Thằng Ngốc

Lượt đọc: 111 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vi.

❊ ❊ ❊

“Tất cả các bạn đều ở đây,” hoàng tử bắt đầu, “quây quần lắng nghe tôi với vẻ tò mò đến thế, nếu tôi không làm các bạn thỏa mãn, có lẽ các bạn sẽ giận tôi mất. Không, không! Tôi đùa đấy thôi!” ngài nói thêm, vội vã mỉm cười.

“Thế rồi—tất cả bọn họ đều là trẻ con ở đó, và tôi thì luôn ở giữa những đứa trẻ, chỉ với những đứa trẻ mà thôi. Chúng là những đứa trẻ trong ngôi làng nơi tôi sống, và tất cả chúng đều đến trường ở đó. Tôi không dạy chúng đâu, ồ không; đã có thầy giáo lo việc đó rồi, một người tên là Jules Thibaut. Có lẽ tôi cũng dạy chúng vài điều, nhưng tôi ở giữa chúng chỉ như một kẻ ngoài cuộc, và tôi đã trải qua trọn vốn bốn năm cuộc đời ở đó cùng chúng. Tôi chẳng mong gì hơn thế; tôi thường kể cho chúng nghe mọi chuyện và chẳng giấu giếm điều gì. Cha mẹ và họ hàng của chúng rất giận tôi, bởi vì cuối cùng lũ trẻ chẳng thể làm gì thiếu tôi, và cứ bám theo tôi mọi lúc mọi nơi. Cuối cùng thì thầy giáo chính là kẻ thù lớn nhất của tôi! Tôi có rất nhiều kẻ thù, và tất cả chỉ vì lũ trẻ. Thậm chí Schneider cũng quở trách tôi. Họ sợ cái gì chứ? Người ta có thể kể cho trẻ con nghe mọi chuyện, bất cứ chuyện gì. Tôi thường vô cùng ngạc nhiên khi thấy các bậc cha mẹ hiểu con cái họ ít đến thế. Lẽ ra họ không nên giấu giếm chúng quá nhiều. Ngay cả những đứa trẻ nhỏ cũng hiểu rõ biết bao việc cha mẹ chúng giấu giếm, bởi vì họ cho rằng chúng còn quá nhỏ để hiểu được! Trẻ con hoàn toàn có khả năng đưa ra lời khuyên trong những vấn đề quan trọng nhất. Làm sao có thể lừa dối những chú chim non đáng yêu này, khi chúng nhìn mình thật ngọt ngào và đầy tin tưởng cơ chứ? Tôi gọi chúng là những chú chim non vì trên đời này chẳng có gì tốt đẹp hơn loài chim cả!

“Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều giận tôi vì cùng một chuyện; còn Thibaut thì chỉ đơn thuần ghen tị với tôi. Ban đầu ông ta cứ lắc đầu tự hỏi không hiểu vì sao lũ trẻ lại có thể hiểu những điều tôi kể rành mạch đến thế, trong khi chúng chẳng thể học được gì từ ông ta; và ông ta cười phá lên khi tôi đáp rằng cả tôi lẫn ông ta đều chẳng thể dạy chúng được bao nhiêu, nhưng chúng lại có thể dạy chúng ta rất nhiều điều.

“Làm sao ông ta có thể căm thù tôi và bịa đặt những chuyện nhơ nhuốc về tôi, khi sống giữa những đứa trẻ như thế, đó là điều tôi không tài nào hiểu nổi. Trẻ con xoa dịu và hàn gắn những trái tim tổn thương. Tôi nhớ có một tội nghiệp nọ ở nhà giáo sư của chúng tôi đang được điều trị bệnh tâm thần, và các bạn không thể tưởng tượng được những đứa trẻ đó cuối cùng đã làm gì cho anh ấy đâu. Tôi không nghĩ anh ấy phát điên, mà chỉ vô cùng bất hạnh mà thôi. Nhưng tôi sẽ kể cho các bạn nghe toàn bộ câu chuyện về anh ấy vào một ngày khác. Bây giờ tôi phải tiếp tục câu chuyện này đã.

“Ban đầu lũ trẻ không yêu mến gì tôi; lúc đó tôi là một kẻ ốm yếu, vụng về—và tôi biết mình rất xấu xí. Thêm nữa, tôi lại là một người ngoại quốc. Ban đầu lũ trẻ hay chế nhạo tôi; thậm chí chúng còn ném đá vào tôi khi thấy tôi hôn Marie. Tôi chỉ hôn cô ấy có một lần trong đời—không, không, đừng cười chứ!” Hoàng tử vội vã dập tắt những nụ cười của thính giả đến đoạn này. “Đó hoàn toàn không phải là chuyện yêu đương gì cả! Giá mà các bạn biết cô ấy là một sinh phận thảm hại đến nhường nào, các bạn hẳn đã thương xót cô ấy, cũng giống như tôi vậy. Cô ấy thuộc về ngôi làng của chúng tôi. Mẹ cô ấy là một bà lão rất già, họ thường bán dây thừng, chỉ khâu, xà phòng và thuốc lá qua ô cửa sổ ngôi nhà nhỏ của họ, và sống qua ngày bằng khoản tiền công ít ỏi kiếm được từ việc buôn bán ấy. Bà cụ đau ốm và tuổi cao sức yếu, hầu như không thể di chuyển được. Marie là con gái bà, một cô gái đôi mươi, yếu ớt, gầy gò và mắc bệnh lao; thế nhưng ngày qua ngày cô ấy vẫn phải làm những công việc nặng nhọc ở các ngôi nhà xung quanh. Chà, rồi vào một ngày đẹp trời nọ, một tay nhân viên bán hàng lưu động đã lừa gạt rồi rũ bỏ cô ấy; và một tuần sau hắn bỏ rơi cô ấy. Cô ấy tha thẩn về nhà trong bộ dạng bẩn thỉu, rách rưới và không giày dép; cô ấy đã đi bộ suốt một tuần trời không giày; cô ấy ngủ ngoài đồng và bị cảm lạnh nặng; chân sưng tấy và đau nhức, hai bàn tay rách rưới và trầy xước khắp nơi. Trước đó trông cô ấy vốn dĩ đã chẳng xinh đẹp gì; nhưng đôi mắt cô ấy lại rất điềm tĩnh, ngây thơ và hiền hậu.

“Cô ấy lúc nào cũng rất lặng lẽ—và tôi nhớ có lần, khi cô ấy bất chợt cất tiếng hát lúc đang làm việc, mọi người liền nói: ‘Hôm nay Marie biết hát kìa!’ và cô ấy bị trêu chọc dữ dội đến mức từ đó về sau không bao giờ dám hé môi nửa lời. Trước kia cô ấy đối xử rất tử tế ở chốn này; nhưng khi cô ấy trở về lúc này—đau ốm, bị hắt hủi và khốn khổ—thì không một ai trong số họ tỏ chút lòng thương cảm nào với cô ấy cả. Những con người tàn nhẫn! Ồ, họ hiểu biết nông cạn làm sao về những vấn đề như thế! Mẹ cô ấy là người đầu tiên khơi mào. Bà đón nhận con gái với vẻ giận dữ, cay nghiệt và khinh miệt. ‘Mày đã làm nhục tao,’ bà nói. Bà là kẻ đầu tiên đẩy cô ấy vào sự nhục nhã; nhưng khi tất cả nghe tin Marie đã trở về làng, họ liền chạy túa ra xem và chen chúc vào ngôi nhà nhỏ—những ông già, trẻ con, phụ nữ, thiếu nữ—một đám đông vội vã, dậm chân, tham lam tột độ. Marie đang nằm rạp dưới sàn nhà ngay chân bà cụ, đói lả, rách rưới, nhếch nhác, khóc lóc và khốn khổ.

“Khi mọi người chen chúc vào phòng, cô ấy giấu mặt vào mái tóc rối bù và co ro nằm bẹp dưới sàn. Ai nấy nhìn cô ấy như thể cô ấy chỉ là một mớ rác rưởi bên đường. Những người lớn tuổi mắng mỏi và lên án, còn đám thanh niên thì chế giễu cô ấy. Phụ nữ cũng lên án cô ấy và nhìn bằng ánh mắt khinh miệt, hệt như cô ấy là một con côn trùng gớm ghiếc nào đó.

“Mẹ cô ấy dung túng cho tất cả những chuyện đó, vừa gật đầu vừa khích lệ họ. Lúc ấy bà cụ đang rất ốm và biết mình sắp chết (quả nhiên bà đã qua đời chỉ vài tháng sau đó), và dù cảm nhận được hồi kết đang đến gần, chưa bao giờ bà nghĩ đến việc tha thứ cho con gái cho đến tận ngày cuối đời. Bà thậm chí còn không thèm nói chuyện với cô ấy. Bà bắt cô ấy ngủ trên đống rơm trong một cái nhà kho, và hầu như chẳng cho ăn đủ để duy trì sự sống.

“Marie đối xử rất dịu dàng với mẹ, tận tụy chăm sóc và làm mọi việc cho bà; nhưng bà cụ đón nhận mọi sự chăm sóc ấy mà không nói một lời, chẳng bao giờ tỏ ra dù chỉ một chút tử tế với cô. Marie nhẫn nhục chịu đựng tất cả; và khi đã quen biết, tôi có thể thấy cô ấy cho rằng điều đó hoàn toàn đúng đắn và phải phép, khi tự nhận mình là sinh linh thấp hém và tồi tệ nhất.

“Đến khi bà cụ ngã bệnh liệt giường hẳn, những phụ nữ lớn tuổi khác trong làng lần lượt đến ngồi cạnh bà theo phong tục ở đó; và thế là Marie bị đuổi hẳn ra khỏi nhà. Họ hoàn toàn không cho cô ấy ăn gì, và cô ấy cũng chẳng kiếm được việc làm nào trong làng; chẳng ai chịu thuê múa cô cả. Đàn ông có vẻ không còn coi cô ấy là một người phụ nữ nữa, họ nói với cô ấy những lời lẽ thật khủng khiếp. Thỉnh thoảng vào những ngày chủ nhật, nếu say xỉn đủ độ, họ thường ném cho cô một hai xu xuống bùn, và Marie lặng lẽ nhặt lấy số tiền đó. Vào thời điểm ấy cô bắt đầu ho ra máu.

“Cuối cùng thì những mảnh vải trên người cô rách tơi tả đến mức cô cảm thấy xấu hổ không dám xuất hiện trong làng nữa. Lũ trẻ thường ném bùn vào cô; thế nên cô nài nỉ được nhận làm người phụ giúp chăn bò, nhưng người chăn bò không chịu. Sau đó cô tự ý phụ giúp ông ta; và khi thấy sự giúp đỡ của cô hữu ích nhường nào, ông ta không đuổi cô đi nữa; trái lại, thỉnh thoảng ông ta còn cho cô phần cơm thừa của mình, gồm bánh mì và phô mai. Ông ta tự cho rằng mình đã rất nhân đức rồi. Khi người mẹ qua đời, mục sư trong làng cũng chẳng ngần ngại bêu riếu và phơi bày Marie ra trước sự nhạo báng của công chúng. Marie đứng cạnh đầu quan tài, trong bộ dạng rách rưới tả tơi và đang khóc.

“Một đám đông đã tụ tập lại để xem cô ấy khóc lóc ra sao. Viên mục sư, một thanh niên đang nuôi tham vọng trở thành một nhà thuyết giáo vĩ đại, bắt đầu bài giảng của mình và chỉ tay về phía Marie. ‘Kìa,’ hắn ta nói, ‘kia chính là nguyên nhân dẫn đến cái chết của người phụ nữ đáng kính này’—(đó là một lời dối trá, bởi vì bà đã ốm đau ít nhất là hai năm nay)—‘kia kìa, cô ta đang đứng trước mặt các ngươi và không dám ngước mắt lên nhìn mặt đất, bởi vì cô ta biết rằng ngón tay của Thượng Đế đang giáng họa xuống đầu mình. Hãy nhìn những mảnh giẻ rách rưới của cô ta đi—biểu tượng của những kẻ đánh mất trinh tiết. Cô ta là ai? Là con gái của bà ấy!’ cứ thế cho đến hết.

“Và các bạn hãy tưởng tượng xem, sự nhục mạ đó lại làm hài lòng tất cả bọn họ, hầu như là thế. Chỉ có lũ trẻ là đã thay đổi—vì lúc đó tất cả chúng đều đứng về phía tôi và đã học được cách yêu thương Marie.

“Sự việc là thế này: Tôi đã muốn làm một điều gì đó cho Marie; tôi rất khao khát cho cô ấy ít tiền, nhưng lúc ở đó tôi chẳng có lấy một xu dính túi. Tuy nhiên, tôi có một chiếc ghim cài áo đính kim cương nhỏ, và tôi đã bán nó cho một tên buôn bán dạo; hắn đưa cho tôi tám quan—trong khi giá trị thực của nó ít nhất phải là bốn mươi.

“Tôi đã tìm kiếm cơ hội gặp riêng Marie suốt một thời gian dài; và cuối cùng tôi cũng gặp được cô ấy trên sườn đồi phía sau làng. Tôi đưa cho cô ấy tám quan và dặn hãy giữ lấy số tiền đó vì tôi không thể kiếm thêm được nữa; rồi tôi hôn cô ấy và nói rằng cô ấy đừng nghĩ tôi hôn với bất kỳ dụng ý xấu nào hay vì tôi yêu cô ấy, mà tôi làm thế hoàn toàn vì lòng thương xót, và bởi vì ngay từ đầu tôi đã không coi cô ấy là kẻ có tội mà chỉ là một nạn nhân bất hạnh. Tôi khao khát được an ủi, khích lệ cô ấy bằng cách nào đó, và đoan chắc với cô ấy rằng cô ấy không phải là kẻ thấp hèn, đê tiện như cô và những người khác vẫn cố dựng lên; nhưng tôi không nghĩ cô ấy hiểu được tôi. Cô ấy đứng trước mặt tôi, vô cùng xấu hổ và cúi gằm mặt; khi tôi nói xong, cô ấy liền hôn lên tay tôi. Tôi đã định hôn lên tay cô ấy, nhưng cô ấy rụt tay lại. Đúng lúc đó thì cả đám đông trẻ con nhìn thấy chúng tôi. (Sau này tôi mới biết chúng đã rình mò tôi từ lâu.) Tất cả bắt đầu huýt sáo, vỗ tay và chế nhạo chúng tôi. Marie bỏ chạy ngay lập tức; và khi tôi cố nói chuyện với chúng, chúng liền ném đá vào tôi. Cả làng hay tin chỉ trong cùng ngày hôm đó, và hoàn cảnh của Marie lại càng trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết. Lũ trẻ không còn cho phép cô ấy đi qua đường phố nữa, mà làm phiền và ném đất bẩn vào cô nhiều hơn trước. Chúng thường xuyên đuổi theo sau—còn cô thì cắm cổ chạy với lồng ngực yếu ớt thở hổn hển, trong khi chúng thì ném đá và gào thét lăng mạ.

“Có lần tôi đã phải can thiệp bằng vũ lực; và sau đó tôi bắt đầu nói chuyện với chúng mỗi khi có thể. Thỉnh thoảng chúng dừng lại lắng nghe; nhưng chúng vẫn cứ trêu chọc Marie như thường.

“Tôi kể cho chúng nghe Marie bất hạnh ra sao, và một thời gian sau chúng ngừng lăng mạ cô, để cô lặng lẽ bước qua. Dần dà chúng tôi hình thành thói quen trò chuyện cùng nhau, tôi và lũ trẻ. Tôi không giấu giếm chúng điều gì, tôi kể cho chúng nghe tất cả. Chúng lắng nghe rất chăm chú và chẳng mấy chốc đã bắt đầu thấy thương xót Marie. Cuối cùng, một vài đứa trong số chúng đã cất lời chào ‘Buổi sáng tốt lành’ đầy thân thiện mỗi khi gặp cô ấy. Ở đó có phong tục là chào bất cứ ai gặp mặt bằng câu ‘Buổi sáng tốt lành’ dù có quen biết hay không. Tôi có thể tưởng tượng Marie đã kinh ngạc đến nhường nào trước những lời chào đầu tiên ấy từ lũ trẻ.

“Có lần hai bé gái kiếm được ít thức ăn đem đến cho cô ấy, rồi quay về kể lại cho tôi nghe. Chúng nói rằng cô ấy đã òa khóc, và giờ đây chúng vô cùng yêu mến cô. Rất nhanh sau đó, tất cả bọn chúng đều trở nên quý mến Marie, và đồng thời cũng bắt đầu dành tình cảm sâu sắc nhất cho chính bản thân tôi. Chúng thường xuyên đến tìm tôi và nài nỉ kể chuyện cho nghe. Chắc là tôi kể chuyện khá hay, vì chúng rất thích nghe. Cuối cùng, tôi chủ động tìm đọc những điều thú vị cốt để truyền đạt lại cho lũ trẻ, và tình trạng này kéo dài suốt khoảng thời gian còn lại của tôi ở đó, trọn ba năm. Sau này, khi tất cả mọi người—thậm chí cả Schneider—đều giận dữ vì tôi không giấu giếm điều gì với lũ trẻ, tôi đã chỉ ra rằng làm thế thật ngốc nghếch, bởi vì lũ trẻ vốn dĩ luôn biết mọi thứ, chỉ là chúng học được những điều ấy theo cách làm vẫn đục tâm trí chứ không phải từ tôi. Người ta chỉ cần nhớ lại tuổi thơ của chính mình là sẽ thừa nhận tính chân thực của điều này. Nhưng chẳng ai bị thuyết phục cả... Hai tuần trước khi mẹ cô ấy qua đời là lúc tôi hôn Marie; và khi vị mục sư đọc bài giảng đó, lũ trẻ đều đứng hết về phía tôi.

“Khi tôi nói cho chúng nghe việc vị mục sư ăn nói như vậy là hổ thẹn biết bao, và giải thích lý do của mình, chúng tức giận đến mức một vài đứa đã đến ném đá vỡ cửa sổ nhà hắn ta. Dĩ nhiên là tôi đã ngăn chúng lại, vì làm thế là không đúng, nhưng cả làng đều hay tin, và tôi đã bị mắng vốn ra sao vì tội chiều hư trẻ con! Mọi người bấy giờ mới phát hiện ra rằng bọn trẻ đã bắt đầu quý mến Marie, và cha mẹ chúng vô cùng hoảng sợ; nhưng Marie thì lại rất hạnh phúc. Lũ trẻ bị cấm gặp mặt cô; nhưng chúng vẫn thường trốn ra khỏi làng đến chỗ bầy gia súc để mang thức ăn và đồ đạc cho cô; thỉnh thoảng chúng chạy vụt đến đó ôm hôn cô, rồi nói ‘Je vous aime, Marie!’ rồi lại lon ton chạy về. Chúng tưởng tượng rằng tôi đang yêu Marie, và đây là điều duy nhất tôi không vạch trần cho chúng hiểu, bởi vì chúng thu được bao nhiêu niềm vui từ chuyện đó. Và chúng mới tinh tế, dịu dàng làm sao!

“Vào buổi tối, tôi thường đi bộ đến ngọn thác. Có một góc ở đó hoàn toàn bị che khuất và khuất tầm nhìn bởi những tán cây lớn; và lũ trẻ thường tìm đến tôi ở chốn này. Chúng không thể chịu đựng nổi việc Leon thân yêu của chúng lại yêu một cô gái nghèo không giày dép, mặc váy rách rưới tả tơi. Thế nên, các bạn có tin được không, chúng thực sự đã cùng nhau góp tiền bằng cách nào đó, rồi mua cho cô ấy giày, tất, một ít vải lanh, và thậm chí cả một chiếc váy nữa! Tôi không hiểu làm thế nào mà chúng lo liệu được, nhưng tất cả bọn chúng đã cùng nhau làm điều đó. Khi tôi hỏi về chuyện ấy, chúng chỉ cười vang và hò reo, còn mấy bé gái thì vỗ tay rồi hôn tôi. Thỉnh thoảng tôi cũng đến thăm Marie một cách bí mật. Cô ấy đã lâm bệnh nặng và hầu như không thể đi lại được. Cô ấy vẫn đi theo đàn gia súc, nhưng không còn giúp gì được cho người chăn bò nữa. Cô ấy thường ngồi thẫn thờ trên một hòn đá gần đó, bất động gần như cả ngày trời cho đến khi đàn gia súc trở về. Bệnh lao của cô đã ở giai đoạn cuối, yếu đến mức cô thường ngồi nhắm nghiền mắt, thở dốc từng hơi nặng nhọc. Gương mặt gầy hốc hác như bộ xương, mồ hôi rịn ra thành những giọt lớn trên vầng trán trắng bệch. Lúc nào tôi cũng thấy cô ấy ngồi đúng tư thế ấy. Tôi thường lặng lẽ bước đến để ngắm nhìn cô; nhưng Marie sẽ nghe thấy tiếng tôi, mở bừng mắt và run lẩy bẩy khi hôn lên tay tôi. Tôi không rút tay ra vì điều đó làm cô ấy hạnh phúc, và cứ thế cô ấy sẽ ngồi lặng lẽ khóc. Thỉnh thoảng cô ấy cố nói; nhưng rất khó để hiểu cô ấy đang nói gì. Mỗi khi tôi đến, cô ấy gần như phát cuồng vì xúc động và ngất ngây. Thỉnh thoảng lũ trẻ đi cùng tôi; khi ấy, chúng sẽ đứng cách xa một khoảng để canh chừng, nhằm báo cho tôi biết nếu có ai đến gần. Đó là một niềm vui lớn đối với chúng.

“Khi chúng tôi rời đi, Marie lại lập tức rơi vào trạng thái cũ, ngồi im lìm với đôi mắt nhắm nghiền và tứ chi bất động. Có một hôm cô ấy hoàn toàn không thể ra ngoài được, đành thui thủi ở nhà một mình trong túp lều trống hoác; nhưng lũ trẻ rất nhanh đã nhận ra điều đó, và gần như tất cả bọn chúng đã ghé thăm cô vào ngày hôm đó khi cô nằm đơn độc và bất lực trên chiếc giường khốn khổ.

“Trong hai ngày lũ trẻ chăm sóc cô, và rồi, khi dân làng biết tin Marie thực sự sắp chết, một vài bà lão đã đến và thay phiên nhau ngồi túc trực chăm sóc cô đôi chút. Tôi nghĩ cuối cùng thì trong làng cũng bắt đầu thấy thương xót cô ấy một chút; ít ra thì họ không còn ngăn cản lũ trẻ vì chuyện của cô nữa.

“Marie nằm trong trạng thái mê sảng khó chịu suốt thời gian đó; cô ho dữ dội. Các bà lão không cho lũ trẻ ở trong phòng; nhưng tất cả chúng đều tụ tập bên ngoài cửa sổ vào mỗi buổi sáng, dẫu chỉ trong khoảnh khắc, để hô lớn ‘Bon jour, notre bonne Marie!’ và vừa nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng chúng, Marie liền trở nên vô cùng phấn chấn, bất chấp sự ngăn cản của các bà lão, cô vẫn cố ngồi dậy gật đầu mỉm cười với chúng và cất tiếng cảm ơn. Bọn trẻ thường mang đến cho cô những món ngon và đồ ngọt, nhưng cô hầu như chẳng thể chạm vào thứ gì. Nhờ có chúng, tôi đoan chắc với các bạn, cô gái ấy đã ra đi trong niềm hạnh phúc gần như trọn vẹn. Cô ấy hầu như quên đi nỗi bất hạnh của mình, và dường như đón nhận tình yêu thương của bọn trẻ như một thứ biểu tượng tha thứ cho lỗi lầm của bản thân, dẫu cô chưa bao giờ ngừng tự coi mình là một tội nhân đáng sợ. Chúng thường ríu rít bên cửa sổ hệt như những chú chim non, gọi với vào: ‘Nous t’aimons, Marie!’

“Cô ấy qua đời rất nhanh; tôi đã tưởng cô ấy sẽ sống lâu hơn thế. Ngày trước lúc cô ấy mất, tôi đến thăm lần cuối ngay trước hoàng hôn. Tôi nghĩ cô ấy đã nhận ra tôi, vì cô ấy siết chặt tay tôi.

“Sáng hôm sau họ đến báo tin Marie đã chết. Lũ trẻ giờ đây không sao kìm chế được nữa; chúng đến phủ đầy hoa lên quan tài và đặt một vòng hoa rực rỡ trên đầu cô. Viên mục sư không thốt ra thêm lời nhục mạ nào đối với người phụ nữ xấu số đã khuất; nhưng có rất ít người tham dự đám tang. Tuy nhiên, đến đoạn khiêng quan tài, tất cả lũ trẻ lao tới để tự tay khiêng lấy. Dĩ nhiên là chúng không thể tự làm một mình được, nhưng chúng nằng nặc đòi giúp sức, vừa đi bên cạnh vừa đi sau lưng và khóc nghẹn ngào.

“Chúng đã trồng hoa hồng xung quanh mộ cô, và năm nào cũng chăm sóc những bông hoa ấy, tô điểm cho nơi yên nghỉ của Marie đẹp đẽ nhất có thể. Sau tất cả những chuyện đó, tôi mất điểm trầm trọng trong mắt các bậc phụ huynh, đặc biệt là vị mục sư và thầy giáo. Schneider buộc phải hứa là sẽ không để tôi gặp gỡ và trò chuyện với lũ trẻ nữa; nhưng chúng tôi vẫn giao tiếp từ xa bằng ký hiệu, và chúng thường viết cho tôi những mảnh giấy nhỏ dễ thương. Sau này tôi càng thêm gắn bó khăng khít với những tâm hồn bé nhỏ ấy, nhưng ngay cả lúc đó, việc được chúng yêu quý đến vậy đối với tôi đã là một điều vô cùng trân quý.

“Schneider nói rằng tôi đã gây tổn hại lớn cho lũ trẻ bằng ‘hệ thống’ tai hại của mình; thật là nhảm nhí làm sao! Và ông ta có ý gì khi nói đến hệ thống của tôi chứ? Sau đó, ngay trước khi tôi rời đi, ông ta còn bảo rằng ông ta tin chính tôi cũng là một đứa trẻ. ‘Cậu có vóc dáng và khuôn mặt của người trưởng thành,’ ông ta nói, ‘nhưng về phần tâm hồn, tính cách, và có lẽ cả trí tuệ nữa, cậu đích thực là một đứa trẻ theo đúng nghĩa đen của từ này, và sẽ mãi mãi như thế cho đến khi cậu sống đến sáu mươi tuổi.’ Tôi cười lớn, bởi vì điều đó rõ ràng là nhảm nhí. Nhưng sự thật là tôi không thích ở cạnh những người trưởng thành và thích bầu bạn với trẻ con hơn nhiều. Dù mọi người có đối xử tử tế với mình đến đâu, tôi chưa bao giờ cảm thấy thực sự thoải mái khi ở cạnh họ, và luôn thấy vui mừng khi được trở lại bên những người bạn nhỏ của mình. Từ trước đến nay bạn đồng hành của tôi luôn là trẻ con, không phải vì bản thân tôi từng là trẻ em, mà vì những sinh linh non trẻ luôn thu hút tôi. Vào một trong những ngày đầu tiên tôi đặt chân đến Thụy Sĩ, khi đang lang thang một mình đầy khổ sở, tôi bắt gặp lũ trẻ ồn ào ùa ra khỏi trường học, mang theo bảng con, cặp sách, vở vở, những trò chơi, tiếng cười và tiếng hò hét—và tâm hồn tôi hướng ngay về phía chúng. Tôi dừng lại, mỉm cười hạnh phúc khi ngắm nhìn đôi chân bé nhỏ bước đi thoăn thoắt. Cả bé trai lẫn bé gái, vừa cười vừa khóc; bởi vì trên đường về nhà, rất nhiều đứa tranh thủ thời gian để đánh nhau rồi làm hòa, để khóc lóc rồi vui đùa. Tôi quên đi mọi phiền muộn khi ngắm nhìn chúng. Và rồi, trong suốt ba năm đó, tôi đã cố tìm hiểu xem tại sao con người cứ phải mãi tự hành hạ lẫn nhau. Tôi đã sống cuộc đời của một đứa trẻ ở đó và tưởng rằng mình sẽ không bao giờ rời khỏi ngôi làng nhỏ ấy; quả thật, tôi chưa bao giờ nghĩ có ngày mình sẽ trở về Nga. Nhưng cuối cùng tôi nhận ra thực tế rằng Schneider không thể giữ tôi lại được nữa. Và rồi một chuyện vô cùng quan trọng đã xảy ra, khiến chính Schneider phải giục tôi lên đường. Bây giờ tôi sắp đi tìm xem liệu mình có thể xin được những lời khuyên hữu ích về chuyện đó hay không. Có lẽ số phận cuộc đời tôi sẽ thay đổi; nhưng đó không phải là điều chính yếu. Điều chính yếu là sự thay đổi toàn diện đã diễn ra trong con người tôi. Tôi đã bỏ lại sau lưng quá nhiều thứ—quá nhiều là đằng khác. Chúng đã qua rồi. Trên chặng đường đi, tôi tự nhủ với bản thân: ‘Mình đang bước vào thế giới của người lớn. Có lẽ mình chẳng biết nhiều lắm, nhưng một cuộc đời mới đã bắt đầu đối với mình rồi.’ Tôi tự dặn lòng phải sống trung thực và kiên định trong việc hoàn thành sứ mệnh của mình. Có lẽ tôi sẽ gặp phải rắc rối và nhiều nỗi thất vọng, nhưng tôi đã quyết tâm sẽ lịch sự và chân thành với tất cả mọi người; người ta không thể đòi hỏi gì hơn ở tôi nữa. Mọi người có thể coi tôi là trẻ con tùy thích. Tôi thường bị gọi là kẻ ngốc, và đã có lúc quả thật tôi ốm nặng đến mức gần như một kẻ ngốc; nhưng bây giờ tôi không còn ngốc nữa. Làm sao tôi có thể ngốc được khi chính bản thân tôi thừa biết rằng mình đang bị coi là như thế chứ?

“Khi nhận được bức thư từ những tâm hồn bé nhỏ thân thương ấy lúc đang đi ngang qua Berlin, mãi cho đến lúc đó tôi mới nhận ra mình yêu họ biết nhường nào. Nhận được bức thư nhỏ đầu tiên ấy thực sự rất, rất đau đớn. Trông họ mới sầu muộn làm sao khi tiễn tôi lên đường! Trước đó cả tháng trời, họ đã luôn nhắc về cuộc chia tay của tôi và buồn bã vì điều đó; và vào buổi chiều tối ở ngọn thác, khi chúng tôi chào tạm biệt để lui về nghỉ ngơi, họ sẽ ôm chặt lấy tôi và hôn tôi thắm thiết, nồng nhiệt hơn trước rất nhiều. Và thỉnh thoảng, từng đứa một lại lủi thủi tìm đến lúc tôi ở một mình, chỉ để tặng tôi một cái ôm và một nụ hôn nhằm bày tỏ tình cảm. Cả đàn chim nhỏ tiễn tôi ra tận ga tàu, cách làng chừng một dặm, và chốc chốc lại có đứa dừng chân vòng tay ôm lấy tôi, còn mấy bé gái thì nghẹn ngào rưng rưng dù chúng đã cố hết sức để không khóc. Khi đoàn tàu hú còi rời ga, tôi nhìn thấy tất cả bọn họ đứng trên sân ga vẫy tay chào tôi và gào lớn ‘Hurrah!’ cho đến khi khuất hẳn vào khoảng không xa xăm.

“Tôi đoan chắc với các bạn, khi nãy bước vào đây và nhìn thấy những gương mặt hiền hậu của các bạn (tôi là kẻ đọc vị khuôn mặt rất cừ), lòng tôi cảm thấy nhẹ nhõm lần đầu tiên kể từ khoảnh khắc chia tay ấy. Tôi nghĩ mình chắc hẳn là một trong số những kẻ sinh ra đã gặp may, bởi vì người ta hiếm khi gặp được những người mà mình cảm thấy có thể yêu mến ngay từ cái nhìn đầu tiên, thế mà, vừa bước xuống toa tàu là tôi đã chạm trán ngay với các bạn!

“Tôi biết việc thổ lộ tình cảm của mình trước mặt người khác ít nhiều là một điều gì đó ngượng ngùng; thế mà giờ đây tôi lại đang trò chuyện với các bạn như thế này đấy, và chẳng hề cảm thấy ngượng ngùng hay xấu hổ chút nào. Tôi là một kẻ vốn không thích xã giao và rất có thể một thời gian nữa tôi sẽ không đến thăm các bạn đâu; nhưng xin đừng vì thế mà nghĩ xấu về tôi. Không phải vì tôi không coi trọng sự hiện diện của các bạn; và các bạn tuyệt đối không được cho là tôi đã phật ý vì bất cứ điều gì.

“Các bạn đã hỏi tôi về gương mặt của mình, và tôi có thể đọc được những gì trên đó; tôi sẽ rất sẵn lòng kể cho các bạn nghe. Riêng cô, Adelaida Ivanovna, cô sở hữu một gương mặt vô cùng hạnh phúc; đó là gương mặt dễ mến nhất trong ba chị em. Chưa cần nói đến vẻ đẹp tự nhiên, người ta có thể nhìn vào gương mặt cô và tự nhủ rằng: ‘Cô ấy có gương mặt của một người chị gái nhân hậu.’ Cô giản dị và vui tươi, nhưng lại có thể thấu thấu tâm can người khác rất nhanh chóng. Đó là những gì tôi đọc được trên khuôn mặt cô.

“Còn cô nữa, Alexandra Ivanovna, cô cũng có một gương mặt vô cùng đáng yêu; nhưng tôi nghĩ dường như cô đang vướng bận một nỗi buồn thầm kín nào đó. Trái tim cô chắc chắn là một trái tim nhân hậu, tốt lành, nhưng cô lại không vui tươi cho lắm. Phảng phất trên gương mặt cô là một chút ‘bóng tối’ mơ hồ, hệt như bức tranh Đức Mẹ Đồng Trinh của Holbein ở Dresden vậy. Thế nhé, khuôn mặt cô đấy. Tôi đoán có đúng không?

“Còn về khuôn mặt của cô, Lizabetha Prokofievna, tôi không chỉ nghĩ mà còn hoàn toàn chắc chắn rằng cô đích thị là một đứa trẻ—trong mọi chuyện, mọi chuyện, hãy nhớ lấy, cả tốt lẫn xấu—và bất chấp tuổi tác của cô. Xin đừng giận tôi vì đã nói thế; các bạn đều biết tình cảm của tôi dành cho trẻ con ra sao rồi đấy. Và cũng đừng nghĩ rằng tôi bộc bạch chân thành như thế chỉ vì sự đơn thuần thuần túy của tâm hồn. Ồ không đời nào, hoàn toàn không phải vậy đâu! Có lẽ tôi đang nhắm đến mục đích rất ư sâu xa của riêng mình chứ bộ.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.