Nabari nheo mắt lại, thị lực của ông không còn được như thời trai trẻ, nhưng vẫn tốt hơn người thường rất nhiều.
Ông không biết tên của loài mèo hoang này, nhưng hình ảnh của chúng hoàn toàn trùng khớp với những gì ông còn nhớ trong ký ức, đồng thời còn lấp đầy những mảnh ký ức mơ hồ trước đó.
Lúc này, vị vốn luôn nghiêm nghị như ông, khóe miệng bất chợt lộ ra một nụ cười. Tâm cảnh trở nên trong trẻo và nhẹ nhàng, ông rũ bỏ mọi trách nhiệm cùng gánh nặng, thậm chí cảm thấy bản thân chưa bao giờ được thần linh phù hộ đến thế.
Cuộc đời ông gần như đã viên mãn, chỉ cần đưa mọi người rời khỏi sa mạc một cách an toàn là coi như đã thực sự trọn vẹn.
Tâm trạng của Vệ Khang thì lại khác hẳn với Nabari, anh phấn khích đến mức lo lắng không biết mình có bị đột quỵ vì đau tim hay không.
Anh lắp chân máy, liên tục bấm nút chụp yên lặng. Mặc dù do ánh sáng mờ ảo nên tỉ lệ ảnh nhòe rất cao, nhưng mỗi một tấm hình đều là tư liệu vô cùng quý giá.
Đây có phải là mèo Ai Cập nguyên thủy không?
Anh không rõ, cũng không dám khẳng định, vì rốt cuộc thế nào mới là mèo Ai Cập nguyên thủy? Vẫn chưa có một định nghĩa chính xác nào cả.
Con người bắt đầu có ý thức nhân giống chọn lọc mèo nhà, tạo ra màu lông và thể hình như ý muốn, tính đến nay cũng chưa quá 200 năm, trong khi đó, loài người đã bắt đầu chủ động nhân giống chó từ hàng nghìn năm trước rồi.
Điều anh muốn tìm kiếm là những giống mèo mang tính chất chuyển tiếp trong lịch sử tiến hóa của mèo nhà, anh tin rằng những giống mèo như vậy rất có khả năng tồn tại ở Ai Cập.
Cũng giống như cáo Fennec là loài động vật thuộc họ Chó nhỏ nhất, mèo cát là một trong những loài thuộc họ Mèo nhỏ nhất. Có lẽ các loài động vật có vú trong sa mạc chỉ có thể cố gắng thu nhỏ kích thước cơ thể mới có thể sống sót.
Mèo cát là họ hàng rất gần với mèo nhà, được biết đến là có bốn phân loài. Trong đó, phân loài ở Pakistan đã tuyệt chủng từ vài chục năm trước, còn phân loài ở Bắc Phi thì trước đây mọi người luôn cho rằng chỉ tồn tại trong một khu vực nhỏ ở đông nam Ai Cập. Thế nhưng, lúc này Vệ Khang lại phát hiện ra một phân loài mới ở vùng biên giới phía tây Ai Cập giáp với Libya.
Nơi đây nằm sâu trong đại sa mạc Sahara, cách xa cả ốc đảo Siwa và ốc đảo Kufra. Hơn nữa, nơi này nhiều năm trước hẳn từng là một ốc đảo không được ghi chép trong sử sách hay truyền thuyết. Có lý do để tin rằng, những con mèo cát này đã sống ở đây từ hàng nghìn năm trước, biệt lập với thế giới bên ngoài trong suốt quãng thời gian đằng đẵng, giống như nước Úc nằm tách biệt ngoài khơi xa, giữ gìn được tính độc lập của loài ở mức độ cao nhất.
Nói những con mèo cát này là hóa thạch sống có lẽ hơi khoa trương, nhưng chúng thực sự là một loài vô cùng nguyên thủy.
Tương tự như các loài mèo cát khác, tai của chúng rất to, lớn hơn mèo nhà thông thường. Về ngoại hình thì không quá khổ như tai của cáo Fennec, nhưng cấu tạo bên trong đã khác biệt với mèo nhà thông thường, thính giác cực kỳ phát triển.
Khuôn mặt chúng không nhọn cũng không tròn trịa, lông khiến cằm chúng trông như mặt cắt dọc của một cái bát, gần giống hình thang ngược. Trên thân phân bố các vằn cá thu rất nhạt, nhạt đến mức gần như khó nhận ra trong màn đêm, chỉ có hai chân trước là mỗi bên có hai vòng đen khá rõ ràng.
Động tác của Vệ Khang tuy rất khẽ, nhưng việc dựng chân máy và lắp đặt máy ảnh khó tránh khỏi gây ra tiếng động. Anh nghĩ rằng mấy con mèo cát thính tai này đã nghe thấy sự hiện diện của họ, nhưng không hiểu sao chúng lại không chọn cách bỏ chạy.
Đúng rồi, chắc chắn là vì sự hiện diện của Phina.
Vệ Khang vừa mừng vừa lo nhìn Phina, may mà lần này đến Ai Cập đã mang theo nó, nếu không chắc chắn là tay trắng trở về. Đồng thời, anh cũng cầu mong Phina đừng tiếp xúc cơ thể với lũ mèo cát, nếu không có thể sẽ bị lây nhiễm vi khuẩn, bởi vì những con mèo cát này sống ở đây lâu ngày nên cơ thể đã sản sinh kháng thể, còn Phina thì không.
Anh không hề biết rằng, Phina trước đây cũng từng sống ở nơi này.
Vị trí đặt máy ảnh hồng ngoại có rất nhiều cành cây khô trơ trọi, lũ mèo cát này không có hứng thú với việc leo trèo. Ngay cả khi nô đùa có nhảy lên cây, chúng cũng chỉ ôm lấy thân cây không nhúc nhích, rồi thả móng vuốt nhảy xuống. Dường như chúng không biết leo cây, hoặc ít nhất là không giỏi leo trèo.
Ngược lại, Vệ Khang phát hiện chúng không phải đang đùa giỡn đơn thuần, mà là vừa đùa nghịch vừa đào cát. Thỉnh thoảng chúng bới được một loại động vật nhỏ nào đó trong cát rồi ăn thịt, thậm chí vì tìm thức ăn mà đào thành một cái hố cạn rồi chui vào trong, sau đó lại đầu tóc dính đầy cát chui ra, miệng ngậm một con thằn lằn cát đang quẫy đạp, nhai vài cái rồi nuốt chửng.
Loài mèo không giỏi leo cây, nhưng lại giỏi đào cát.
Để ngăn cách nhiệt độ cao khi đi trên cát, dưới đệm thịt ở chân chúng mọc lớp lông dày, móng vuốt sắc bén không thể thu lại như các loài mèo khác mà luôn để lộ ra ngoài, có lẽ chính là để phục vụ việc đào cát.
Về lý thuyết, mèo cát phân bố rộng rãi, trải dài khắp lục địa Á - Phi, nhưng trên thực tế, con người đã vài năm không nhìn thấy mèo cát sống trong tự nhiên. Hầu như không biết gì về số lượng quần thể của loài động vật quý hiếm này, càng không có nhà khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về mèo cát, những nghiên cứu liên quan đến tập tính nhóm và thói quen của chúng gần như bằng không. Không phải các nhà khoa học không nỗ lực, mà là thực sự không tìm thấy mèo cát hoang dã, ngay cả ảnh của mèo cát cũng chỉ là vài tấm ảnh cũ được chụp từ nhiều năm trước đem ra dùng đi dùng lại.
Vệ Khang không màng đến danh vọng và vinh quang mà phát hiện lần này mang lại, anh tập trung dùng mắt và máy ảnh để ghi lại từng cử động của chúng, bởi vì không ai biết bao giờ chúng sẽ biến mất khỏi tầm mắt.
Anh chỉ có một nỗi tiếc nuối nhỏ, giá như vừa nãy đánh thức đám sinh viên dậy thì tốt biết mấy, để chúng cũng được tận mắt chiêm ngưỡng những sinh vật quý hiếm này.
Anh chưa từng nghĩ đến việc bắt giữ chúng để mang về nước, vì tập tính hay chui vào cát của mèo cát khiến cấu tạo hệ hô hấp của chúng khác với mèo nhà thông thường. Chúng không thích nghi được với không khí bên ngoài sa mạc, một trận cảm cúm nhẹ cũng có thể lấy mạng chúng.
Chúng nên sống ở nơi này, tiếp tục sinh tồn mà không bị người khác làm phiền.
Vì thế, trong phần cài đặt máy ảnh, anh đã tắt thông tin GPS của ảnh, nếu không, những kẻ săn trộm và buôn lậu ùn ùn kéo đến sẽ khiến phân loài chưa rõ số lượng này tuyệt chủng trong thời gian ngắn.
Mèo cát rất nhát gan, nhưng đây có lẽ là lần đầu tiên chúng nhìn thấy con người, nên không biết con người đáng sợ thế nào. Một con mèo cát dạn dĩ bị sự tò mò chi phối đã chạy về phía này vài bước, lại gần hơn một chút, mở to đôi mắt nhìn chằm chằm Vệ Khang.
Vệ Khang chĩa ống kính về phía nó, liên tục nhấn nút chụp.
Một lát sau, nó mất hứng thú với người đàn ông trung niên hơi hói này, quẫy đuôi quay về phía đồng bọn.
Ngay khoảnh khắc nó quay người, màn trập đã bắt trọn một tấm ảnh khá rõ nét, những đốm nhỏ rất nhạt phân bố ở bên hông nó.
Mèo cát vừa có vằn cá thu vừa có đốm?
Tim Vệ Khang như ngừng đập một nhịp, anh muốn thông báo với cả thế giới niềm vui sướng lúc này của mình, vì các phân loài mèo cát khác đều chỉ có vằn cá thu chứ không có đốm.
Dù vẫn còn chờ xem ảnh gốc trên máy tính mới có thể khẳng định, nhưng anh đã có nắm chắc tới bảy tám phần, rằng mình đã đạt được mục tiêu của chuyến đi này.
Anh quay đầu cười với Trương Tử An, dường như muốn bày tỏ điều gì đó, có lẽ là muốn làm khẩu hình chữ "cảm ơn".
Ngay lúc này, sâu trong Biển Ma Quỷ truyền đến một tiếng ầm vang như tiếng sấm nổ, khiến cả mặt đất cũng khẽ rung chuyển.