Thằng Ngốc

Lượt đọc: 111 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I.

❊ ❊ ❊

Gia đình Epanchin, hoặc ít nhất là những thành viên nghiêm túc hơn trong nhà, đôi khi cảm thấy phiền lòng vì họ dường như quá khác biệt với phần còn lại của thế giới. Họ không dám chắc chắn, nhưng đôi khi có một nỗi hoài nghi sâu sắc rằng mọi chuyện không hề diễn ra với họ theo cách mà chúng xảy ra với người khác. Người ta có một cuộc đời bình lặng, êm đềm, trong khi họ lại liên tục vướng vào những biến động không ngớt. Người ta vẫn đi đúng đường một cách dễ dàng; còn họ thì chệch hướng ngay trước chướng ngại vật nhỏ nhất. Những gia đình khác được quản lý bởi một nề nếp rụt rè; còn nhà họ thì lại khác biệt theo một cách nào đó. Có lẽ chỉ một mình Lizabetha Prokofievna là đưa ra những nhận xét đầy bức bối này; các cô con gái, dẫu không thiếu thông minh, nhưng vẫn còn quá trẻ; viên tướng cũng thông minh, nhưng lại nông cạn, và trong mọi rắc rối, ông chỉ bằng lòng thốt lên: "Hừm!", rồi phó mặc mọi chuyện cho vợ. Hậu quả là trách nhiệm đều đổ lên đầu bà.

Không phải là gia đình họ nổi bật bởi bất kỳ sự độc đáo kỳ lạ nào, hay những bước đi chệch đường của họ dẫn đến bất kỳ sự vi phạm phép lịch sự nào. Ồ không.

Chẳng có gì là có sự chuẩn bị từ trước, thậm chí chẳng có bất kỳ mục đích có ý thức nào trong tất cả chuyện đó, thế mà, bất chấp tất cả, gia đình ấy dẫu rất được kính trọng, lại không hẳn là một gia đình đáng kính theo đúng chuẩn mực. Từ lâu, Lizabetha Prokofievna đã đinh ninh rằng mọi rắc rối là do “tính cách bất hạnh” của chính bà gây ra, và điều này càng làm tăng thêm nỗi thống khổ của bà. Bà tự trách sự “kỳ quặc” ngu ngốc và phá cách của chính mình. Luôn bồn chồn, luôn tất bật, bà dường như liên tục lạc lối, và vướng vào rắc rối ngay trong những vấn đề đơn giản và bình thường nhất của cuộc sống.

Chúng ta đã nói ở phần đầu câu chuyện rằng nhà Epanchin rất được láng giềng yêu mến và kính trọng. Bất chấp xuất thân khiêm tốn của mình, bản thân Ivan Fedorovitch vẫn luôn được đón tiếp ở mọi nơi với sự kính trọng. Ông xứng đáng nhận được điều đó, một phần nhờ vào sự giàu có và địa vị của mình, một phần vì dẫu có phần hạn hẹp, ông thực sự là một người rất tốt bụng. Thế nhưng, một mức độ hạn chế về trí tuệ dường như lại là một tài sản không thể thiếu, nếu không muốn nói là đối với mọi nhân vật công chúng, thì ít nhất cũng đối với tất cả những nhà tài chính nghiêm túc. Thêm vào đó, phong thái của ông rất khiêm nhường và nhún nhường; ông biết khi nào nên giữ im lặng, nhưng không bao giờ cho phép người khác trà đạp lên mình. Hơn nữa—và điều này quan trọng hơn tất cả—ông có lợi thế là được bảo trợ bởi những nhân vật cao quý.

Còn về phần Lizabetha Prokofievna, như độc giả đã biết, bà thuộc về một gia đình quý tộc. Quả thực, người Nga thường coi trọng những mối quan hệ có thế lực hơn là dòng dõi, nhưng bà lại có cả hai. Bà được kính trọng và thậm chí được yêu mến bởi những nhân vật có thế thế trong xã hội, những người mà hành động tiếp đón bà đã trở thành tấm gương để người khác noi theo. Dường như chẳng cần phải nhấn mạnh rằng những lo âu và phiền muộn trong gia đình bà hầu như không có cơ sở, hoặc sự tưởng tượng của bà đã phóng đại chúng lên một mức độ vô lý; nhưng nếu bạn có một nốt ruồi trên trán hay trên mũi, bạn sẽ tưởng tượng rằng cả thế giới đang nhìn chằm chằm vào nó, và mọi người sẽ chế nhạo bạn vì nó, ngay cả khi bạn vừa tìm ra châu Mỹ! Không còn nghi ngờ gì nữa, Lizabetha Prokofievna bị coi là “kỳ quặc” trong xã hội, nhưng bà vẫn được kính trọng như trước: điều đáng tiếc là bà đang dần đánh mất niềm tin vào sự kính trọng đó. Khi nghĩ về các cô con gái của mình, bà đau đớn tự nhủ rằng bản thân là một kẻ cản trở chứ chẳng phải giúp ích gì cho tương lai của chúng, rằng tính tình và sự nóng nảy của bà thật ngớ ngẩn, lố bịch và không thể chịu đựng nổi. Dĩ nhiên, bà trút nỗi bực dọc lên hoàn cảnh xung quanh, và từ sáng đến tối lại cãi nhau với chồng cùng các con—những người mà thực ra bà yêu thương đến mức hy sinh cả bản thân, thậm chí, có thể nói là đến mức say đắm.

Trên hết, bà bị dằn vặt bởi ý nghĩ rằng các cô con gái của mình có thể lớn lên sẽ trở nên “kỳ quặc” giống như bà; bà tin rằng không có tiểu thư con nhà gia thế nào giống như họ cả. “Chúng đang dần biến thành những kẻ theo chủ nghĩa Nihilist mất thôi!” bà lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác. Suốt nhiều năm trời, bà tự hành hạ bản thân với ý nghĩ này, cùng câu hỏi: “Tại sao chúng mãi không chịu lấy chồng?”

“Chúng làm thế là để chọc tức mẹ; đó là mục đích duy nhất trong đời chúng; chẳng thể vì lý do nào khác. Thực chất thì chuyện này cũng một guộc với những tư tưởng hiện đại kia, cái câu hỏi của người đàn bà khốn nạn ấy! Sáu tháng trước, Aglaya bỗng nổi hứng cắt đi mái tóc tuyệt đẹp của nó. Chà, ngay cả tôi hồi trẻ cũng chẳng có mái tóc nào sánh bằng! Cái kéo nằm trong tay nó, và tôi đã phải quỳ xuống lạy lục nài nỉ... Nó làm thế, tôi biết thừa, chỉ vì muốn giở trò nghịch ngợm để chọc tức mẹ thôi, vì nó là một đứa con gái hư hỏng, hay hờn dỗi, một đứa trẻ được chiều chuộng đến hư hỏng, cay độc và bướng bỉnh đến cùng cực! Thế rồi Alexandra lại muốn cạo trọc đầu, không phải vì hứng chí hay nghịch ngợm gì, mà như một con nhỏ ngốc nghếch, chỉ vì Aglaya thuyết phục rằng không có tóc thì nó sẽ ngủ ngon hơn và không bị đau đầu! Và trong năm năm qua, chúng đã có biết bao nhiêu kẻ dạm hỏi! Toàn những đám tuyệt vời đấy chứ! Chúng còn muốn gì nữa cơ chứ? Sao chúng không chịu lấy chồng? Chẳng vì lý do gì ngoài việc muốn chọc tức mẹ—chẳng vì lý do nào khác—không một lý do nào khác!”

Nhưng Lizabetha Prokofievna cảm thấy được an ủi phần nào khi có thể nói rằng một trong số các cô con gái, Adelaida, cuối cùng cũng đã yên bề gia thất. “Thế là bớt đi được một gánh nặng!” bà lớn tiếng tuyên bố, dù ở riêng, bà lại bộc lộ sự dịu dàng hơn. Cuộc đính ước vừa hạnh phúc vừa môn đăng hộ đối, và do đó rất được xã hội tán thành. Hoàng tử S. là một người nổi tiếng, có tiền tài, và người vợ tương lai của ông thì hết lòng tận tụy với ông; còn mong gì hơn thế nữa? Tuy nhiên, Lizabetha Prokofievna cảm thấy ít lo lắng hơn đối với cô con gái này, dù bà cho rằng gu thẩm mỹ nghệ thuật của nó có điều gì đó đáng ngờ. Nhưng bù lại, đúng như lời mẹ miêu tả, nó là đứa “vui vẻ” và có thừa “sự khôn ngoan thông thường”. Tương lai của Aglaya mới là điều khiến bà bận tâm nhất. Còn về cô con gái cả Alexandra, người mẹ chẳng bao giờ biết chắc có lý do gì để lo lắng hay không. Thỉnh thoảng bà cảm thấy như chẳng thể trông mong gì ở nó. Nó đã bước sang tuổi hai mươi lăm, và chắc chắn có số mệnh làm gái lỡ thì, lại còn “với nhan sắc nhường ấy chứ!” Người mẹ đã trải qua cả đêm dài khóc lóc và than thở, trong khi ngọn nguồn nỗi buồn của bà vẫn đang yên giấc nồng. “Nó bị làm sao thế nhỉ? Nó là kẻ theo chủ nghĩa Nihilist, hay chỉ đơn giản là một con ngốc?”

Nhưng Lizabetha Prokofievna thừa biết câu hỏi sau hoàn toàn thừa thãi đến mức nào. Bà đánh giá rất cao khả năng phán đoán của Alexandra Ivanovna, và thường xuyên tham khảo ý kiến nó mỗi khi gặp khó khăn; thế nhưng, bà chưa bao giờ hoài nghi việc nó đích thực là một “con gà mái ướt”. “Nó điềm tĩnh quá chừng; chẳng có gì làm nó lay động được—dù rằng gà mái ướt thì đâu phải lúc nào cũng điềm tĩnh! Ồ! Ta không tài nào hiểu nổi!” Cô con gái cả đã khơi gợi ở Lizabetha một thứ lòng thương cảm đầy khó hiểu. Bà không cảm thấy điều này ở trường hợp của Aglaya, dù đứa sau mới là thần tượng của bà. Có thể nói rằng những cơn bùng nổ và những biệt danh kiểu như “gà mái ướt” (thứ vốn thường thể hiện sự quan tâm lo lắng của người mẹ) chỉ khiến Alexandra phì cười. Thỉnh thoảng, những chuyện cỏn con nhất cũng khiến bà Epanchin bực bội và đẩy bà đến bờ vực cuồng nộ. Chẳng hạn, Alexandra Ivanovna thích ngủ nướng và lúc nào cũng mơ mộng, dù những giấc mơ của nó có điểm đặc biệt là ngây thơ và khờ khạo như trẻ con lên bảy; và chính sự ngây thơ trong những giấc mơ ấy lại làm người mẹ phát bực. Có lần nó mơ thấy chín con gà mái, và đây là nguyên nhân gây ra một cuộc cãi vã khá nghiêm trọng—chẳng ai hiểu vì sao. Lại có lần nó mơ thấy—một chuyện cực kỳ hiếm hoi—một giấc mơ có chút ít tính nguyên bản. Nó mơ thấy một vị tu sĩ trong căn phòng tối, nơi mà nó quá sợ hãi không dám bước vào. Adelaida và Aglaya liền hớt hải chạy đi kể lại chuyện này với tiếng cười khúc khích cho mẹ nghe, nhưng bà lại nổi giận đùng đùng và mắng tất cả các con đều ngốc như bò.

“Hừm! Nó ngốc chẳng kém gì kẻ đần! Đích thị là một ‘con gà mái ướt’! Chẳng có gì làm nó phấn khích nổi; thế mà nó lại chẳng hạnh phúc; có những ngày nhìn nó thôi cũng đủ phát bực rồi! Tự hỏi sao nó lại bất hạnh thế cơ chứ?” Thỉnh thoảng, Lizabetha Prokofievna lại đem câu hỏi này ra chất vấn chồng, và như thường lệ, bà nói bằng giọng điệu đầy đe dọa của kẻ đang đòi một câu trả lời ngay lập tức. Ivan Fedorovitch sẽ cau mày, nhún vai, và cuối cùng đưa ra ý kiến của mình: “Nó cần một người chồng!”

“Chúa phù hộ để hắn ta không chia sẻ những ý tưởng của ông, hỡi Ivan Fedorovitch!” vợ ông lập tức đốp chát lại. “Hay là thô tục và cục cằn như ông!”

Viên tướng liền chuồn lẹ ngay lập tức, và một lát sau Lizabetha Prokofievna lại bình tĩnh trở lại. Đêm hôm đó, dĩ nhiên, bà sẽ tỏ ra vô cùng ân cần, dịu dàng và kính trọng đối với người chồng “thô tục và cục cằn” của mình, người “Ivan Fedorovitch thân yêu, tốt bụng” của bà, bởi vì bà chưa bao giờ ngừng yêu ông. Bà thậm chí vẫn còn đang “phải lòng” ông. Ông thừa biết điều đó và về phần mình, ông dành cho bà sự kính trọng lớn nhất.

Nhưng nỗi lo lắng lớn lao và thường trực của người mẹ chính là Aglaya. “Nó giống hệt tôi—là bản sao của tôi trong mọi chuyện,” bà Epanchin tự nhủ. “Một bạo chúa! Đích thị là một con quỷ nhỏ! Một kẻ theo chủ nghĩa Nihilist! Kỳ quặc, vô lý và nghịch ngợm! Chúa ơi, nó sẽ bất hạnh biết nhường nào!”

Nhưng như chúng ta đã nói trước đó, việc Adelaida sắp kết hôn chính là liều thuốc xoa dịu tâm hồn người mẹ. Suốt cả một tháng trời, bà quên sạch mọi nỗi sợ hãi và lo lắng.

Số phận của Adelaida đã được định đoạt; và đi kèm với tên của con bé là tên của Aglaya trong những lời bàn tán của xã hội. Người ta xì xào rằng Aglaya cũng “gần như đã đính ước”; và Aglaya lúc nào cũng trông vô cùng ngọt ngào lại cư xử cực kỳ ngoan ngoãn (trong giai đoạn này), khiến trái tim người mẹ tràn ngập niềm vui. Dĩ nhiên, Evgenie Pavlovitch cần phải được tìm hiểu thật kỹ lưỡng trước khi bước đi bước cuối cùng; nhưng quả thực, Aglaya thân yêu đã trở nên đáng yêu làm sao—con bé thực sự ngày càng xinh đẹp hơn! Và rồi—Đúng vậy, và rồi—cái tên hoàng tử đáng ghét ấy lại xuất hiện, và mọi thứ lập tức đảo lộn tùng phèo, ai nấy đều có vẻ điên cuồng như những con thỏ trong tháng Ba.

Chuyện gì đã thực sự xảy ra?

Nếu đó là bất kỳ gia đình nào khác ngoài nhà Epanchin, thì chẳng có chuyện gì đặc biệt xảy ra cả. Nhưng nhờ vào bản tính hay lo xa và số sắng thái quá của bà Epanchin, dù chỉ là một trục trặc nhỏ nhất trong những vấn đề thường ngày đơn giản nhất cũng đủ khiến bà ngay lập tức tiên đoán ra những hậu quả khủng khiếp và đáng sợ nhất, để rồi tự mình chuốc lấy đau khổ.

Vậy thì tâm trạng của bà sẽ ra sao, khi giữa vô vàn những lo âu và tai họa tưởng tượng vẫn luôn vây lấy bà, giờ đây bà lại thấy lờ mờ xuất hiện phía trước một nguyên nhân nghiêm trọng gây bực dọc—một điều thực sự có khả năng khơi dậy những nghi ngờ và hoài nghi!

“Sao chúng dám, sao chúng dám viết cái bức thư nặc danh gớm ghiếc ấy để thông báo cho ta biết rằng Aglaya đang qua lại với Nastasia Philipovna?” bà nghĩ thầm, trong lúc kéo xềnh xệch hoàng tử về nhà mình, và một lần nữa khi bắt anh ngồi vào chiếc bàn tròn nơi gia đình đã tề tựu đông đủ. “Sao chúng dám nghĩ đến một chuyện như thế chứ? Ta thà chết nhục còn hơn là nghĩ rằng trong đó có một hạt nhân sự thật, hay là đem bức thư ấy ra cho chính Aglaya xem! Kẻ nào dám đem những trò đùa giỡn này ra để giễu cợt chúng ta, nhà Epanchin? Tại sao chúng ta lại không đến Yelagin mà lại kéo về đây cơ chứ? Ta đã bảo ông là chúng ta nên đến Yelagin vào mùa hè này rồi mà, Ivan Fedorovitch. Tại ông cả đấy. Ta dám cá chính cái con Varia đó đã gửi bức thư. Toàn tại Ivan Fedorovitch cả. Ả đàn bà đó đang làm tất cả những điều này vì lão, ta biết thừa đấy mà, cốt để cho lão thấy rằng ả có thể biến lão thành một con ngốc ngay bây giờ hệt như ngày trước khi lão từng đem châu báu dâng tặng ả.

Nhưng suy cho cùng thì chúng ta cũng đã nhúng tay vào chuyện này rồi. Các cô con gái của ông đã nhúng tay vào đấy, hỡi Ivan Fedorovitch; những tiểu thư khuê các, những thiếu nữ đang tuổi cập kê; chúng đã có mặt, chúng đã nghe thấy tất cả những gì cần nghe. Chúng cũng vướng vào cái vụ lùm xùm kia nữa, với đám thanh niên khủng khiếp ấy. Ông hẳn phải nhớ là chúng đã nghe thấy tất cả. Ta không thể tha thứ cho cái tên hoàng tử khốn kiếp đó. Ta sẽ không bao giờ tha thứ cho hắn! Và xin hỏi tại sao, Aglaya lại lên cơn khủng hoảng thần kinh suốt ba ngày nay? Tại sao nó suýt cãi nhau với các chị em của mình, thậm chí cả với Alexandra—người mà nó vô cùng kính trọng đến mức lúc nào cũng hôn tay chị như thể chị là mẹ nó? Tất cả những ẩn ý của nó mà chúng ta phải đoán già đoán non là gì? Gavrila Ardalionovitch liên quan gì đến chuyện này chứ? Tại sao sáng nay nó lại tự ý đứng ra bênh vực hắn, rồi lại bật khóc nức nở vì chuyện đó? Tại sao trong bức thư nặc danh lại có ẩn ý nhắc đến cái tên ‘hiệp sĩ nghèo’ bị nguyền rủa kia? Và tại sao lúc nãy ta lại lao đến chỗ hắn như một kẻ mất trí, rồi lôi xềnh xệch hắn về đây cơ chứ? Ta tin chắc là cuối cùng mình đã phát điên mất rồi. Rốt cuộc ta vừa làm cái quái gì thế này? Đi nói chuyện với một thanh niên về những bí mật của con gái mình—mà lại là những bí mật liên quan đến chính hắn nữa chứ! Ơn Chúa, hắn chỉ là một tên ngốc, lại là chỗ quen biết trong nhà! Chắc là Aglaya chưa đến mức đem lòng yêu một kẻ ngờ nghệch thế chứ lỵ! Thật là nực cười! Phù! Lẽ ra tất cả chúng ta nên được cho vào lồng kính—trước tiên là tôi—để đem ra trưng bày như những vật kỳ lạ, thu mười kopek cho một lần ngó!

Ta sẽ không bao giờ tha thứ cho ông vì tất cả chuyện này đâu, Ivan Fedorovitch—không bao giờ! Nhìn con bé kìa. Sao nó không chế giễu hắn đi chứ? Nó bảo là nó sẽ làm thế cơ mà, vậy mà có làm đâu. Nhìn kìa! Nó trân trân nhìn hắn bằng cả đôi mắt mà chẳng nhúc nhích; thế mà chính nó là đứa bảo hắn đừng đến cơ mà. Trông mặt hắn xanh xẻo làm sao; và cái kẻ nhiều chuyện gớm ghiếc ấy, Evgenie Pavlovitch, lại độc chiếm toàn bộ câu chuyện. Chẳng ai khác chen nổi một lời. Ta có thể sớm tìm hiểu rõ mọi chuyện nếu như ta chỉ việc đổi được chủ đề.”

Hoàng tử quả thực rất xanh xao. Anh ngồi bên bàn và dường như liên tục trải qua những cảm giác hoảng sợ lẫn ngất ngây.

Ồ, anh mới sợ hãi làm sao khi nhìn sang một bên—một góc phòng cụ thể nào đó—nơi anh thừa biết có một đôi mắt đen đang đăm đăm theo dõi mình, và anh hạnh phúc biết bao khi nghĩ rằng mình lại được sống giữa họ, và thỉnh thoảng lại nghe thấy giọng nói quen biết ấy, mặc dù chính nàng đã viết thư cấm anh không được bước chân đến đây nữa!

“Tự hỏi rốt cuộc nàng sẽ nói gì với mình đây?” anh thầm nghĩ.

Anh chưa nói một lời nào; anh cứ ngồi lặng im và lắng nghe sự tài hùng biện của Evgenie Pavlovitch. Gã chưa bao giờ tỏ ra hạnh phúc và phấn khích đến thế như trong buổi tối hôm nay. Hoàng tử lắng nghe gã, nhưng suốt một hồi lâu chẳng lọt tai một chữ nào.

Ngoại trừ Ivan Fedorovitch vẫn chưa từ thành phố trở về, toàn bộ gia đình đều có mặt ở đó. Hoàng tử S. cũng có mặt; và tất cả bọn họ dự định chốc nữa sẽ ra ngoài nghe ban nhạc biểu diễn.

Colia lúc ấy vừa đến và nhập bọn. “Thế là rốt cuộc hắn vẫn được tiếp đón như mọi khi,” hoàng tử thầm nghĩ.

Ngôi nhà miền quê của nhà Epanchin là một công trình quyến rũ, được xây dựng theo mô hình nhà gỗ trên núi của Thụy Sĩ, bên ngoài phủ đầy dây leo. Xung quanh nhà là một khu vườn hoa rực rỡ, và gia đình thường ngồi ngoài hiên rộng giống như ở nhà hoàng tử.

Chủ đề đang được bàn tán có vẻ không được lòng mọi người cho lắm, và một số người rất muốn đổi sang chuyện khác; nhưng Evgenie vẫn không chịu thôi huyên thuyên, và sự xuất hiện của hoàng tử dường như càng tiếp thêm lửa cho tài hùng biện của gã.

Lizabetha Prokofievna cau mày, nhưng vẫn chưa nắm bắt được chủ đề vốn có vẻ bắt nguồn từ một cuộc tranh cãi nảy lửa. Aglaya ngồi tách ra một góc, gần như ở góc phòng, lặng lẽ lắng nghe với vẻ mặt bướng bỉnh.

“Xin lỗi nhé,” Evgenie Pavlovitch hào hứng tiếp lời, “tôi không hề nói một lời nào chống lại chủ nghĩa tự do cả. Chủ nghĩa tự do không phải là tội lỗi, nó là một phần tất yếu của một tổng thể vĩ đại, mà nếu thiếu nó thì tổng thể ấy sẽ sụp đổ và tan rã. Chủ nghĩa tự do có quyền tồn tại ngang bằng với chủ nghĩa bảo thủ đạo đức nhất; nhưng tôi đang đả kích chủ nghĩa tự do của Nga; và tôi đả kích nó đơn giản vì một người theo chủ nghĩa tự do Nga không phải là một người theo chủ nghĩa tự do Nga, mà hắn ta là một kẻ theo chủ nghĩa tự do phi-Nga. Hãy chỉ cho tôi xem một người theo chủ nghĩa tự do Nga thực thụ coi, tôi sẵn sàng ôm hôn anh ta trước mặt tất cả các bạn với niềm hân hoan.”

“Nếu anh ta thèm cho anh ôm, có thế chứ,” Alexandra lên tiếng, hai má đỏ bừng vì bực bội và phấn khích.

“Cứ nhìn kìa,” người mẹ thầm nghĩ, “nó cứ ăn với ngủ suốt cả năm trời, rồi bỗng nhiên nổi đóa lên theo cái cách chẳng tài nào hiểu nổi!”

Hoàng tử nhận thấy Alexandra có vẻ tức giận với Evgenie, bởi vì gã bàn về một vấn đề nghiêm túc bằng giọng điệu giễu cợt, ra điều nghiêm túc nhưng ẩn giấu bên dưới là một tầng mỉa mai.

“Tôi vừa nói lúc nãy, trước khi anh bước vào đấy, thưa hoàng tử, rằng cho đến nay chủ nghĩa tự do của chúng ta chẳng có chút bản sắc dân tộc nào cả, và không có gì mà những kẻ theo chủ nghĩa tự do làm, hoặc đã làm, mang một chút hơi hướng dân tộc nào. Họ chỉ xuất thân từ hai tầng lớp, tầng lớp địa chủ cũ và các gia đình giáo sĩ—”

“Sao lại nói những việc họ làm chẳng có gì mang tính Nga?” Hoàng tử S. hỏi.

“Nó có thể mang tính Nga, nhưng lại không mang tính dân tộc. Những người theo chủ nghĩa tự do của chúng ta không phải là người Nga, và những người theo chủ nghĩa bảo thủ của chúng ta cũng vậy, và các vị cứ tin chắc đi, quốc gia này không bao giờ công nhận bất cứ điều gì đã được thực hiện bởi giới địa chủ, hay bởi những kẻ xuất thân từ chủng viện, và cả những gì sắp sửa được thực hiện nữa.”

“Thôi đi, thế thì hay thật đấy! Sao anh có thể duy trì một nghịch lý như thế chứ? Nếu anh đang nói chuyện nghiêm túc đấy nhé. Tôi không thể để một tuyên bố như thế về tầng lớp địa chủ trôi qua mà không phản bác đâu. Chính anh cũng là một địa chủ còn gì!” Hoàng tử S. nóng nảy kêu lên.

“Chắc anh định nói văn học của chúng ta cũng chẳng có chút bản sắc dân tộc nào nốt chứ gì?” Alexandra nói.

“À, tôi không phải là một chuyên gia lớn về các vấn đề văn học, nhưng tôi thực sự cho rằng văn học Nga không mang tính Nga, ngoại trừ có lẽ là Lomonosoff, Pouschkin và Gogol.”

“Thứ nhất, đó là một sự thừa nhận đáng kể, và thứ hai, một trong số những người vừa kể là một nông dân, còn hai người kia đều là địa chủ!”

“Đúng thế, nhưng đừng có vội vã thế chứ! Bởi vì kể từ khi ba con người này, và chỉ ba con người này, có phần thể hiện một điều gì đó hoàn toàn là của riêng họ, không vay mượn, thì chính nhờ thực tế này mà ba con người ấy mới thực sự trở thành những người mang tầm vóc quốc gia. Nếu bất kỳ người Nga nào đã làm hoặc nói được điều gì thực sự và hoàn toàn độc đáo, thì anh ta sẽ được gọi là người mang bản sắc quốc gia kể từ khoảnh khắc đó, dẫu anh ta có thể không nói được tiếng Nga; nhưng anh ta vẫn là một người Nga mang tầm vóc quốc gia. Tôi coi đó là một chân lý hiển nhiên. Nhưng chúng ta không bàn về văn học; chúng ta khởi đầu bằng việc bàn về những kẻ xã hội chủ nghĩa. Vậy thì được thôi, tôi khẳng định rằng không tồn tại một kẻ xã hội chủ nghĩa Nga nào cả. Không có, và chưa từng tồn tại một kẻ như thế, bởi vì tất cả những kẻ xã hội chủ nghĩa đều xuất phát từ hai tầng lớp—địa chủ và học viên chủng viện. Tất cả những nhân vật xã hội chủ nghĩa lỗi lạc của chúng ta chỉ đơn thuần là những kẻ tự do cũ thuộc tầng lớp địa chủ, những kẻ từng theo chủ nghĩa tự do thời nông nô chế. Các vị cười gì thế? Cứ đưa sách của họ đây, đưa những bài nghiên cứu, những hồi ký của họ đây, và dù tôi không phải là nhà phê bình văn học, tôi vẫn sẽ chứng minh rõ nhưban ngày rằng từng chương và từng chữ trong bài viết của họ đều là tác phẩm của một cựu địa chủ theo trường phái cũ. Các vị sẽ thấy rằng tất cả sự say mê của họ, tất cả những sự xúc động hào hiệp của họ đều mang tính chất địa chủ, mọi nỗi đau đớn và nước mắt của họ đều mang tính địa chủ; toàn là của địa chủ hoặc của học viên chủng viện! Các vị lại cười nữa rồi, và cả ngài nữa, thưa hoàng tử, ngài cũng đang mỉm cười kìa. Ngài không đồng tình với tôi sao?”

Quả thực là mọi người đều đang cười, trong đó có cả hoàng tử.

“Tôi không thể nói ngay lập tức rằng mình đồng tình với anh hay không,” hoàng tử đáp, chợt dừng nụ cười lại, và giật mình thon thót như một cậu học trò bị bắt quả tang đang nghịch ngợm. “Nhưng, tôi xin đảm bảo với anh, tôi đang lắng nghe anh với sự thích thú tột cùng.”

Nói xong, anh gần như thở dốc vì xúc động, và một giọt mồ hôi lạnh rịn trên trán. Đây là những lời đầu tiên của anh kể từ khi bước vào nhà; anh cố ngước mắt lên nhìn xung quanh, nhưng không dám; Evgenie Pavlovitch nhận thấy sự bối rối của anh và mỉm cười.

“Tôi xin kể cho các vị nghe một sự thật thế này, thưa các quý ông quý bà,” gã tiếp lời, với vẻ nghiêm túc thấy rõ và thậm chí đầy hào hứng, nhưng đằng sau mỗi từ lại ngầm chứa một sự “chế giễu”, cứ như thể gã đang thầm cười vào những điều vô nghĩa của chính mình—“một sự thật mà tôi tin rằng mình có công phát hiện ra nó một mình. Dù sao đi nữa, chưa từng có ai khác nói hay viết dù chỉ một lời về nó; và trong sự thật này thể hiện toàn bộ bản chất của chủ nghĩa tự do Nga theo cái cách mà tôi đang xem xét.

Thứ nhất, chủ nghĩa tự do nói chung là gì, nếu không phải là một cuộc tấn công (dù sai lầm hay hợp lý lại là chuyện khác) nhằm vào trật tự sự vật hiện hành? Có phải thế không? Vâng. Tốt lắm. Thế thì ‘sự thật’ của tôi nằm ở chỗ này, rằng chủ nghĩa tự do của Nga không phải là một cuộc tấn công nhằm vào trật tự sự vật hiện hành, mà là một cuộc tấn công vào chính bản chất của sự vật—thậm chí là nhắm vào chính các sự vật ấy; không phải là một cuộc tấn công vào trật tự sự vật của Nga, mà là nhắm vào chính nước Nga. Kẻ theo chủ nghĩa tự do Nga của tôi đi xa đến mức chối bỏ nước Nga; nghĩa là, hắn căm ghét và đánh đập chính người mẹ của mình. Mọi bất hạnh và tai ương của quê hương đất nước đều mang lại cho hắn niềm vui thích, thậm chí là sự ngất ngây. Hắn căm ghét các phong tục tập quán dân tộc, lịch sử nước Nga, và mọi thứ. Nếu hắn có một sự biện minh nào, thì đó là việc hắn không biết mình đang làm gì, và tin rằng lòng căm ghét nước Nga của mình là một dạng chủ nghĩa tự do cao cả và có lợi nhất. (Các vị sẽ thường xuyên bắt gặp một kẻ theo chủ nghĩa tự do được đồng bọn tung hô và kính trọng, nhưng thực chất lại là kẻ bảo thủ nhàm chán, mù quáng và đần độn nhất, mà chính hắn lại chẳng hề hay biết điều đó.) Nỗi căm ghét nước Nga này đã bị một số ‘tên tự do Nga’ của chúng ta nhầm tưởng là tình yêu chân thành dành cho quê hương đất nước, và chúng khoác lác rằng mình nhìn thấu đáo hơn những kẻ xung quanh về việc tình yêu đất nước chân chính phải bao gồm những gì. Nhưng dạo gần đây chúng đã trở nên thành thật hơn và cảm thấy xấu hổ với cụm từ ‘tình yêu đất nước’, đồng thời đã tiêu diệt cả tinh thần của những từ ngữ ấy như thể chúng là thứ gì đó có hại, nhỏ mỏng và thiếu phẩm giá. Đây là sự thật, và tôi kiên định với nó; nhưng đồng thời đó cũng là một hiện tượng chưa từng lặp lại ở bất kỳ thời điểm hay địa điểm nào khác; và do đó, dù tôi coi nó là một sự thật, tôi vẫn nhận ra rằng đó chỉ là một hiện tượng ngẫu nhiên, và rất có thể nó sẽ qua đi. Sẽ chẳng thể có nơi nào khác tồn tại một kẻ theo chủ nghĩa tự do thực sự căm ghét đất nước mình; và làm thế nào để giải thích hiện tượng này ở chỗ chúng ta đây? Bằng tuyên bố ban đầu của tôi rằng một người theo chủ nghĩa tự do Nga không phải là một người theo chủ nghĩa tự do Nga—đó là lời giải thích duy nhất mà tôi có thể nhìn thấy.”

“Tôi coi tất cả những gì anh vừa nói chỉ là một trò đùa,” Hoàng tử S. nghiêm túc lên tiếng.

“Tôi chưa từng chứng kiến đủ mọi loại người theo chủ nghĩa tự do, và do đó không thể tự đặt mình lên vị trí trọng tài,” Alexandra nói, “nhưng tôi đã lắng nghe tất cả những gì anh nói với sự phẫn nộ. Anh đã lấy một trường hợp ngẫu nhiên nào đó rồi bóp méo nó thành một quy luật phổ quát, điều đó thật bất công.”

“Trường hợp ngẫu nhiên ư!” Evgenie Pavlovitch thốt lên. “Anh có coi đó là một trường hợp ngẫu nhiên không, thưa hoàng tử?”

“Tôi cũng phải thừa nhận rằng,” hoàng tử nói, “tôi chưa được tận mắt chứng kiến nhiều, hay đi sâu vào vấn đề này; nhưng tôi không thể không nghĩ rằng anh ít nhiều có lý, và chủ nghĩa tự do Nga—ít nhất là cái giai đoạn mà anh đang đề cập ấy—thực sự đôi khi có khuynh hướng căm ghét chính nước Nga, chứ không chỉ là trật tự sự vật hiện hành của nó nói chung. Dĩ nhiên đây chỉ là một phần sự thật; anh không thể áp đặt luật lệ cho tất cả mọi người...”

Hoàng tử đỏ bừng mặt và ngập ngừng dừng lại, chưa kịp nói hết ý định của mình.

Bất chấp sự rụt rè và bấn loạn, anh vẫn không khỏi cảm thấy vô cùng hứng thú với cuộc trò chuyện. Một đặc điểm đặc biệt của anh là sự ngây thơ thành thật mà anh luôn dùng để lắng nghe những tranh luận hấp dẫn mình, và cách anh trả lời bất kỳ câu hỏi nào được đặt ra cho mình về vấn đề đang tranh cãi. Ngay trên biểu cảm khuôn mặt của anh, sự ngây thơ ấy hiện lên rõ mồn một, sự hoài nghi trước sự giả dối của kẻ khác, và sự thờ ơ không mảy may nghi kỵ trước giọng điệu mỉa mai hay hài hước trong lời nói của họ.

Nhưng mặc dù Evgenie Pavlovitch đặt câu hỏi cho hoàng tử với mục đích không gì khác ngoài việc tận hưởng trò đùa về sự nghiêm túc ngây ngô của anh, thì giờ đây, trước câu trả lời của anh, gã lại ngạc nhiên đến mức chính mình cũng trở nên nghiêm túc và đăm đăm nhìn Muishkin như thể gã hoàn toàn không ngờ tới kiểu câu trả lời đó.

“Chà, thật kỳ lạ làm sao!” gã thốt lên. “Chắc là anh không trả lời tôi một cách nghiêm túc đấy chứ?”

“Chẳng lẽ anh không đặt câu hỏi cho tôi một cách nghiêm túc sao?” hoàng tử ngạc nhiên hỏi lại.

Mọi người đều phì cười.

“Ồ, cứ tin hắn đi!” Adelaida nói. “Evgenie Pavlovitch biến mọi thứ và bất kỳ ai lọt vào tầm ngắm thành trò cười hết. Lẽ ra anh phải nghe những lời gã thốt ra đôi khi, ra điều nghiêm túc hoàn toàn mới được.”

“Theo tôi, cuộc trò chuyện này từ đầu đến cuối chỉ toàn mang lại cảm giác khó chịu, và lẽ ra chúng ta không bao giờ nên khơi mào nó,” Alexandra nói. “Tất cả chúng ta định đi dạo cơ mà—”

“Thế thì đi thôi,” Evgenie giục giã; “đây là một buổi chiều tuyệt đẹp. Nhưng, để chứng minh rằng lần này tôi hoàn toàn nghiêm túc, và đặc biệt để chứng minh điều đó với hoàng tử (bởi vì ngài, thưa hoàng tử, đã làm tôi vô cùng hứng thú, và tôi xin thề với ngài rằng tôi không hẳn là một tên ngốc như cái cách tôi thích tỏ ra đôi khi, dẫu tôi cũng hơi ngốc thật, tôi thừa nhận), và—à này, thưa các quý ông quý bà, các vị có cho phép tôi được hỏi hoàng tử thêm một câu hỏi nữa thôi, thuần túy vì sự tò mò không? Đây sẽ là câu cuối cùng. Câu hỏi này xuất hiện trong đầu tôi cách đây vài tiếng đồng hồ (thỉnh thoảng tôi cũng suy nghĩ nghiêm túc đấy chứ, thưa hoàng tử), và tôi đã tự đưa ra quyết định của mình về nó; giờ thì tôi muốn nghe hoàng tử sẽ nói gì về nó.”

“Chúng ta vừa sử dụng cụm từ ‘trường hợp ngẫu nhiên’. Đây là một cụm từ mang ý nghĩa sâu xa; chúng ta vẫn thường nghe thấy nó. Chà, cách đây chưa lâu, mọi người đều bàn tán và đọc về vụ án mạng khủng khiếp sát hại sáu mạng người do một—gã thanh niên gây ra, cùng với bài biện hộ phi thường của luật sư bào chữa, người đã nhận định rằng trong hoàn cảnh nghèo đói cùng cực của tên tội phạm, việc hắn tự nhiên nảy sinh ý định giết sáu người này là điều dễ hiểu. Tôi không trích dẫn đúng nguyên văn lời hắn, nhưng ý nghĩa là thế, hoặc rất gần như thế. Giờ thì theo quan điểm của tôi, vị luật sư đã đưa ra lời biện hộ kỳ lạ này có lẽ hoàn toàn đinh ninh rằng mình đang bày tỏ quan điểm tự do nhất, nhân đạo nhất, và khai sáng nhất có thể về vụ án trong thời đại này. Nào, sự bóp méo này, khả năng nhìn nhận sự việc theo hướng lệch lạc này, là một trường hợp đặc biệt hay ngẫu nhiên, hay đó là một quy luật chung phổ quát?”

Mọi người đều bật cười trước câu hỏi này.

“Một trường hợp đặc biệt—dĩ nhiên là ngẫu nhiên rồi!” Alexandra và Adelaida đồng thanh kêu lên.

“Tôi xin nhắc lại với anh một lần nữa, Evgenie,” Hoàng tử S. nói, “rằng trò đùa của anh đang dần trở nên nhàm nhí rồi đấy.”

“Ngài nghĩ sao về điều đó, thưa hoàng tử?” Evgenie hỏi, phớt lờ nhận xét vừa rồi và quan sát đôi mắt nghiêm túc của Muishkin đang dán chặt vào khuôn mặt gã. “Ngài nghĩ sao—đó là một trường hợp đặc biệt hay thông thường—là quy luật, hay là ngoại lệ? Tôi thú nhận rằng tôi đặt ra câu hỏi này đặc biệt dành cho ngài đấy.”

“Không, tôi không nghĩ đó là một trường hợp ngẫu nhiên,” hoàng tử điềm tĩnh nhưng kiên quyết đáp.

“Bạn tôi ơi!” Hoàng tử S. có chút bực bội kêu lên, “anh không nhận ra là hắn đang trêu chọc anh sao? Hắn đơn giản là đang cười cợt anh, và muốn biến anh thành trò hề đấy thôi.”

“Tôi tưởng Evgenie Pavlovitch đang nói chuyện nghiêm túc chứ,” hoàng tử đỏ mặt, buôngõ thõng hai mắt xuống đáp.

“Thưa hoàng tử thân mến,” Hoàng tử S. tiếp lời, “xin hãy nhớ lại những gì anh và tôi đã thảo luận cách đây hai hay ba tháng xem. Chúng ta đã bàn về việc trong các Tòa án mới mở của chúng ta, người ta đã có thể chỉ mặt đặt tên biết bao nhiêu luật sư trẻ tài năng và xuất sắc. Anh đã vui mừng biết bao trước tình trạng lúc bấy giờ, và tôi đã hạnh phúc biết bao khi quan sát niềm vui của anh! Cả hai chúng ta đều nói rằng đó là một điều đáng tự hào; nhưng cái bài biện hộ vụng về mà Evgenie vừa nhắc đến, cái luận điểm kỳ lạ ấy dĩ nhiên chỉ có thể là một trường hợp ngẫu nhiên—một trường hợp trong số một nghìn!”

Hoàng tử trầm ngâm suy nghĩ một lát, nhưng rất nhanh sau đó, anh đáp lại bằng một niềm xác tín tuyệt đối trong giọng điệu, dẫu anh vẫn nói có phần e dè và rụt rè:

“Tôi chỉ muốn nói rằng ‘sự bóp méo’ này, đúng như cách Evgenie Pavlovitch vừa diễn đạt, rất thường xuyên bắt gặp, và hoàn toàn là quy luật chung nhiều hơn là ngoại lệ, thật không may cho nước Nga. Đến mức mà nếu sự bóp méo này không phải là quy luật chung, thì có lẽ những tội ác khủng khiếp kia đã ít xảy ra hơn.”

“Tội ác khủng khiếp ư? Nhưng tôi có thể đảm bảo với anh rằng những tội ác khủng khiếp không kém, và có lẽ còn rợn ngóc hơn thế, đã từng xảy ra trước thời đại của chúng ta, và ở mọi thời đại, không chỉ ở đây trên nước Nga, mà còn ở khắp mọi nơi trên thế giới nữa. Và theo quan điểm của tôi, hoàn toàn không có chuyện những vụ án mạng như thế sẽ chấm dứt trong một thời gian dài sắp tới. Điểm khác biệt duy nhất là trong thời gian trước, người ta ít công khai hơn, trong khi bây giờ ai nấy đều thoải mái bàn tán và viết lách về những chuyện như thế—chính thực tế này tạo ra ấn tượng rằng những tội ác đó chỉ mới xuất hiện gần đây thôi. Đó là chỗ sai lầm của anh—một sự nhầm lẫn vô cùng tự nhiên, tôi xin đảm bảo với anh đấy, bạn tôi ạ!” Hoàng tử S. nói.

“Tôi biết rằng đã từng có rất nhiều, và thậm chí là những tội ác khủng khiếp không kém trước thời đại của chúng ta. Cách đây chưa lâu, tôi đã đến thăm một nhà tù khổ sai và làm quen với một số tên tội phạm. Có những kẻ còn khủng hơn cả tên tội phạm mà chúng ta vừa nhắc tới—những kẻ đã sát hại cả tá đồng loại mà không hề cảm thấy chút ăn năn hối hận nào. Nhưng điều khiến tôi đặc biệt chú ý chính là việc, những tên sát nhân tuyệt vọng và vô lương tâm nhất—dù cho hắn có là một tội phạm ngoan cố đến đâu—thì hắn vẫn biết rằng mình là một tội phạm; nghĩa là, hắn nhận thức được rằng mình đã hành động độc ác, dẫu hắn có thể không hề cảm thấy chút ăn năn nào đi nữa. Và tất cả bọn chúng đều thế cả. Những kẻ mà Evgenie Pavlovitch vừa nhắc đến, lại không thừa nhận mình là tội phạm chút nào; chúng nghĩ rằng mình có quyền làm những gì đã làm, và thậm chí có lẽ chúng còn đang làm một việc tốt nữa cơ. Tôi cho rằng có một sự khác biệt rất lớn giữa hai trường hợp này. Và hãy nhớ xem—đó lại là một thanh niên, đang ở vào cái độ tuổi nhạy cảm nhất đối với sự bóp méo tư tưởng!”

Lúc này Hoàng tử S. không còn mỉm cười nữa; ông đăm đăm nhìn hoàng tử với vẻ ngơ ngác.

Alexandra, người nãy giờ có vẻ muốn chen lời khi hoàng tử bắt đầu nói, giờ lại ngồi im thin thít, như thể một suy nghĩ bất chợt đã khiến cô thay đổi ý định không muốn lên tiếng nữa.

Evgenie Pavlovitch đăm đăm nhìn anh với sự kinh ngạc thực sự, và lần này biểu cảm trên khuôn mặt gã hoàn toàn không còn chút giễu cợt nào nữa.

“Sao trông anh lại ngạc nhiên thế, bạn tôi?” bà Epanchin bất ngờ lên tiếng hỏi. “Anh tưởng nó ngốc hơn anh chắc, và không có khả năng tự hình thành quan điểm riêng của mình hay sao, thế thế nào?”

“Không! Ồ không! Không phải thế đâu!” Evgenie đáp. “Nhưng—sao lạ thế, thưa hoàng tử, ngài—(xin lỗi vì câu hỏi này nhé)—nếu ngài có khả năng quan sát và nhìn nhận sự việc đúng như những gì ngài vừa thể hiện, thì tại sao ngài lại không nhìn thấy chút gì lệch lạc hay bóp méo trong cái yêu sách đòi tài sản kia của ngài, thứ mà ngài đã công nhận cách đây một hoặc hai hôm; và thứ vốn ngập tràn những luận điểm được xây dựng dựa trên những quan điểm sai lệch nhất về lẽ phải và trái?”

“Tôi nói cho anh nghe cái này nhé, bạn tôi,” bà Epanchin đột ngột cất lời, “tất cả chúng ta đang ngồi đây và tưởng mình thông minh lắm, rồi có lẽ một số người còn đang cười cợt hoàng tử nữa, trong khi ngay ngày hôm nay ngài ấy lại nhận được một bức thư từ chính kẻ đòi tài sản đó, trong đó hắn từ bỏ yêu sách của mình và cầu xin hoàng tử tha thứ. Đấy! Chúng ta hiếm khi nào nhận được cái loại thư kiểu đó lắm; thế mà chúng ta vẫn không cảm thấy xấu hổ khi cứ ngẩng cao mũi đi trước mặt ngài ấy.”

“Và Hippolyte đã đến đây để nghỉ dưỡng rồi,” Colia đột ngột nói.

“Gì cơ! Nó đến rồi á?” hoàng tử giật mình vùng đứng dậy.

“Vâng, em vừa đưa cậu ấy từ thành phố về ngay sau khi anh rời khỏi nhà.”

“Đấy thấy chưa! Hắn ta đúng là cái giống y hệt như thế,” Lizabetha Prokofievna kêu lên, lại nổi giận đùng đùng trở lại và hoàn toàn quên mất chuyện mình vừa đứng về phía hoàng tử. “Ta dám cá là hôm qua anh đã cố tình lên thành phố để rước cái tên khốn kiếp nhỏ mỏi ấy đến ban cho anh cái vinh dự lớn lao được nghỉ dưỡng tại nhà anh chứ gì. Anh đã lên thành phố, chính anh thừa nhận còn gì—chính anh vừa tự nói đấy thôi! Nào, rốt cuộc là anh có quỳ xuống lạy lục nài nỉ nó đến không, khai mau!”

“Không hề có chuyện đó đâu, vì chính em đã chứng kiến tất cả cơ mà,” Colia nói. “Ngược lại, Hippolyte đã hôn tay anh ấy hai lần và nói lời cảm ơn; và tất cả những gì hoàng tử nói chỉ là ngài nghĩ Hippolyte có lẽ sẽ cảm thấy khỏe hơn khi ở miền quê này!”

“Đừng mà, Colia,—nói ra mấy chuyện đó để làm gì chứ?” hoàng tử thốt lên, đứng dậy và cầm lấy chiếc mũ của mình.

“Thế bây giờ anh định đi đâu đấy?” bà Epanchin quát lên.

“Bây giờ xin ngài đừng bận tâm đến cậu ấy nữa, thưa hoàng tử,” Colia nói. “Cậu ấy vẫn ổn và đang chợp mắt sau chuyến đi. Cậu ấy rất hạnh phúc khi được ở đây; nhưng em nghĩ có lẽ sẽ tốt hơn nếu ngài cứ để mặc cậu ấy trong ngày hôm nay thôi—dạo này cậu ấy rất nhạy cảm do đang lâm trọng bệnh—và cậu ấy có thể sẽ cảm thấy lúng túng nếu ngài tỏ ra quá chú ý đến cậu ấy ngay từ đầu. Hôm nay sức khỏe cậu ấy đã khá hơn hẳn, và bảo rằng đã sáu tháng nay cậu ấy chưa cảm thấy khỏe thế này bao giờ, những cơn ho cũng giảm đi nhiều nữa.”

Hoàng tử nhận thấy Aglaya bước ra khỏi góc phòng và tiến lại gần bàn ở thời điểm này.

Anh không dám nhìn nàng, nhưng anh cảm nhận được rõ ràng đến từng đầu ngón tay rằng nàng đang đăm đăm nhìn mình, có lẽ với vẻ mặt đầy giận dữ; và rằng khuôn mặt nàng có lẽ đã ửng đỏ lên với ánh nhìn phẫn nộ rực lửa trong đôi mắt đen.

“Tôi thấy rằng, cậu Colia, cậu thật quá ngốc khi đưa cậu bạn trẻ ấy về đây—nếu cậu ta chính là cái cậu thanh niên mắc bệnh lao từng khóc lóc thảm thiết và mời gọi tất cả chúng ta đến dự đám tang của chính mình,” Evgenie Pavlovitch nhận xét. “Cậu ta đã hùng biện say sưa đến thế về bức tường trống bên ngoài cửa sổ phòng ngủ của mình, đến mức tôi chắc chắn rằng cậu ta sẽ chẳng bao giờ chịu nổi cuộc sống ở đây nếu thiếu nó cho mà xem.”

“Tôi cũng nghĩ thế đấy,” bà Epanchin nói; “cậu ta sẽ cãi nhau với anh rồi chuồn mất cho mà xem,” và bà kéo hộp đựng đồ khâu của mình lại gần với vẻ mặt đầy kiêu hãnh, hoàn toàn quên bẵng đi thực tế là gia đình chuẩn bị lên đường đi dạo trong công viên.

“Đúng thế, tôi nhớ cậu ta từng khoe khoang về bức tường trống đó một cách kỳ lạ,” Evgenie tiếp lời, “và tôi có cảm giác rằng nếu thiếu bức tường trống ấy, cậu ta sẽ chẳng bao giờ có thể chết một cách hùng biện nổi; mà cậu ta thì lại khao khát được chết một cách hùng biện biết bao!”

“Ồ, anh phải rộng lượng tha thứ cho cậu ấy vì bức tường trống ấy chứ,” hoàng tử điềm tĩnh nói. “Dù sao thì tội nghiệp cậu ấy, cậu ấy cũng đã đến đây để ngắm vài cái cây rồi còn gì.”

“Ồ, tôi tha thứ cho cậu ta bằng tất cả tấm lòng; anh cứ việc nói lại điều đó với cậu ta nếu thích nhé,” Evgenie cười lớn.

“Tôi không nghĩ anh nên đón nhận chuyện đó theo cách như thế đâu,” hoàng tử điềm tĩnh đáp, mắt vẫn không rời khỏi tấm thảm nhà. “Tôi nghĩ đúng hơn phải là cậu ấy rộng lượng tha thứ cho anh mới phải.”

“Tha thứ cho tôi ư! Tại sao cơ chứ? Tôi đã làm gì nên tội để phải cần sự tha thứ của cậu ta chứ?”

“Nếu anh không hiểu, thì—nhưng dĩ nhiên là anh hiểu rồi. Cậu ấy muốn—cậu ấy muốn ban phước lành cho tất cả mọi người và xin nhận lời chúc phúc từ mọi người—trước khi qua đời—chỉ có vậy thôi.”

“Thưa hoàng tử thân mến,” Hoàng tử S. vội vã cất lời, đưa mắt trao đổi với một vài người có mặt ở đó, “anh sẽ chẳng dễ dàng gì tìm thấy thiên đường trên trái đất đâu, thế mà dường như anh lúc nào cũng mong đợi điều đó. Thiên đường là một thứ rất khó tìm ở bất cứ đâu, thưa hoàng tử; khó hơn rất nhiều so với những gì trái tim nhân hậu của anh tưởng tượng đấy. Tốt hơn hết là nên dừng cuộc trò chuyện này lại, kẻo tất cả chúng ta sẽ lại bị rối loạn tâm trí mất thôi, và—”

“Thế thì chúng ta đi nghe ban nhạc biểu diễn thôi,” Lizabetha Prokofievna bực bội nói, đứng phắt dậy khỏi chỗ ngồi.

Những người còn lại trong nhóm liền làm theo hành động của bà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.