiếc Hộp của tôi có ở đây, nó sẽ phải ở trong cái chuồng lớn nhất ở cuối đường hầm này. Tôi thậm chí còn không muốn phỏng đoán xem co quái vật nào lại cần một cái cửa lớn đến như vậy để vừa với hình thể của nó.
- Tụi mình chỉ còn có vài giây nữa thôi đấy, John.
- Thế thì càng phải khẩn trương lên – Nói rồi, tôi kéo Sam chạy về phía trước, trong lúc điểm mặt thật nhanh những kẻ đáng sợ đã được gom vào chốn này: những sinh vật đầu quỉ cánh dơi biết bay, những con quái vật sáu tay da đỏ, thêm vài con piken cao sáu mét, một con quái vật bò sát đột biến có sừng mang hình dạng của chiếc đinh ba, một sinh vật có lớp da trong suốt có thể nhìn thấy được nội tạng ở bên trong.
- Óa! – Tôi buột miệng, dừng bước chân trước một lô những cái thùng tròn và các vại, hầu hết đều bằng bạc, chỉ có hai thứ màu đồng được sắp xếp dọc theo những đồng hồ nhiệt độ. Ắt hẳn là hệ thống súp-de, tôi nhận định.
- Đó là những thứ giữ cho nơi này hoạt động.
- Hẳn là như vậy rồi – Tôi gật đầu.
Một cái tháp xi-lô cao vọt lên đến nóc hang, mọi cái thùng đều được nối với những ống dẫn lớn, với các vòi và mấy đường ống bằng nhôm. Ngoài tháp xi-lô ra, trên vách còn có một bảng điều khiển thòi đầy dây điện.
- Đi nào – Sam thúc giục, lôi tay tôi đi một cách mất hết kiên nhẫn.
Cả hai đứa cùng chạy đến cuối đường. Ở đó có một cánh cửa khổng lồ cao mười hai mét, rộng mười lăm mét, toàn bộ được làm bằng thép. Ở bên phải là một cửa ra vào nhỏ được làm bằng gỗ. Cửa không khóa, và ngay lập tức tôi hiểu được lý do.
- Ôi trời đất ơi! – Sam kêu lên khe khẽ, nhìn không chớp mắt dáng vẻ hung bạo ở con quái vật.
Tôi choáng váng trong giây lát, tất cả những gì tôi có thể làm được là chú mục vào con quái vật: thân thể to lớn, nặng nề, đang thu lu ở góc chuồng xa nhất. Đôi mắt của con quái vật nhắm nghiền, hơi thở vào ra nhịp nhàng. Nếu đứng dậy, nó phải cao tới mười lăm mét, và theo như những gì tôi ghi nhận được thì cơ thể đen nhánh của nó có hình dạng của một con người nhưng hai cánh tay thì dài ngoẵng.
- Tôi không muốn dây dưa gì với chỗ này đâu – Sam phát biểu.
- Chắc không? – Tôi hỏi lại, huých vào cậu ta một cái, cậu bạn tôi tức thì rời mắt khỏi con quái vật – Cậu xem kìa.
Ở đằng kia, ngay chính giữa cái chuồng, trên một bệ đá ngang tầm mắt là chiếc Hộp của tôi. Và ở ngay bên cạnh nó là chiếc thứ hai, hai chiếc Hộp giống nhau y hệt, chỉ chờ được lấy ra. Không kể các chấn song bao bọc xung quanh, bên dưới một trường xung điện đang phát ra những tiếng kêu o o , rè rè, cả hai chiếc Hộp hiện nằm giữa một cái hào đầy chất lỏng màu xanh lục đang bốc hơi và gã khổng lồ đang ngủ say.
- Không phải là chiếc Hộp của Số Sáu – Tôi nhận xét.
- Cậu nói gì thế? Vậy thì của ai? – Sam hỏi lại, không hiểu.
- Chúng đã tìm thấy chúng ta, Sam. Ở Florida, chúng đã phát hiện ra chúng ta nhờ mở chiếc Hộp của Số Sáu.
- Phải, cái đó thì tôi biết.
- Nhưng cậu nhìn ổ khóa của cái kia đi. Việc gì chúng phải khóa một chiếc Hộp mà chúng có dư thừa thời gian để khám phá? Tôi nghĩ chiếc Hộp kia chưa hề được mở ra.
- Có lẽ cậu nói đúng.
- Hẳn là của thành viên khác – Tôi thì thào, lắc đầu, trong lúc nhìn xoáy vào cả hai chiếc Hộp – Của Số Năm, Số Chín hay của bất kỳ người nào vẫn còn sống.
- Vậy là chúng chôm chiếc Hộp mà không giết Grade?
- Giống như chúng ta đã làm với tôi đấy. Cũng có thể là tụi Mogadore đã bắt được một người và người đó bị nhốt ở đây giống như Số Sáu – Tôi đoán chừng.
Sam chưa kíp nói gì, bởi lẽ đúng vào cái tời khắc ấy, chiếc đồng hồ đeo tay của cậu bạn tôi bắt đầu báo hiệu đã hết giờ. Ba giây sau, tiếng hàng trăm chiếc còi báo động đã cất lên vang vọng khắp các vách đá của cái hang.
Cậu bạn tôi gật đầu, vẻ hoảng hốt hiện rõ trên nét mặt. Cậu ta buông tay tôi ra.
- Tôi cũng thấy cậu nữa.
Và tôi nhìn qua Sam , đôi mắt của con quái vật đã mở ra – trơ trụi và trắng dã – hai con mắt ấy đang he hé nhìn về phía chúng tôi.
CHƯƠNG BA MƯƠI
TIẾNG SÚNG ĐÃ NGƯNG NHƯNG TAI TÔI VẪN CÒN ong ong mãi không hết. Khói túa ra từ phía cuối nòng súng, nhưng không hề lãng phí thời gian, chú Crayton bỏ cái nạp đạn ra và gắn cái mới vào. Tro bụi bay mù mịt trong không gian. Hai chị em tôi cùng đứng chờ, Ella và tôi ở sau lưng chú Crayton. Chú vẫn nâng súng, ngón tay để hờ bên cái cò. Một tên Mogadore vừa trèo lên lối vào, trong tay lăm lăm khẩn thần công, nhưng chú Crayton đã khai hỏa trước, chẻ hắn ra làm hai và ném hắn về phía sau. Tên Mogadore bị nổ tung trước khi kịp va thẳng vào vách đá. Tên thứ hai vừa lọt vào tầm nhìn, hắn sử dụng vũ khí ánh sáng đã chém vai tôi bị thương ở dưới lầu, tuy nhiên, chú Crayton cũng lại đã tấn công trước, trước khi có bất kỳ một thứ ánh sáng nào lướt tới.- Chà, chúng đã biết ta ở đâu rồi. Đi nào – Người đàn ông hét lên, lao thẳng về phía trước và chạy xuống những bậc thang trước khi tôi đề nghị đưa tất cả xuống bằng lối cửa sổ. Ellaa và tôi tức tốc phóng theo, tay vẫn đan trong tay với nhau. Chú Crayton chợt dừng lại ở lối ngoặt thứ hai dưới cầu thang, ấn mấy ngón tay vào mắt – Mắt chú dính nhiều tro quá. Chú không thấy gì hết – Chú Crayton thổ lộ - Marina, cháu đi đầu. Nếu phía trước bị chặn, cháu hãy hét lên và tránh đường ngay.
Tôi cắp chiếc Hộp dưới cánh tay trái tiến lên đi trước; Ella đi ở giữa, nắm lấy tay tôi và chú Crayton. Tôi dẫn đường, đưa mọi người xuống phía dưới và ra khỏi cánh cửa gỗ sồi vừa lúc tòa tháp bên trên bị nổ tung.
Thế rồi tôi hét lên, hụp đầu xuống, kéo Ella cúi xuống xùng với mình. Như một phản ứng tự nhiên, chú Crayton bắt đầu nã đạn. Khẩu súng nhả ra một luồng đạn ở vận tốc của ánh sáng – tám đến mười viên một giây – và tôi có thể trông thấy toàn bộ toán Mogadoe ngã rạp xuống. Chú Crayton ngừng bắn.
- Marina? – Chú Crayton cất tiếng gọi, hất đầu về phía trước mà không nhìn tôi.
Tôi quay lại, quan sát hành lang ngập đầy tro bụi.
- Cháu nghĩ là đã quang rồi – Tôi đáp, và đúng vào giây phút những lời lẽ đó vừa thoát ra khỏi miệng tôi thì một tên Mogadore bất thình lình nhảy xồ ra khỏi một ổ cửa và nã súng, một luồng ánh sáng trắng lóa lao thẳng về phía chúng tôi, ánh sáng rực rỡ đến mức không thể nhìn thấy được. Bộ ba chúng tôi rạp người xuống đúng lúc, thoát khỏi luồng ánh sáng chết chóc kia trong đường tơ kẽ tóc. Một cách mau lẹ, chú Crayton giơ súng lên và nã đạn, tên Mogadore gục xuống liền tức khắc.
Tôi tiếp tục dẫn mọi người tiến về phía trước. Không rõ chú Crayton đã tiêu diệt được bao nhiêu kẻ thù, chỉ thấy tro bụi đóng dày trên sàn, phủ lên đến mắt cá chân của chúng tôi. Chúng tôi dừng lại ở những bậc thang trên cùng. Ánh sáng từ các ô cửa sổ rọi vào lớp tro, chú Crayton giụi mắt. Chú chuyển sang vị trí dẫn đầu, ghì chặt khẩu súng vào ngực trong lúc nấp đằng sau góc kẹt. Khi chúng tôi ló đầu ra, từ cửa dẫn ra ngoài chỉ còn lại các bậc thang, một hành lang ngắn, ở phía sau giáo đường và cổng nhà thờ chính. Chú Crayton hít vào một hơi tràn đầy buồng phổi rồi hất đầu, sau đó rẽ tạt ngang, nòng súng vẫn hướng xuống, sẵn sàng bắn hạ. Nhưng không có gì xảy ra khiến phải siết cò cả.
- Nào – Chú Crayton làu bàu.
Hai chị em tôi hối hả bước theo, người giám hộ tạm thời của Ella hộ tống chúng tôi băng qua đằng sau giáo đường, lúc này đã bị đen đúa với những tác hại của lửa. Trong một tích tắc ngắn ngủi, tôi đưa mắt nhìn sang thân thể của cô Adelina, ở khoảng cách xa xăm, trông thật bé nhỏ. Trông thấy cô, trái tim tôi lại nhói đau. Dũng cảm lên nhé, Marina – lời nói của cô vẫn còn vang vọng.
Bên mé phải của chúng tôi, một bức tường phía bên ngoài chợt phát nổ. gạch đá bay dội lại hết vào bên trong; theo bản năng, tôi đưa tay lên ngăn cản mọi thứ va vào bản thân và Ella. Vì thế, có chú Crayton là bị trúng đòn nặng, chú văng thẳng vào bức tường bên trái và rơi xuống đất, rên rỉ. Khẩu súng rơi ở một khoảng cách khá xa, và một tên Mogadore điềm nhiên bước vào thánh đường thông qua cái lỗ hỗng mới tạo ra, trên tay hắn là một khẩu súng thần công. Bằng một cử động thật mau lẹ, tôi dùng trí lực tống thẳng tên Mogadore ấy về phía sau, đoạn nhặt lấy khẩu súng của chú Crayton, nhắm thẳng vào hắn mà siết cò. Lực giật của cây súng hóa ra mạnh hơn tôi tưởng, suýt chút nữa là tôi đã đánh rơi vũ khí của mình; nhưng tôi lấy lại được thăng bằng một cách nhanh chóng và nã tiếp đạn cho tới khi kẻ thù bị hóa thành tro bụi.
- Nè em – Tôi lên tiếng và ấn khẩu súng vào tay Ella; bé con đón lấy vũ khí với tất cả sự thuần thục, tôi có thể khẳng định rằng em không hề lạ lẫm gì với khẩu súng cầm tay.
Tôi chạy bủa đến chỗ chú Crayton. Cánh tay của chú bị gãy, máu trào ra khỏi các vết thương trên đầu và trên mặt. Tuy nhiên, mắt chú vẫn mở và trông chú như đang cảnh giác tối đa. Nắm lấy cổ tay của chú bằng cả hai tay, tôi khép mắt lại, hơi lạnh trườn khỏi cơ thể của tôi và tỏa sang chú Crayton. Tôi quan sát những mảnh xương nơi tay chú bắt đầu di chuyển trở lại vị trí cũ ở dưới da, các vết thương trên khuôn mặt chú cũng liền lại và biết mất. Vồng ngực của chú nâng lên, hạ xuống nhanh đến mức tôi cho rằng hai lá phổi nơi chú sắp nổ banh ra tới nơi, nhưng rồi sau đó chú trở lại nhịp thở bình thường.
Người đàn ông ngồi dậy, cử động thử cánh tay.
- Giỏi quá – Chú Crayton tấm tắc.
Chú Crayton lấy lại khẩu súng từ tay Ella, rồi chúng tôi trèo qua lỗ hỗng trên tường và bước vào sân trước của tu viện Santa Teresa. Tôi không hề ghi nhận được bóng dáng của một kẻ nào khi Ella và tôi chạy lên, băng qua cánh cổng sắt, trong lúc chú Crayton đưa khẩu súng qua lại thăm dò, tìm lý do để siết cò. Đôi mắt tôi bị níu về phía vai trái của của chú Crayton, về một vụ nổ mang đầy sắc đỏ trên nóc thánh đường sắp diễn ra. Đi cùng với một luồng hơi cực mạnh, quả tên lửa lao vùn vụt về phía chú Crayton. Không chút chậm trễ, tôi chú mục vào quả tên lửa, đưa cả hai tay lên, tập trung hơn bao giờ hết; và ở vào thời khắc cuối cùng, tôi đã thay đổi được đường bay của nó. Quả tên lửa chệch khỏi chú Crayton, hướng thẳng về phía một quả núi, nơi mà ngay sau đó, nó đã mau chóng nổ bùng. Chú Crayton chạy lướt qua chúng tôi, tiến thẳng ra cổng, đôi mắt luôn ở trạng thái cảnh giác và khẩu súng lúc nào cũng chĩa thẳng. Bất chợt chú dừng chân, quay phắt lại.
Người hộ vệ của chúng tôi lắc đầu, và từ phía sau, chúng tôi nghe thấy tiếng cánh cổng nhà thờ bật mở.
- Cậu ta không có ở đây – Chú Crayton thốt lên và trước lúc chú kịp quay lại để nã đạn thì tiếng rít của lốp xe đã vang đầy trong không gian.
Chiếc xe xuất hiện với phần nhựa bao bọc bên ngoài che giấu sự tàn tạ, đuôi xe không ngớt lượn qua lượn lại; và đích thị là Héctor với đôi mắt mở rộng đang ngồi sau vô-lăng. Anh ta cho xe lao thẳng về phía chúng tôi và thắng lại khi trở vừa tới gần. Tiếng “kétttt” vang lên và chiếc xe dừng lại, Héctor nhoài người qua ghế đoạn đẩy cánh cửa bên phụ lái. Tôi thảy chiếc Hộp vào bên cạnh Héctor, rồi Ella và tôi nhanh nhẹn nhảy vào trong xe. Chú Crayton còn nán lại ở bên ngoài một lúc để trút hết đạn vào bọn Mogadore đang xuất hiện ở chỗ cửa nhà thờ. Có một số tên đã gục ngã, nhưng kẻ thù quá đông quân, không thể hạ hết được. Đến lúc chú Crayton cũng phải nhảy vào trong xe và đóng cửa lại. Các bánh xe lập tức nghiến xuống sỏi để cố bám đường. Có tiếng một quả tên lửa nữa đang tiến tới lại gần, nhưng các bánh xe vẫn lao đi, và chúng tôi thẳng tiến xuống đường Calle Principal.
- Tôi yêu anh, Héctor – Tôi bộc bạch. Tôi không sao ngăn được những lời lẽ ấy; hình ảnh của Héctor ở phía sau vô-lăng đem lại cho tôi sự ấm áp ngập tràn.
- Tôi cũng yêu cô lắm, Marina. Tôi vẫn luôn nói với cô đấy: hãy chơi với Héctor Ricardo, hắn sẽ chăm sóc cho cô.
- Tôi chưa bao giờ nghi ngờ điều đó lấy một lần – Tôi đáp lại, và đó chính là một điều nói dối. Tôi đã ngờ vực chuyện này vào sáng hôm nay.
Chúng tôi tiến đến chân đồi, lướt qua những bảng hiệu ghi chú địa phận của thị trấn.
Ngoái đầu lại, tôi nhìn ra ô cửa sổ phía sau, khi Santa Teresa nhanh chóng bị trôi tuột lại. Tôi ý thức được rằng đây là lần cuồi cùng tôi còn được trông thấy thị trấn ấy, và dẫu tôi từng chờ đợi hàng bao năm để ra đi, giờ đây, nó lại trở nên linh thiêng, vì đó là nơi an nghỉ cuối cùng của cô Adelina. Chẳng mấy chốc, thị trấn bị bỏ lại sau lưng, mất hẳn.
- Cảm ơn, Señorita Marina – Héctor nói với tôi.
- Vì chuyện gì?
- Tôi biết chính cô là người đã chữa bệnh cho người mẹ kính yêu của tôi. Mẹ tôi bảo rằng chính cô là ân nhân, rằng cô là thiên thần của bà; tôi không bao giờ có thể đền đáp được chuyện ấy.
- Anh đã giúp tôi rồi đấy, Héctor. Tôi rất vui vì đã giúp được cho mẹ anh.
Anh bạn của tôi cười lắc đầu:
- Tôi chưa giúp gì được cho cô cả, nhưng chắc chắn một điều là tôi sẽ cố gắng.
Trong lúc chú Crayton nạp đạn và kiểm tra lại đạn dược, Héctor cho xe chạy vào con đường ngoằn ngoèo và không thể nào đoán định được địa hình. Chúng tôi nảy tưng lên và ngả người theo những cú ngoặt gấp bất chợt của những con đèo vòng vo. Tuy nhiên, dù với tốc độ điên đảo như vậy, song chẳng mấy chốc sau, đã thấy có mấy chiếc xe bám theo chúng tôi xuất hiện ở đằng sau.
- Đừng lo về chúng – Chú Crayton trấn an mọi người – Chúng ta cứ chạy tới hồ đi.
Mặc dù chiếc xe tải đổ xuôi xuống đường, đoàn xe phía sau vẫn nhanh chóng rút ngắn được khoảng cách. Mười phút sau, một vệt sáng dài bay lướt qua đẩu xe tải và tạo ra cú nổ ở vùng đất trước mặt chúng tôi. Như một phản ứng tự nhiên, Héctor hụp đầu xuống:
- Ôi trời đất ơi.
Chú Crayton quay phắt lại và dùng báng súng đập bể ổ cửa kính phía sau, đoạn siết cò. Chiếc xe đi đầu bị dính đạn, dựng đứng lên; cả bọn chúng tôi reo vui hoan hỷ.
- Giờ thì chúng sẽ phải cách xa mình một chút – Nói xong, chú Crayton lại thoăn thoắt nạp đạn cho súng.
Nhưng chỉ được vài phút, ngay khi con đường vào đoạn gập ghềnh và thuôn theo triền núi đổ dốc, có hai chiếc xe đã chạy vượt lên để áp vào mé phải xe chúng tôi. Héctor lầm bầm và điều khiển cho xe đánh võng, bàn đạp ga bị nghiến chặt, các bánh xe sau lượn đến sát mép vách đá cao ngất.
- Cẩn thận nhé Héctor – Chú Crayton nhắc nhở - Đừng giết tất cả chúng ta khi chưa đến được đó đấy. Ít nhất cũng hãy cho chúng tôi một cơ hội.
- Héctor vẫn kiểm soát tốt mà – Anh bạn của tôi trả lời và bồi thêm một cú nhồi xe nữa khiến chú Crayton phải bấu chặt tay vào ghế trước mặt.
Thế rồi đến đoạn chúng tôi buộc phải cua gấp, Héctor không thể bẻ lái nhanh nên chiếc xe trượt ra khỏi đường cái. Ở góc bảy-mươi-lăm độ, chiếc xe lao thẳng xuống sườn núi rậm rạp, đâm thẳng vào các cây non, nảy bật lên khi cán xe phải những hòn đá cuội và chật vật lắm mới tránh được những cây to. Ella và tôi cùng hét thất thanh. Chú Crayton thì gào lên khi bị nhào tới phía trước, đâm sầm vào kính chắn gió. Héctor không thốt ra một lời nào; anh ta nghiến chặt răng lại và tiếp tục lèo lái chiếc xe – khi thì lượn qua, lúc cán thẳng lên những chướng ngại vật, cho đến chừng chúng tôi đáp được xuống mặt con đường mới một cách kỳ diệu. Cái ca-pô xe bị vẹo hẳn và bốc khói, nhưng động cơ xe vẫn chạy đều.
- Đây là, ơ, đường tắt – Héctor thông báo cho mọi người biết, rồi anh bạn của tôi nhấn ga, và xe chúng tôi lao đi ầm ầm trên con đường mới.
- Có lẽ bọn chúng không còn bám theo mình nữa – Chú Crayton phỏng đoán, mắt ngước nhìn lên vách núi.
Tôi cười, vỗ vào vai Héctor. Chú Crayton đưa nòng súng ra ngoài ô cửa sổ phía sau, chờ đợi.
Cuối cùng, cái hồ cũng xuất hiện ra trong tầm mắt. Tôi tự hỏi vì sao chú Crayton lại tin rằng cái hồ sẽ cứu chúng tôi?
- Cái hồ có cái gì vậy chú? – Tôi hỏi để giải tỏa thắc mắc.
- Cháu không nghĩ rằng chỉ có chú và Ella đến tìm cháu đấy chứ, phải không?
Trong khoảnh khắc, tôi nghĩ đến chuyện phải cho người đàn ông này biết rằng cho đến vài tiếng đồng hồ trước, tôi vẫn còn cho rằng chú đến là để kết liễu tính mạng của tôi. Nhưng bất thình lình, bọn Mogadore lại xuất hiện ở phía sau chúng tôi. Chú Crayton quay phắt lại, trong lúc đôi mắt của Héctor lướt lên kính chiếu hậu.
- Sắp đến rồi đấy – Chú Crayton thông báo.
- Mình sẽ thoát khỏi nó nhỉ, Papa – Ella lên tiếng, quay sang nhìn chú Crayton. Nghe thấy cô bé gọi người đàn ông như vậy, trong tôi cồn lên một cảm giác yêu mến. Chú Crayton mỉm cười một cách ấm áp với bé con, rồi gật đầu – Ella siết lấy tay tôi – Rồi chị sẽ thích Olivia cho mà xem – Em cam đoan với tôi.
- Olivia là ai? – Tôi thắc mắc, nhưng Ella không kịp trả lời, con đường bỗng ngoặt chín mươi độ và dốc thẳng xuống hồ.
- Bé con vẫn nắm chặt tay tôi cho đến cuối đường, và Héctor chỉ chịu buông chân ga khi chiếc xe tải đã tông thẳng vào cánh cổng mắt lưới bao quanh hồ. Chúng tôi bị xóc, bốn bánh xe bay bổng lên khỏi mặt đất rồi đáp xuống đất đánh “ầm” nảy trên bờ hồ. Héctor vẫn cho xe lao thẳng tới, và trước khi kịp chạm mí nước, anh ta dặp gấp thắng, khiến chiếc xe trượt thêm một khoảng nữa mới chịu dừng lại hẳn. Chú Crayton ầy vai mở cánh cửa bên ghế phụ lái rồi lao về phía hồ, chạy thẳng xuống nước cho đến khi ước ngập đến đầu gối. Với khẩu súng vẫn ở trong tay trái, dùng bàn tay phải, chú ném một vật nào đó ra xa đến mức tối đa và lầm bầm điều gì đó bằng thứ tiếng lạ lẫm, tôi không sao hiểu được.
- Nào! – Chú hét lên, huơ hai tay lên cao như khích lệ - Nào, Olivia!
Héctor, Ella và tôi nhào ra khỏi xe, cùng chạy bủa đến bên cạnh chú Crayton. Tôi cắp theo chiếc Hộp và trong chốc lát, tôi trông thấy mặt nước bắt đầu mấp mô và sủi bọt ở giữa hồ.
- Chị Marina, chị có biết Chimæra là gì không?
Tôi không thể trả lời, bởi chiếc xe của bọn Mogadore, một chiếc Humvee kiên cố như xe tăng có trang bị một khẩu súng trên nóc, bất chợt xuất hiện và đang phóng xuống đồi. Ngay khi chiếc xe vừa đến được chỗ chúng tôi, thì dưới nước, chú Crayton xả súng liên tục vào ô cửa kính chắn gió của nó. Ngay lập tức, chiếc xe mất sự kiểm soát, tông thẳng vào đuôi xe tải của Héctor. Không gian vang lên một tiếng ầm inh tai, kèm theo đó là tiếng kim loại bị nghiến và tiếng thủy tinh vỡ. Thế rồi hàng tá xe khác bắt đầu phóng xuống ngọn đồi cuối cùng và nã đạn. Cả thế giới như chìm trong khói lửa; các vụ nổ làm rung chuyển bãi bờ, khiến cho cả bốn chúng tôi bị hất văng lên khỏi mặt đất. Cát và nước trút xuống như mưa, và khi chúng tôi vừa mới lồm cồm đứng dậy được thì chú Crayton đã túm lấy cổ áo tôi.
- Đi ra khỏi chỗ này ngay! – Chú hét lên.
Tôi nắm lấy tay Ella, chạy hết sức bình sinh về phía mé trái hồ. Chú Crayton bắt đầu trút đạn; nhưng tôi nghe tiếng đạn không phải được bắn ra từ một khẩu súng, mà là những hai khẩu. Tôi hy vọng rằng chính ngón tay của Héctor đã siết vào cò súng thứ hai ấy.
Hai chị em tôi phi thẳng về phía bụi cây đang nhoài mình xuống khỏi sườn núi, thò ra tới tận mép nước. Những bước chân của chúng tôi nhịp xuống nền đá ướt, và bước chạy của Ella cũng ngang tầm với tốc độ của tôi. Tiếng súng vẫn vang lên đì đùng khắp bốn bề; sau đó không lâu, âm thanh ấy bị lạc đi giữa tiếng gầm rền vang của một con thú, lồng lộng trên đầu chúng tôi, khiến tôi hốt nhiên đứng sững lại. Như một phản xạ tức thì, tôi ngoái đầu lại nhìn nhân vật vừa tạo ra cái tiếng gầm làm tê liệt mọi hoạt động ấy, và cảm nhận được rằng nó không thuộc về thế giới này. Trước mắt tôi, một chiếc cổ dài, chắc nịch, đang nhô cao khoảng mười, mười lăm tầng nhà lên khỏi mặt nước, và ngự trị trên chiếc cổ ấy là cái đầu của một con thằn lằn khổng lồ có nước da màu xám bóng nhảy, đang ngoắc đôi mắt xù xì ra, để lộ những chiếc răng to lớn.
- Olivia! – Ella reo lên.
Olivia ngã đầu ra sau và buông ra thêm một tiếng gầm đinh tai nhức óc khác; nhưng rồi ở giữa chừng tiếng gầm ấy, hàng loạt những âm thanh the thé bỗng cất lên và tỏa xuống sườn núi. Ngẩng đầu lên, tôi trông thấy những con thú nhỏ đang chạy nhào xuống hồ.
Tôi thở dốc.
- Những con đó là gì vậy? – Tôi hỏi Ella.
- Những con kraul đó. Nhiều quá.
Giờ thì chiếc cổ của Olivia đã nhô lên cao bằng ba mươi tầng nhà, toàn bộ thân hình của nó cũng cất lên khỏi mặt nước, chiếc cổ rộng ra trên cái thân mình đồ sộ. Bọn Mogadore bắt đầu nã súng vào người con vật, và Oliva quét đầu xuống vài bận khiến tro bụi bay mù mịt. Tôi có thể nhận ra hai cái bóng đen là chú Crayton và Héctor, cả hai người đang ra sức trút đạn như mưa. Bọn Mogadore bắt đầu lùi về phía sau khi một trăm con kraul bắt đầu ùa xuống hồ, bơi về phía Oliva. Những sinh vật đó nhào lên khỏi mặt nước và tấn công, chúng cào lên lưng Olivia, thi nhau cắn vào chân, vào cổ con vật. Mặt nước chỉ trong phút chốc đã loang đầy máu.
- Không! – Ella thét lên.
Cô bé cố quay trở lại, nhưng tôi thộp lấy cánh tay của em.
- Chúng ta không thể trở lại được đâu – Tôi ngăn cản Ella.
- Olivia.
- Như thế là tự sát đấy Ella. Chúng đông quá.
Olivia gào lên vì đau. Cái đầu của con thủy quái đong đưa qua lại hai bên thân và lưng nó, nó húc cổ và cắn xé những con kraul đen xì đang bâu kín lấy nó. Chú Crayton chĩa súng vào những con quái vật, nhưng lại phải hạ vũ khí xuống khi nhận ra rằng làm như vậy, chú rất có thể sẽ bắn trúng Olivia. Thay vì vậy, người hộ vệ của chúng tôi lại cùng Héctor nỗ lực trút đạn vào đội quân Mogadore đang sắp thành hàng chuẩn bị cho một đợt tấn công mới.
Olivia tiếp tục vùng vẫy, nó hướng vào những quả núi xung quanh mà gầm lên rồi hạ mình xuống trở lại ở giữa hồ; nó từ từ chìm xuống, tạo nên một con sóng đỏ ngầu. Bầy kraul giãn ra và bơi trở lại về phía những tên Mogadore.
- Không! – Tôi nghe thấy tiếng chú Crayton thét lên, át tất cả những âm thanh của sự hỗn loạn. Tôi thấy chú cố chạy xuống hồ nhưng Héctor đã lôi chú trở lại trên bờ.
- Hụp xuống! – Đến lượt Ella thét lên, cầm tay kéo tôi xuống.
Có tiếng gió rít qua đầu chúng tôi. Rồi một bàn chân móng guốc đen đúa, khổng lồ nện xuống đất ngay bên cạnh tôi, ngẩn đầu lên, tôi nhận ra một con quái vật có sừng. Cái đầu của nó vừa to bằng chiếc xe tải của Héctor, và khi con quái vật ấy rú lên, tóc tôi bay phần phật, quất cả vào mặt.
- Nào! – Tôi hét váng lên. Cả hai chị em chúng tôi đều chạy ra phía những thân cây.
- Tách nhau ra đi! – Ella đề xướng.
Tôi gật đầu và co chân chạy về hướng bên trái, nhắm thẳng về phía một cây sồi cổ thụ có nhiều mấu. Sau đó, tôi đặt chiếc Hộp xuống, đoạn, như một phản ứng từ nhiên, tôi đưa hai tay lên và dang ra. Và trước sự ngạc nhiên của chính bản thân tôi, thân cây mở ra, tạo thành một khoảng trống đủ chỗ trú cho hai người chùng chiếc Hộp gỗ.
Nhìn qua mé vai, tôi trông thấy con quái vật đang theo đuổi Ella trong lùm cây rậm rạp. Bỏ chiếc Hộp vào thân cây, tôi dùng siêu năng lực nhổ hai thân cây lên và dùng chúng như hai quả tên lửa ném thẳng vào lưng con quái vật khổng lồ. Hai thân cây đâm thẳng vào lớp da đen nhánh, mau chóng gãy nát, kèm theo một tiếng va chạm chói tai, khiến cho con quái vật khuỵu gối xuống. Tôi chạy lại, nắm lấy cánh tay run rẩy của Ella, kéo cô bé chạy sang hướng khác, nhắm về phía cây sồi có chiếc Hộp của tôi.
- Cái cây, Ella! Chui vào trong! – Tôi gào lên. Bé con ngồi lên trên chiếc Hộp và cố gom người lại đến mức tối đa. Em đã thu gọn cơ thể lại thành một cô bé nhỏ tuổi hơn.
- Nó là con piken đó, chị Marina! Chị vào trong đi! – Bé con khẩn khoản yêu cầu; nhưng trước khi em kịp nói thêm một lời nào khác, tôi đã làm khép thân cây lại để bao lấy em, chỉ chừa lại một khoảng trống đủ để cho em có thể quan sát.
- Chị xin lỗi – Tôi lên tiếng qua khe hở, hi vọng rằng con quái vật không lồ không nghe thấy nơi tôi cất giấu chiếc Hộp lẫn người bạn nhỏ của tôi.
Tôi quay người lại bỏ chạy, cố dẫn dụ con piken ra hướng khác, và chẳng mấy chốc, con quái vật đã đuổi kịp tôi, nó tông thẳng tôi từ đằng sau. Lực va chạm thậtt đáng sợ, tôi lăn xuống dốc cho tới lúc cánh tay quở trúng một tảng đá để bám vào. Nhìn qua mé vai, tôi nhận ra mình cón cách vách đá chưa đầy một mét.
Con piken xuất hiện ở ngay đầu dốc. Nó dịch bước sang bên cạnh cho đến lúc đứng ngay bên trên người tôi. Nó gầm lên lớn đến nỗi đầu óc tôi trong giây lát trở nên trống rỗng. Từ phía xa, tôi nghe thấy tiếng Ella thét gọi tên mình, nhưng tôi thở còn không nỗi, huống chi là lên tiếng hồi âm.
Và con piken lừng lững bước xuống dốc. Tôi đưa một tay lên nhổ bật gốc một thân cây thuôn mảnh ở gần đó, đoạn phóng thẳng vào ngực con quái vật. Thân cây xuyên thẳng vào ngực con piken, đủ để nó mất thăng bằng và đổ vật sang một bên, con quái vật rú lên và lăn sầm sập về phía tôi. Tôi khép mắt lại, chờ đợi cú va đập; nhưng thay vì đâm sầm vào tôi với sức nặng đáng nể rồi hất tôi văng ra khỏi vách đá, cả thân hình to lớn của con quái vật tông thẳng vào tảng đá mà tôi đang đu mình và bay qua khỏi người tôi. Tôi ngoái đầu lại, quan sát con piken rơi xuống khỏi vách đá.
Cuối cùng, tôi có thể định thần để cất mình lên con dốc. Rồi tôi chạy bổ về phía cây sồi – về phía Ella cùng chiếc Hộp của mình – Thế rồi tôi ghi nhận được tiếng phát hỏa của khẩn thần công vào thời khắc trước khi lãnh trọn cú bắn. Không còn kiểm soát được một thứ gì, tôi lắn xuống, quằn quại vì đau đớn.
- Chị Marina – Tôi nghe thấy tiếng Ella gào lên.
Tôi trở mình nằm ngửa, ngó trân trân lên bầu trời. Máu trào ra khỏi miệng và mũi tôi. Tôi nếm được. Tôi ngửi được. Có vài con chim đang quần ở trên cao. Trong lúc chuẩn bị từ giã cõi đời, tôi quan sát bầu trời đang vần vũ với những đám mây đen trĩu nặng. Mây dồn lại và cuộn lên nhau, phập phồng như đang thở. Có lẽ tôi đang gặp ảo giác, nên nhìn thấy những ảo ảnh trước khi lìa đời. Thế rồi một giọt nước lớn bỗng rơi xuống má phải cảu tôi. Tôi chớp mắt khi một giọt nước khác rơi xuống mắt; và một tia sáng lóe lên, chẽ bầu trời ra làm hai.
Một tên Mogadore cao lớn trong bộ giáp vàng – đen đang đứng sừng sững ngay bên cạnh tôi, mỉm cười. Ấn khẩn thần công vào màng tai của tôi, gã Mogadore ấy phun một bãi nước bọt xuống đất; tuy nhiên; trước khi siết cò, hắn đã ngẩng mặt lên nhìn cơn bão đang ùn ùn kéo đến. Nhanh như cắt, tôi đặt hai tay lên vết thương đang nứt toạc trên bụng, cảm nhận hơi lạnh quen thuộc đang trào lên dưới da. Và mưa trút xuống người tôi vào thời khắc mây đã trở thành một bức tường vững chãi, đen kịt.