Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26
Tôi Không Hề Cảm Thấy Mệt Mỏi

❊ ❊ ❊

VÀO MÙA THU năm 2003, Greg Craig, một bạn học của Hillary và Bill ở Trường Luật Yale, nhận được một cú điện thoại từ Vernon Jordan. Trong nhiệm kỳ tổng thống của Bill, Jordan được coi là người thạo tin bậc nhất ở Washington; sau này ông mở một văn phòng ở New York để thuận tiện cho mạng lưới công ty của ông. Lần này, Jordan đang tập hợp “những người thuộc giới có quyền thế” cho một sự kiện được tổ chức tại nhà ông ở Washington, để gây quỹ cho một thượng nghị sĩ tiểu bang ở bang Illinois, khi ấy còn ít được biết đến, tên là Barack Obama. Obama, bốn mươi hai tuổi, đang phấn đấu để được Đảng Dân chủ đề cử tranh chức Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ ở bang Illinois.

Craig nói: “Lúc ấy tôi không biết ông ấy là ai,” mặc dù vậy ông vẫn nhận lời mời và viết một chi phiếu 500 đôla cho ban vận động của Obama.

Vào một buổi chiều tháng 10, mấy chục người tập họp tại nhà Jordan, cách căn nhà ở Washington của gia đình Clinton khoảng một khu phố, để gặp gỡ ứng cử viên trẻ kia. Đó là buổi gây quỹ đầu tiên ở Washington cho Obama, sinh tại Honolulu, có một người cha Kenya và một người mẹ từ bang Kansas. Tốt nghiệp trường luật Harvard, nơi lần đầu tiên trong lịch sử 104 năm của trường, ông được bầu làm chủ tịch da đen đầu tiên của tờ tạp chí luật, sau đó Obama đã phục vụ ở Hạ viện bang Illinois, rồi ở Thượng viện bang. Sau khi nghe Obama nói chuyện tối hôm đó từ cầu thang trong căn nhà rộng lớn của Jordan, Craig đã ra về mà trong lòng “rất, rất ấn tượng trước ông ấy.”

Craig được coi là một trong những luật sư hàng đầu ở Washington, có lẽ được người ta biết đến nhiều nhất qua việc lãnh đạo cuộc bảo vệ Tổng thống Clinton trong lúc diễn ra các nghi thức luận tội tổng thống ở Hạ viện và Thượng viện. Ông đã quen vợ chồng Clinton hơn ba mươi lăm năm; từ thời 1971, khi Hillary hỏi Craig liệu bà và Bill có thể thuê lại căn hộ của ông ở New Haven không. Trong những năm 1960, Craig, tốt nghiệp cử nhân Đại học Harvard, đứng ở tuyến đầu của các phong trào dân quyền và phản chiến. Ông đăng ký bầu cử cho các cử tri da đen ở Mississippi, dạy học cho các trẻ em da đen ở Harlem, và được thừa nhận trên cả nước là lãnh tụ sinh viên Harvard chống chiến tranh. Hillary đã dọn chỗ cho ông trong dãy văn phòng của bà ở Cánh Tây sau khi ông đồng ý tham gia nhóm pháp lý của tổng thống vào năm 1998.

Cuối cùng Obama đã được đề cử và thắng cử, và sau khi ông tuyên thệ nhậm chức Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2005, Craig có gặp ông mấy lần ở Washington. Tại lễ trao giải thưởng Robert F. Kennedy hàng năm vào tháng 11 năm đó, Craig nhận thấy Obama – và thông điệp của ông ấy chiều hôm đó – là đầy cuốn hút. Craig nói, “Tiếng nói của ông ấy không phải là một tiếng nói giận dữ, cũng không phải là một tiếng nói yếu ớt. Đó là một tiếng nói mạnh mẽ, độc đáo trong nền chính trị Mỹ.”

Ở thủ đô, Craig đã được tiếng là thẳng thắn, tận tụy, và chung thủy. Ethel Kennedy, vốn rất ấn tượng với sự phò tá của Craig cho sếp cũ của ông là Thượng nghị sĩ Edward M. Kennedy trước khi ông này ra làm chứng trong vụ xử án hiếp dâm ở Palm Beach năm 1991 liên quan đến cháu ông là William Kennedy Smith, đã nói, “Nếu gặp khủng hoảng, tôi muốn có ông ấy bên cạnh hơn bất kỳ ai khác. Ông ấy rất sáng suốt, nói những gì cần nói một cách hết sức rõ ràng, và luôn luôn sát cánh.”

Khi Hillary còn đang kín đáo cân nhắc về hành động ra tranh cử tổng thống có tính lịch sử, có lẽ bà không bao giờ hình dung được là người bạn học trường luật của bà lại có thể không những rời bỏ bà mà còn góp phần thuyết phục đối thủ đáng sợ nhất của bà ra tranh cử với bà.

* * *

VÀO ĐẦU NĂM 2006, Washington lại đang trải qua một trong những cơn tự căm ghét có tính chu kỳ của nó. Điều này xảy ra vài năm một lần: thủ đô tự nhìn kỹ mình trong gương, tái mặt đi vì hình ảnh lấm bẩn trong đó, và rồi không thực sự làm gì để thay đổi nó. Chuyến ngao du thả dàn khắp thế giới bằng tiền ngân sách nhà nước của tay vận động hành lang siêu hạng Jack Abramoff đã làm hàng triệu người Mỹ nổi giận. Vụ tai tiếng này đã đẩy các nghị sĩ Cộng hòa về thế thủ, và Hillary cùng các đồng nghiệp ở Thượng viện nắm được thế chủ động. Vào buổi tối được tái đắc cử, đích thân Hillary tuyên bố rằng bà hy vọng những người Dân chủ có thể đem lại cho nước Mỹ “sự cáo chung của văn hóa tham nhũng, cũng như sự cáo chung của sự thống trị các đặc quyền đặc lợi.” Tất nhiên, mục tiêu này nói thì dễ hơn làm rất nhiều.

Các nỗ lực của những người theo phái Dân chủ nhằm cố gắng cải tổ các cung cách của Washington bắt đầu vào cuối tháng 1 năm 2006. Hillary gửi một văn bản đến các thượng nghị sĩ thân hữu để lưu ý họ về một buổi họp “Lãnh đạo Trung thực” do Ủy ban Steering and Outreach mà bà làm chủ tịch đứng ra tổ chức. Như Hillary đã mô tả, nhiệm vụ của buổi họp này – hay chí ít là hy vọng của buổi họp này – là các thượng nghị sĩ sẽ chấp nhận “cải tổ thực sự, gồm những hành động mới mẻ và cương quyết, cho thấy các hoạt động vận động hành lang là trái đạo lý, đồng thời gia tăng tính công khai và minh bạch của chính phủ.”

Mặc dù Hillary là người gửi thư mời, người chủ tọa buổi họp đó lại là Thượng nghị sĩ Obama, người lĩnh ấn tiên phong của Đảng Dân chủ trong việc cải tổ hoạt động vận động hành lang, một nhiệm vụ do Harry Reid giao cho ông. Vào lúc đó, Obama ở Thượng viện chỉ mới có một năm, nhưng những kỹ năng chính trị bẩm sinh của ông đã bắt đầu chinh phục được sự say mê và trí tưởng tượng của nhiều người Mỹ, và ông ngày càng hay được mô tả bằng những lời khen ngợi quá mức cùng những ngôn từ khuôn sáo vốn có vẻ xa lạ với Washington. Vài người còn nói, ông ấy là một “ngôi sao nhạc rock.”

Buổi họp của Thượng viện đó được điều phối bởi Dana E. Singiser, vị luật sư đã tiếp nối Jodi Sakol chức giám đốc nhân sự của Ủy ban vào năm 2004. Những người tham dự buổi họp hầu hết đến từ phe tự do của giới quan sát về đạo đức ở Washington.

Buổi họp đó, vào ngày 1 tháng 2 năm 2006, trong căn phòng mang tên Lyndon B. Johnson, trên tầng hai của điện Capitol, đã bắt đầu mà không có Hillary. Nhiều thượng nghị sĩ khác đã có mặt ở đó, ít nhất là một phần của phiên họp, trong đó có Reid, Mark Dayton, và Russ Feingold, kiến trúc sư của đạo luật năm 2002 nhằm cải tổ tài trợ tranh cử.

Hillary cuối cùng cũng đến, khoảng hai mươi phút sau khi hội nghị khai mạc. Bà vừa ngồi xuống được một lát thì có người đề cập vấn đề tài trợ công cho các chiến dịch tranh cử tổng thống, và bà châm biếm: “Ý ông là người ta đang tranh cử tổng thống?” Căn phòng tràn ngập tiếng cười, trong đó có cả tiếng cười của Obama. Vào lúc đó, Hillary được mọi người coi là người có tham vọng làm tổng thống nhất; cả Feingold cũng vậy. Rất ít người ở buổi họp đó nghĩ rằng vị chủ tọa, Barack Obama, miệng vẫn còn hôi sữa về chính trị, lại có thể vươn lên trong chưa đầy một năm để trở thành mối đe dọa nguy hiểm nhất đối với Hillary trong việc được đề cử.

Tại buổi họp, một số người tham dự đã ủng hộ mạnh mẽ việc tài trợ công cho các cuộc bầu cử. Hillary và Obama đưa ra vài sự ủng hộ về lý thuyết nhưng rốt cục là không cam kết gì. Một người tham dự nhớ lại, “Cả hai đều có vẻ thoái thác.” Một người khác đã dự họp nói rằng, ông hoàn toàn không ngạc nhiên gì khi Hillary không chấp nhận bất kỳ một thay đổi được đề nghị nào, mà thậm chí còn có vẻ chống lại ý tưởng cải tổ việc tài trợ cho chiến dịch tranh cử. Ông này nói, vợ chồng Clinton “ham mê chuyện kiếm tiền.” Đối với Obama, chỉ ít người nhận ra được dấu hiệu chần chừ rõ nét của ông.

HAI TUẦN SAU BUỔI HỌP ĐÓ, vào buổi chiều giá lạnh ngày 15 tháng 2 năm 2006, nỗ lực gây quỹ tham vọng nhất cho một ứng cử viên tổng thống được phát động trong một ngôi nhà tráng lệ ở Georgetown. Hillary Rodham Clinton là vị khách danh dự. Chủ nhân là Elizabeth Bagley, đại sứ tại Bồ Đào Nha của Tổng thống Clinton, một người bạn và là người thân tín của Hillary, và là một nhà gây quỹ hăng hái từng đem lại nhiều triệu đôla cho vợ chồng Clinton và Đảng Dân chủ – Một bữa ăn tối với thịt trừu và cá vược biển chiêu đãi hơn một trăm nhà gây quỹ trung thành và quan trọng nhất của Hillary, kết thúc một loạt hoạt động kéo dài suốt ngày. Hillary trù tính các sự kiện của ngày hôm đó là một “bước đầu tiên” bí mật trong nỗ lực của bà nhằm đạt được sự cam kết độc quyền từ những nhà tài trợ hăng hái nhất của những người Dân chủ. Những cam kết này về bề ngoài là cho cuộc vận động tái ứng cử vào Thượng viện của bà, nhưng hầu hết quan khách đều biết rằng Hillary trù tính bữa ăn tối đó như một cách để bắt họ phải cam kết gây quỹ ở một con số kỷ lục cho cuộc tranh cử tổng thống mà bà đang trù tính. Cách làm này có vẻ hiệu quả: Hàng tá các vị khách tối hôm đó nói với Hillary và Bill, rằng nếu Hillary tranh cử tổng thống, như hầu hết mọi người đều cho rằng bà sẽ làm điều đó, họ sẽ gắn bó với Hillary, và chỉ với một mình Hillary mà thôi.

Việc Hillary nhũn nhặn từ chối không nói liệu bà sẽ tranh cử hay không đã làm nhiều người bạn của bà thích thú. Một người bạn lâu năm của Hillary nói vào đầu năm 2006, “Dĩ nhiên bà ấy sẽ tranh cử. Bắt đầu từ tháng 1 [2007], tôi sẽ… sẽ làm việc toàn thời gian để giúp Hillary trở thành tổng thống.” Người bạn đó bật cười, nói thêm: “Sẽ chỉ làm cho Hillary mà thôi, toàn bộ thời gian.”

Câu khẩu hiệu đó rốt cục đã chuyển thành những mệnh lệnh lên đường bí mật của Hillary và các nhà gây quỹ hàng đầu của bà, đứng đầu là chủ tịch chiến dịch tranh cử 2008 của Hillary, Terry McAuliffe, nhà gây quỹ quảng giao và năng động của Clinton, từng làm chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ lúc John Kerry tranh cử tổng thống và thua.

Ngay từ tháng 2 năm 2006, gần một năm trước lời công bố chính thức tranh cử của mình, Hillary đã bắt đầu đích thân gây sức ép lên các nhà gây quỹ để họ ký kết độc quyền với bà và không nhận gây quỹ cho bất kỳ một ứng viên Dân chủ nào khác. Trong những ngày đầu của một chiến dịch tranh cử tổng thống, chẳng có gì là bất bình thường khi các ứng cử viên hàng đầu gây sức ép để bảo đảm có được sự cam kết độc quyền từ các nhà gây quỹ. Tuy nhiên, Hillary đã nắm được lợi thế lớn lao trước các đối thủ bằng cách bảo đảm có được sự cam kết đó từ gần một năm trước khi bà công bố thành lập ủy ban thăm dò tranh cử tổng thống của mình.

Những năng lực không ai bì kịp của Hillary, trong việc mở ra những kênh tài trợ mới và khai thác các nhà gây quỹ tranh cử phá kỷ lục, đã từng giúp Bill chiến thắng hai nhiệm kỳ, thì nay đều đã được thể hiện vào cái ngày tháng hai đó ở Washington. Và Hillary đã làm cái điều mà bà sẽ làm thường xuyên trong những tháng kế tiếp: quay sang nhờ cậy chồng bà làm hình tượng cuốn hút các nhà gây quỹ mới có túi tiền dày cộm.

Chẳng hạn, Bill đã là cái mồi câu giúp thuyết phục C. Paul Johnson, một triệu phú chủ ngân hàng về hưu sống ở Napa Valley, bang California, đáp máy bay đến dự bữa ăn tối hôm đó ở Georgetown. Sự tiếp xúc của Johnson với phe Clinton đã bắt đầu vài tuần lễ trước đó, nhân một chuyến đi tới vùng bờ biển phía tây của Hillary để gây quỹ cho chiến dịch tái tranh cử vào Thượng viện của bà và của vài ứng viên Dân chủ thân hữu. Hillary bắt đầu ở Seattle vào thứ sáu, ngày 27 tháng 1, tại một bữa ăn trưa cho hơn một ngàn hai trăm người ở Qwest Field, tiếp đó là một tiệc chiêu đãi riêng ở Seattle. Các sự kiện đó nhằm gây quỹ cho cả Thượng nghị sĩ Clinton và Thượng nghị sĩ Maria Cantwell của bang Washington, và giống như phần lớn các buổi gây quỹ của Hillary, đều “đóng cửa đối với báo chí.”

Sau đó Hillary đi xuống phía nam trên con đường kiếm tiền dọc theo bờ biển, đầu tiên là đến Portland, bang Oregon, và rồi đến bắc California. Cuối tuần đó cũng có các buổi gây quỹ riêng ở Bay Area. Một trong những buổi đó, vào trưa thứ bảy ở Napa Valley, lọt vào mắt một tờ báo địa phương, vốn không quen với việc một quan chức ở vùng bờ biển phía đông, huống hồ gì một cựu đệ nhất phu nhân, đến gom tiền ở thành phố quê hương họ. Người chủ bút của tờ báo đó tìm cách tham dự bữa ăn trưa đó nhưng bị “liệt vào hạng không được chào đón”

Ngồi cạnh Hillary tại bữa ăn trưa ở Napa Valley là Paul Johnson, ông chủ ngân hàng về hưu. Ông ta mới mẻ đối với thế giới của Hillary và ra về với “một cảm giác rất tốt.” Ông đặc biệt bị ấn tượng bởi “sự thẳng thắn và chân thành” của bà. Bà mời ông đến dự buổi họp ngày 15 tháng 2 ở Washington – tăng thêm độ ngọt ngào của lời mời bằng cách hứa hẹn sẽ giới thiệu ông với Bill.

Trong suỐt giai đoạn cuỐicủa các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào mùa thu năm 2006, một số thành viên chủ chốt của thế giới Hillary đã tỏ ra xem thường cái khả năng – mặc dù có vẻ khó xảy ra – của việc Barack Obama tranh cử tổng thống.

Một người bạn lâu năm của Hillary cáu kỉnh nói vào mùa thu năm 2006, “Nếu Obama thì thật nực cười.”

Điều mà lúc đó Hillary và các cố vấn hàng đầu của bà đã không biết là một trong các bạn cũ của Hillary đang thúc đẩy Obama ra tranh cử. Mùa hè năm đó, Greg Craig đã tham dự vài buổi gây quỹ cho Obama ở Washington. Một lần, trong một buổi như thế, hai người đã thảo luận về sự do dự của Obama đối với việc tìm kiếm chức tổng thống. Obama nói với Craig, “Tôi là người mới toanh ở Washington, và sẽ là quá táo bạo nếu tôi vừa mới đến đã ra tranh cử tổng thống.”

Craig trả lời, “Phải, điều đó có thể là táo bạo”, và bảo Obama rằng sự mới mẻ của ông trước Washington là một vốn quý, chứ không phải là một điều bất lợi, và ông nên xem xét lại sự do dự của mình. Craig cảm thấy Obama càng ở Washington lâu thì càng bị khốn khổ bởi “căn bệnh ở Thượng viện”, ở đó ông sẽ phải đối mặt với các lá phiếu khó khăn “mỗi ngày, và ở đó mỗi thượng nghị sĩ phải tự làm nổi bật mình lên so với các thượng nghị sĩ khác.”

VernonJordan đúng là đã nghĩ rằng Obama quá tự tin. Trong một bữa ăn tối kéo dài ba tiếng tại nhà Jordan tháng 11 năm đó, hai người bàn chuyện tương lai. Jordan, một lãnh tụ dân quyền hồi thập niên 1960, nói với Obama, “Việc gì cũng có thời điểm của nó, và tôi không nghĩ rằng đây là thời điểm của ông.” Obama lắng nghe một cách kính trọng, nhưng Jordan tin rằng “lúc đó ông ấy đã quyết định” ra tranh cử. Jordan nói với vị thượng nghị sĩ trẻ tuổi, “Ông phải làm điều mà ông phải làm. Tôi sẽ không đi cùng ông.”

Đến cuối năm 2006, danh tiếng của Obama đã nổi như cồn. Ở bất kỳ nơi nào ông đến để diễn thuyết cho những người Dân chủ, ông đều được tiếp đón bởi một làn sóng nhiệt tình. Cuốn sách thứ hai của ông, The Audacity of Hope (Sự táo bạo của hy vọng) đứng đầu danh sách sách bán chạy nhất trong nhiều tuần lễ. Tháng 12 năm đó, ngay trước chuyến đi đầu tiên của Obama đến New Hampshire, Craig đã giúp chuẩn bị một tài liệu dài trình bày cách thức để vị thượng nghị sĩ từ bang Illinois này có thể lèo lái vượt qua khung cảnh chính trị của bang New Hampshire, một bang trọng yếu[1].

Obama gọi điện thoại cám ơn Craig về tài liệu nói trên, và Craig bảo ông rằng ông có thể trông cậy vào sự hỗ trợ của Craig. Obama trả lời, “Tôi sẽ gặp lại ông.”

Obama nghỉ lễ Giáng sinh ở Hawaii, nói chuyện về tương lai của mình với vợ và hai cô con gái. Khi trở lại Washington sau tết dương lịch, ông quyết định ra tranh cử.

Obama bắt đầu nỗ lực trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên của đất nước vào ngày 10 tháng 2 năm 2007, tại Springfield, bang Illinois, ở tòa nhà Old State House, nơi mà vào năm 1958, Abraham Lincoln[2] đã đưa ra lời kết án chế độ nô lệ nổi tiếng, trong đó ông tuyên bố, “một ngôi nhà tự chia rẽ thì không thể đứng vững.” Mặc áo khoác nhưng không mang găng tay vào một buổi sáng lạnh lẽo trái mùa, Obama trình bày cuộc tranh cử đầy tính dũng cảm lãng mạn của mình như một phong trào của thế hệ hơn là một cuộc vận động tranh cử, hệt như Bill Clinton và Al Gore từng làm vào năm 1992. Ngồi ở Washington theo dõi bài diễn văn của Obama qua truyền hình, Craig thấy hài lòng khi thấy Obama cũng đã tiếp thu lập luận của mình, cho rằng sự thiếu kinh nghiệm của ông nên được coi là một tài sản chính trị quí giá.

Obama nói “Tôi thừa nhận rằng có một mức độ mạnh dạn nhất định – một mức độ táo bạo nhất định – trong việc công bố tranh cử này. Tôi biết rằng tôi đã không dành nhiều thời gian học hỏi những cung cách của Washington. Nhưng tôi cũng đã ở đó đủ lâu để biết rằng cung cách của Washington phải thay đổi.” Những lời bình luận về Washington của Obama đã tạo ra tràng vỗ tay lớn nhất và kéo dài nhất trong bài diễn văn dài hai phút của ông.

Vài tuần trước đó, Greg Craig đã viết một bức thư ngắn cho Hillary giải thích về quyết định của ông ủng hộ Obama tranh cử tổng thống. Bà đã không trả lời.

Tháng 2 NĂM2006, MỌI CHỖ NGỒI trong mọi hàng ghế của nhà thờ New Birth Missionary Baptist đều chật kín vào một ngày thứ ba giá rét. Đám đông đến ngôi nhà thờ to lớn ở ngoại vi Atlanta này để bày tỏ sự tôn kính lần cuối cùng của họ đối với Coretta Scott King. Dưới mái vòm trung tâm của nhà thờ là một chiếc quan tài bằng gỗ gụ kết đầy hoa chứa thi thể của đệ nhất phu nhân của phong trào dân quyền của nước Mỹ[3]. Đứng chung quanh quan tài là ba người con đã trưởng thành của bà, bốn vị tổng thống Mỹ, và hơn mười ngàn thân bằng quyến thuộc cùng những người ngưỡng mộ. Tổng thống George W. Bush cùng cha là Tổng thống George Herbert Walker Bush, và Tổng thống Jimmy Carter đều lần lượt bước lên bục để bày tỏ sự tôn kính đối với cuộc đời và di sản của Coretta Scott King. Những người dự lễ đã đáp lại từng vị bằng những tràng vỗ tay lịch sự, kính trọng. Rồi mục sư Eddie L. Long nâng micrô lên và nói, “Bây giờ tôi xin trân trọng giới thiệu ngài William J. Clinton và…”.

Một tiếng hoan hô ầm vang như sấm rền từ những người dự lễ đã nhấn chìm phần còn lại của lời giới thiệu của vị mục sư. Ông này tiếp tục “… và quý bà Hillary R. Clinton, Thượng nghị sĩ,” nhưng vào lúc đó không một ai nghe được ông nữa. Khi Bill và Hillary tiến về phía bục giảng kinh, tay trong tay, tất cả mọi người trong số người dự lễ mà đại đa số là người da đen đều đứng cả dậy, reo hò và vẫy tay; đàn ông huýt sáo và gầm lên còn phụ nữ ở mọi lứa tuổi thì thét lên, gọi tên Bill. Buổi lễ tưởng niệm bà King bỗng dưng hóa thành một cuộc tập hợp lực lượng đầy sôi nổi.

Trong lúc các đợt sóng hoan hô tiếp diễn, Bill đứng sau bục giảng và đưa hai tay lên, một lần, rồi hai lần, ra dấu cho đám đông giữ yên lặng. Hillary đứng bên trái chồng, nhìn ông cười rạng rỡ, rồi gật đầu và mấp máy môi tiếng cám ơn với đám đông, mặc dù hoàn toàn rõ ràng là đợt sóng ưu ái khổng lồ đó không dành cho bà mà cho chồng bà.

Cuối cùng, tiếng hoan hô dịu dần và những người dự lễ ngồi xuống lại. Bill nói, “Tôi xin cám ơn quý vị về sự tiếp đón tuyệt vời này,” rồi điểm thêm một nụ cười tinh nghịch, ông nói tiếp, “Có thể quý vị sẽ không thích lặp lại sự tiếp đón đó sau khi nghe điều tôi sắp phải nói đây.” Mọi người cười ồ. Nhìn qua phía bên phải và nghiêng người về phía trước, vị cựu tổng thống gật đầu nói với mục sư của nhà thờ và kéo dài giọng, “Thưa mục sư”. Mọi người lại cười ồ.

Bill nói, “Chúng tôi vinh dự được có mặt ở đây, tôi vinh dự được có mặt ở đây với tổng thống của tôi và các cựu tổng thống của tôi… và… và…, à…” Đám đông chỉ lặng yên được một lúc, cho tới khi Bill đưa nhẹ bàn tay trái về phía Hillary, làm như thể những lời kế tiếp của ông chỉ có thể là “và tổng thống kế tiếp của tôi.” Đám đông chắc chắn đã diễn giải cử chỉ của ông theo cách đó, đáp lại bằng một tiếng hoan hô còn rền vang hơn nữa. Bill vội vã nói, “Khôôông, khôôông,” và rồi Hillary lắc đầu không, không, không. Nhưng tiếng hoan hô không dừng lại cho tới khi Hillary đưa hai tay lên rồi hạ xuống nhiều lần trước mặt bà. Động tác đó có lẽ muốn nói là, không, đây không phải là lúc cũng không phải là nơi để nói về việc đó, nhưng cách dàn dựng tuyệt hảo của chồng bà đã đạt được mục đích “nói được mà không cần nói ra”, ngay ở đây và ngay lúc này.

Bill dừng lời trong giây lát, rồi khoát tay về phía chiếc quan tài, ông nói, “Đây là một người phụ nữ, cũng là một biểu tượng, cũng là hiện thân cho di sản của chồng bà, cũng là người phát triển di sản của chính bà.”

Tất nhiên là vị cựu tổng thống này đang nói về bà Coretta Scott King. Nhưng rất có thể Bill Clinton cũng đang đề cập đến người phụ nữ đứng bên cạnh ông.

Bill Clinton đã hứa chỉ phát biểu ngắn thôi, nhưng ông không có khả năng giữ những lời hứa loại này. Khi bài diễn văn của ông kéo dài ra. Hillary bắt đầu thở dài. Thoạt tiên, hơi thở của bà rất khó mà nhận ra. Nhưng khi bà tiếp tục thở dài rồi lại thở dài, thì những hơi thở sâu của bà khó mà bỏ qua được.

Cuối cùng, sau mười phút, tới lượt bà. Bàn tay bà tìm đến bàn tay chồng, rồi bà nắm bàn tay ấy trên mặt bục diễn thuyết. Cho dù cái nắm tay ấy là vì tình cảm hay vì cần thiết phải như vậy, thì rõ ràng là Hillary, đứng trước một rừng người và trước khán giả truyền hình cả nước, đã phải làm theo màn kịch gay go nhất trong chính trị nước Mỹ.

Bà bắt đầu, đọc từ văn bản chuẩn bị sẵn của mình, “Khi chúng ta được gọi, mỗi người trong chúng ta phải quyết định có trả lời có tôi cho tiếng gọi đó hay không. Và khi nghĩ đến Coretta Scott King, tôi nghĩ đến một người phụ nữ đã sống trọn đời theo tiếng gọi của mình.”

Bài diễn văn đều đều của bà nghe thậm chí còn đơn điệu hơn sau bài hát ru dân dã với âm điệu miền Nam đều đều của Clinton. Nếu bài ca ngợi của ông là một bản tụng ca không trau chuốt dành cho bà King, thì bài của Hillary là một lời độc thoại soạn sẵn được bà đọc với đôi mắt chủ yếu là nhìn xuống.

Đây không phải là đám đông của bà. Trước hết, việc Hillary có một vai trò phát biểu trong buổi lễ tưởng niệm này là đáng chú ý và đáng ngạc nhiên. Không có một phu nhân tổng thống nào khác cùng đứng với chồng trên bục. Duy nhất chỉ có một thượng nghị sĩ khác phát biểu hôm đó là Edward M. Kennedy từ bang Massachusetts, người đã từng có quan hệ bạn bè với bà King trong hàng thập niên.

Một người thân cận với gia đình King nói rằng Hillary được đưa vào chương trình chỉ vì sự nài nỉ từ những người đại diện của Bill Clinton. Người tin cẩn của gia đình King đó nói, “Thậm chí gia đình này còn không nghĩ tới bà ấy – họ muốn Bill Clinton kìa. Họ yêu mến ông ấy, nhưng khi họ nghe rằng ông ấy muốn bà ấy cũng phát biểu nữa, họ nói, OK, tốt thôi.” Tại buổi lễ tưởng niệm, Hillary nói với những người dự lễ rằng bà King đã “sống một cuộc đời như sự nối dài của đức tin và sự phán xét của mình.” Vị thượng nghị sĩ tạm dừng lời, rồi giọng nói của bà chuyển sang một âm điệu trầm bổng dân dã: “Khi bà gặp người sinh viên thần học này[4], ông đã nói với bà điều mà Bill vừa nhắc lại cho chúng ta, và bày tỏ rằng ông đang tìm kiếm một phụ nữ giống như bà để lấy làm vợ, tôi có thể mường tượng rằng bà đã phải suy nghĩ một chút, Mình đang đưa mình vào chuyện gì đây? Và, trên thực tế, bà đã đợi sáu tháng để có được câu trả lời. Bởi vì hẳn là bà đã phải biết trong thâm tâm rằng bà không chỉ kết hôn với một người đàn ông, mà là đem tâm nguyện của mình kết hợp với tâm nguyện của người ấy. Khi họ bắt đầu cuộc hôn nhân, và bắt đầu cuộc hợp tác của họ, mọi chuyện đã không dễ dàng.” Giống như những lời lẽ của chồng bà trước đó, lời phát biểu của Hillary cũng có thể dùng cho chính vợ chồng nhà Clinton.

NGAY CẢ SAU KHI OBAMA đã công bố ra tranh cử, vài thành viên trong Thế giới Hillary vẫn tiếp tục coi đây không phải là mối đe dọa. Ít nhất một nhà gây quỹ cho Hillary ở California đã đánh giá thấp cái ý kiến cho rằng ban vận động của bà lo ngại về việc Obama tranh đoạt các nhà gây quỹ và nhà tài trợ. Nhà gây quỹ này nói, “Tôi chưa từng gây quỹ dễ dàng như hiện nay. Mọi người đang lên tinh thần. Tiền đang chảy vào – mọi người đang say sưa, hàng trăm người… Barack Obama – đây không phải là thời của ông ấy. Đây là thời của bà ấy. Bà ấy được coi là một khuôn mặt lịch sử. Mọi người đều muốn dự phần vào lịch sử.”

Có một trường hợp ngoại lệ đáng chú ý giữa những người ủng hộ Hillary đầy nhiệt tình: Bill Clinton, ông đã sớm nhận ra rằng Obama chính là ứng cử viên trong lứa ứng cử viên hiện nay có nhiều cơ may nhất để làm trật bánh chuyến tàu của vợ ông trên con đường tới sự đề cử.

Đà tăng tốc sớm sủa của Obama chỉ là một lý do khiến cho cuộc đua tài chính càng trở nên quan trọng hơn. Một lý do khác là kế hoạch bầu cử sơ bộ rất nặng nề. Bởi vì, lần đầu tiên trong lịch sử, có đến hai mươi tiểu bang được dự kiến tổ chức các cuộc bầu cử sơ bộ vào ngày 5 tháng 2 năm 2008, chốt chặt các cuộc gây quỹ, tiền bạc, và việc lấy đà ban đầu trở nên quan trọng trong cuộc vận động tranh cử tổng thống này trở nên quan trọng hơn mọi cuộc tranh cử từ trước tới nay.

Cho dù đã có được một làn sóng nhiệt tình ban đầu, Hillary vẫn chưa hài lòng. Bà quyết định gia tăng áp lực lên cả các nhà gây quỹ lẫn các nhà tài trợ để họ cam kết gắn bó độc quyền với ban vận động tranh cử của bà. Mc Auliffe và những người khác nói với mọi người rằng nếu họ ký kết sớm sủa và độc quyền với Hillary thì điều đó sẽ có ý nghĩa hơn rất nhiều đối với bà, so với việc họ ký kết muộn hơn sau khi đã có một cuộc dan díu tài chính ngắn ngủi với Obama. Tại một bữa tiệc đăng ký tổ chức ở Los Angeles, với sự tham dự của vài trăm người ủng hộ và nhà tài trợ, McAuliffe đã nói đùa rằng việc góp tiền độc quyền cho Hillary là rất quan trọng, mượn một câu nói nổi tiếng của George W. Bush để tuyên bố: “Quý vị hoặc là theo chúng tôi hoặc là chống chúng tôi.”

Cách McAuliffe nói ra câu đó có thể là khôi hài, nhưng ở hậu trường, những người phụ trách tài chính của Hillary không hề cười. Obama đã tỏ ra thành thạo bất ngờ trong việc chiêu mộ được vài bạn bè cũ và là nhà tài trợ của Bill và Hillary ở Hollywood – điều này khiến một số nhà gây quỹ chính của Hillary hết sức lo âu. Cuộc giành giật này đã được đưa lên trang nhất các báo trong cả nước sau khi tỉ phú David Geffen ký kết với Obama. Geffen, một người đồng sáng lập và góp vốn trong hãng phim Dreamworks, từng là một trong những người ủng hộ kiên định nhất của Bill, đã gây quỹ tổng cộng lên đến 18 triệu đôla cho vợ chồng Clinton và Đảng Dân chủ trong suốt thập niên 1990. Nhưng, như cách nói của một nhà gây quỹ Đảng Dân chủ ở bang California, “Ông ấy luôn là một người theo Clinton hơn là theo Hillary.”

Vào giữa tháng hai, một tuần trước lễ trao giải Oscar, Geffen tổ chức một bữa ăn tối gây quỹ để ủng hộ Obama dành cho bốn mươi người bạn, tại tòa nhà ở Bevery Hills của ông do ông trùm hãng phim Jack Warner xây. Thu hoạch: 1,3 triệu đôla. Một nhà gây quỹ tuyên bố rằng Hillary “mất bình tĩnh” trước làn sóng ủng hộ nhiệt tình dành cho Obama ở Hollywood – lãnh địa vốn trung thành gần như hoàn toàn với vợ chồng Clinton kể từ năm 1992.

Geffen nói với Maureen Dowd của tờ New York Times, “Bất kỳ ai là người được [Đảng Dân chủ] đề cử cũng sẽ chiến thắng, và tôi không nghĩ rằng một gương mặt gây phân cực thái quá nào, bất kể bà ấy thông minh tới đâu và nhiều tham vọng tới đâu – và Chúa biết đó, còn ai nhiều tham vọng hơn Hillary Clinton nữa? – có thể đoàn kết đất nước lại.” Geffen nói thêm, Obama “mang lại cảm hứng, và ông ấy không đến từ gia đình hoàng tộc Bush hay gia đình hoàng tộc Clinton.”

Khi Howard Wolfson, cố vấn truyền thông của Hillary, đọc bài báo của Dowd sáng sớm hôm 21 tháng 1 năm 2007, ông đã nổi giận. Wolfson đặc biệt tức giận về nhận xét sau của Geffen: “Mọi người trong chính trường đều nói dối, nhưng [vợ chồng Clinton] làm điều ấy một cách quá thoải mái, thật là đáng lo ngại”.

Sau khi tham khảo ý kiến Hillary, Wolfson nhanh chóng đưa ra một tuyên bố chỉ trích Geffen về việc “tấn công Thượng nghị sĩ Clinton và chồng bà một cách độc địa cá nhân.” Ông nói thêm rằng trong cuộc vận động tranh cử không có chỗ cho “kiểu chính trị hủy diệt cá nhân,” gán cho Obama cái tội ăn nói trắng trợn của Geffen, và kêu gọi ban vận động của Obama trả lại tiền đóng góp của Geffen. Obama quyết định chọn con đường thuận lợi nhất, một mực nói rằng ông không muốn “xen vào giữa mối bất hòa của vợ chồng Clinton với một người đã từng là một trong những người ủng hộ lớn nhất của họ.”

Tối hôm đó, một nhóm nhỏ các nhà gây quỹ cho các ứng cử viên khác nhau của Đảng Dân chủ đã họp lại ở New York để cố gắng làm giảm sự giận dữ và sự chia rẽ đang tăng nhanh. Một trong những bài học mà những người Dân chủ đã học được từ những người Cộng hòa là đảng nào đoàn kết với nhau và dùng năng lượng để tấn công các đối thủ bên ngoài thì sẽ thành công hơn rất nhiều so với các đảng dùng thời gian để đấu đá nội bộ. Nhưng phe Hillary không định giương cờ trắng. Cuộc tấn công của bà vào Geffen là nhằm gián tiếp đưa Obama vào thế thủ. Một chiến lược gia đã mô tả cuộc tấn công này là “một phát súng cảnh báo quan trọng”, phản ánh sự lo lắng trong phe Hillary về Obama. Những mối lo ngại đó là rất có cơ sở. Nhà thăm dò dư luận của Hillary, Mark Penn, đã phát hiện một tình trạng đáng báo động trong các tuần lễ theo sau vụ cãi cọ đó: Hillary bị mất đi một cách nghiêm trọng và đột ngột sự ủng hộ của những cử tri người Mỹ gốc Phi, một xu hướng mà một nhà chiến lược đã kết tội là do cuộc đụng độ giữa Hillary với Obama về cuộc gây quỹ của Geffen. Vào tháng 1 năm 2007, Hillary đã dẫn trước Obama, với 60 phần trăm so với 20 phần trăm sự ủng hộ của cử tri da đen, nhưng đến cuối tháng 2, Obama lại dẫn trước trong số cử tri da đen với 44 phần trăm ủng hộ so với 33 phần trăm. Tại những tiểu bang then chốt, gồm cả Nam Carolina và Georgia, sự vượt lên của Obama trong số cử tri da đen thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa.

Một chiến lược gia và là bạn thân của Hillary nói, “Họ làm cho những người Mỹ gốc nổi giận. Họ xử lý sai lầm chuyện này… Họ đã tạo thế đứng cho Obama, và họ làm cho ông ấy trở thành một người tử đạo của người Mỹ gốc Phi. Chuyện này giống như một cuộc tấn công. Nó vi phạm một cấm kỵ trong chính trị miền Nam – đừng cho người da đen cơ hội được tử vì đạo, và đó chính là điều mà họ đã làm.”

Một người thân cận với hai vợ chồng này nói Bill đã cho rằng sự cố không may liên quan đến nhà gây quỹ Geffen là một bước đi sai lầm nghiêm trọng của ban vận động của Hillary: “Bill giận điên người về chuyện này. Ông rất bực bội về cuộc tấn công đó. Ông nghĩ rằng chuyện này thật ngu ngốc.” Một chiến lược gia lâu năm phàn nàn rằng cuộc tấn công nhắm vào Obama “lẽ ra đã không bao giờ xảy ra” nếu Bill đã được tham khảo ý kiến, và kết luận rằng vị cựu tổng thống này cần “can dự nhiều hơn” trong cuộc vận động tranh cử của Hillary. Nhưng Bill chỉ có thể làm bấy nhiêu thôi. Rốt cục, đây là cuộc tranh cử của Hillary, và bà ấy sẽ tranh cử theo cách của bà.

VÀO THÁNG 3 NĂM 2007, Bill xuất hiện với Hillary tại ba buổi gây quỹ tranh cử ở New York, Washington, và Los Angeles. (“Thật là tuyệt – tôi phải giới thiệu Hillary,” ông nói với vẻ vui sướng rõ rệt tại khách sạn Marriotte Wardman Park ở Washington.) Tại mỗi buổi ông đều nhiệt tình tán thành việc tranh cử của vợ và tỏ ra hết sức hạnh phúc được trao cho bà ấy ngọn đuốc lãnh đạo, giống như điều dường như ông đã cố làm ở lễ tưởng niệm Coretta Scott King.

Bill nói với một đám đông hân hoan gồm một ngàn người góp quỹ tại khách sạn Sheraton ở trung tâm Manhattan, “Chúng ta bầu làm tổng thống ứng cử viên nào có thể trở thành vị tổng thống tốt nhất. Quý vị sẽ không bao giờ tìm được ai giữ chức vụ đó tốt hơn bà ấy.”

Các sự kiện như thế là một phần thiết yếu – và có lẽ là phần thiết yếu nhất – của một cuộc vận động tranh cử. Và không có gì đáng ngạc nhiên khi Hillary do dự không muốn chấp nhận một hành động nhằm thay đổi hệ thống tài chính của cuộc vận động tranh cử. Từ khi bước vào Thượng viện năm 2001, chưa từng có thượng nghị sĩ nào gây được quỹ nhiều hơn bà – 51,5 triệu đôla, theo Trung tâm Responsive Politics. Với cuộc tranh cử tổng thống 2008 của bà, Hillary đặt một mục tiêu gây quỹ đầy tham vọng với số tiền kiếm được cho đến các kỳ bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ là 100 triệu đôla. Một nhà gây quỹ nói ông tin rằng mục tiêu đó sẽ dễ dàng đạt được và có thể vượt qua 125 triệu đôla, phá vỡ kỷ lục thiết lập năm 2004 bởi Tổng thống Bush. (Để đạt được mục tiêu này, Hillary quyết định phớt lờ hệ thống tài trợ công cho cuộc tranh cử tổng thống, như George W. Bush đã làm vào năm 2000 và 2004.) Bà không phải là người duy nhất thúc ép những người ủng hộ, những nhà gây quỹ tranh cử của bà yêu cầu những người đóng góp phải đóng con số tối đa cho cả các cuộc bầu cử sơ bộ lẫn cuộc bầu cử chung là 4.600 đôla. Trong khi đó, Bill tham dự rất nhiều sự kiện gây quỹ tổ chức riêng của ông trên khắp đất nước với những người đóng góp hào phóng nhất. Ông cũng đảm nhiệm những mảng mà bà bỏ lại trong việc “vươn tới các tôn giáo”. Và ông thường xuyên làm việc qua điện thoại thay mặt bà, kêu gọi những người Dân chủ đang lưỡng lự hãy “ký kết”, như ông đã làm hồi đầu năm 2007 ở Nam Carolina và các tiểu bang tổ chức bầu cử sơ bộ sớm khác.

Khác với Hillary, Obama đã quyết định không chấp nhận tiền tài trợ từ các ủy ban hành động chính trị và các nhà vận động hành lang. Mặc dù sắc sảo về mặt chính trị, quyết định này ít nhiều là một nước cờ ngắn hạn nhiều mạo hiểm. Ông hy vọng rằng một nỗ lực gây quỹ dựa vào đại chúng nhắm đến các nhà tài trợ nhỏ và những người đóng góp lần đầu tiên có thể giúp ông ít nhất là tỏ ra cạnh tranh được với Hillary trong “cuộc bầu cử sơ bộ bằng tiền.” Nhưng những khoản tài trợ lớn vẫn thường đến từ chính những nhóm đặc quyền đặc lợi mà Obama từ chối giao dịch.

Tuy nhiên, Obama không mấy khó khăn trong việc gây quỹ. Greg Craig nói một cách thán phục, “Đó không phải là vấn đề gây quỹ, mà là vấn đề xử lý số lượng người khổng lồ đang cố tìm cách đóng góp tiền. Phần khó khăn nhất trong việc gây quỹ trong phe Obama là hoạch định cho thời gian của ông – có một nhu cầu khổng lồ về thời gian. Không có gì giới hạn, ngoài sự giới hạn về thời gian của ông.”

Trong khoảng thời gian vài ngày sau cuộc đụng độ giữa Hillary và Obama, hai người bỗng thấy mình, lần đầu tiên, cùng có mặt tại một khu vực nhỏ trên con đường vận động tranh cử, ở Selma, tiểu bang Alabama, để tưởng niệm lần thứ bốn mươi hai của cuộc tuần hành nổi tiếng “Ngày Chủ nhật Đẫm máu” chống lại sự phân biệt chủng tộc – ngày 7-3-1965. Ngày ấy, những người phản đối đã quyết tâm tuần hành năm mươi dặm đến Montgomery, bang Alabama, nhưng họ bị chặn lại bởi quân đội, với nhiều binh sĩ cưỡi ngựa, tại cây cầu Edmund Pettus của Selma. Cuộc đụng độ đẫm máu đã khiến mười bảy người biểu tình phải nhập viện, trong đó có John Lewis, một trong những người tổ chức cuộc tuần hành và hiện là một hạ nghị sĩ Hoa Kỳ từ bang Georgia. Đối với những người da đen và những người ủng hộ dân quyền đã thúc đẩy việc thông qua Đạo luật về quyền bầu cử, Selma là mảnh đất thiêng liêng của cuộc đấu tranh dân quyền.

Obama đã được mời dự lễ tưởng niệm Ngày Chủ nhật Đẫm máu từ nhiều tuần trước đó, còn Hillary được mời khoảng một tuần trước sự kiện này. Sự hiện diện của bà có lẽ là bằng chứng mạnh mẽ nhất cho thấy bà không còn xem nhẹ Obama nữa. Như một người bạn lâu năm của Hillary nhận xét về ban vận động tranh cử của bà, “Trước đây họ không chú trọng đến ông ấy và bây giờ họ chú trọng. Họ lo âu về ông ấy. Ông ấy là một mối đe dọa đích thực.”

Trong buổi lễ ngày chủ nhật tại các nhà thờ nằm trên cùng một con đường và chỉ cách nhau ba đoạn phố ngắn, Hillary và Obama đã đứng trên bục giảng để nói chuyện. Cả hai đều cho rằng cuộc tuần hành ở Selma đã dọn đường cho việc ra tranh cử tổng thống có tính lịch sử của chính họ.

Obama nói chuyện vào ngày chủ nhật đó, từ bục giảng của nhà thờ Brown Chapel AME, là điểm xuất phát của cuộc biểu tình lịch sử. Cùng tham dự với ông trong ngôi nhà thờ đầy nghẹt đó còn có John Lewis. Obama cúi chào những con người dũng cảm đã từng đi tuần hành, trong đó có Lewis. Obama so sánh mình, và những người khác mà vào năm 1965 vẫn còn nhỏ hoặc chưa chào đời, với Joshua, người mà Thánh Kinh nói là đã đi theo Moses và hoàn tất công việc dẫn dắt mọi người đến Vùng đất hứa. Obama nói, “Tôi cho rằng câu hỏi đặt ra hôm nay là thế hệ Joshua chúng ta có sứ mạng gì? Chúng ta phải làm gì để hoàn thành công việc được giao lại ấy?” Bài nói chuyện của ông thường xuyên bị ngắt quãng bởi những tiếng hò reo cuồng nhiệt của những người sùng tín và những tràng pháo tay kéo dài.

Bốn phút sau khi Obama hoàn tất bài nói chuyện, Hillary bước lên bục giảng ở nhà thờ First Baptist của Selma. Đối với khán giả xem truyền hình trực tiếp tại nhà trên các kênh tin tức truyền qua cáp và C-SPAN, sự khác biệt giữa hai ứng cử viên này về phong cách hùng biện thì rất rõ ràng. Obama có kiểu cách thoải mái, như là chuyện trò, trong khi Hillary có vẻ dựa vào những lời lẽ soạn sẵn nhiều hơn. Bill không có mặt bên trong nhà thờ lúc bà nói chuyện, nhưng đã đến với bà sau đó. (Dịp cuối tuần đó, Bill đã được đưa vào Nhà lưu danh Quyền bầu cử của Selma.)

Hillary nói cuộc tuần hành đó đã khiến cho bà có thể ra tranh cử tổng thống, và bà cũng cho rằng nhờ cuộc tuần hành đó mới có cuộc tranh cử của Obama, cũng như cuộc vận động của Thống đốc Bill Richardson của tiểu bang New Mexico, người đang nỗ lực để trở thành người gốc Mỹ la-tinh đầu tiên đắc cử tổng thống. Nhưng Hillary tuyên bố, cuộc đấu tranh dân quyền ở nước Mỹ còn lâu mới kết thúc. Bà nói với những người dự lễ, “Chúng ta phải luôn tỉnh thức. Chúng ta phải tỉnh thức vì chúng ta còn phải kết thúc một cuộc tuần hành, một cuộc tuần hành đến một nước Mỹ vẹn toàn.” Với giọng cất cao, trong lúc những người dự lễ gầm lên, bà nói, “Nghèo khổ và bất bình đẳng gia tăng là quan trọng. Chăm sóc y tế là quan trọng. Dân chúng ở vùng duyên hải vịnh Mexico là quan trọng. Các binh sĩ của chúng ta là quan trọng. Tương lai của chúng ta là quan trọng.”

Cả Hillary và Obama đều dùng lịch sử bản thân họ để xây một cây cầu nối với phong trào dân quyền. Đây là một công việc dễ dàng hơn đối với vị thượng nghị sĩ bang Illinois, ông đã nói một cách say sưa về cuộc đấu tranh của người cha Kenya của ông, người đã từng là một “cậu bé giúp việc nhà” cho các gia đình người Anh giàu có. Về phần mình, Hillary nói về chuyện bà đã đến nghe buổi nói chuyện của Mục sư Martin Luther King Jr. ở Chicago năm 1963, nhưng nếu so sánh với câu chuyện của Obama thì mối liên quan của bà với phong trào dân quyền có vẻ xa xôi hơn.

Hillary sau đó còn gặp trắc trở bởi một nhận định cho rằng bà đã cố làm hài lòng người nghe bằng cách, có một lúc, bà bỗng chuyển sang giọng miền Nam đặc sệt để đọc lại bài tụng ca nổi tiếng của giáo sĩ da đen James Cleveland: “Tôi không hề cảm thấy mệt mỏi/ Tôi đi rất xa từ nơi tôi đã khởi hành/ Không ai bảo tôi rằng đường đi sẽ dễ dàng/ Tôi không tin là Người đã đưa tôi đi xa đến thế này để rồi rời bỏ tôi.” Những người dự lễ đã gào thét và hoan hô, nhưng việc Hillary đọc lại bài hát đó hầu như ngay tức khắc đã bị chế giễu trên internet, và sau đó, có thể đoán trước được, trên đài Fox News. Những người ủng hộ bà thì nói rằng tại bà đã sống gần hai thập niên ở bang Arkansas, nhưng một chiến lược gia cho Clinton sau này đã thừa nhận rằng “trong một cơn điên cuồng về Obama”, bà đã chuyển sang giọng miền Nam, để rồi chỉ thấy mình, rốt cục, gặp “rắc rối”.

Sau các bài nói chuyện trên bục giảng, Obama và Hillary chuẩn bị cho việc trình diễn lại cuộc tuần hành. Trong khi họ đang chờ, Bill đã tới nhập cùng, đùa cợt, “Các cuộc nói chuyện hay ho đã được Hillary và Thượng nghị sĩ Obama làm xong xuôi rồi. Tôi chỉ thuộc loại khóa đuôi.”

Bill và Hillary bắt tay Obama, rồi họ có cuộc chuyện trò ngắn với nhau. Khi các máy ảnh nháy lên, vị cựu tổng thống mỉm cười với đối thủ của vợ mình. Sau đó các ứng cử viên đã đan tay với John Lewis và các nghị sĩ và quan chức địa phương khác để đi bộ qua cây cầu. Trong lúc đoàn người kéo dài và thẳng hàng tuần hành, với những cánh tay choàng vào nhau và những bàn tay nắm chặt nhau, Hillary và Obama đi cách nhau có mỗi hai người. Mọi người hát vang bài Chúng ta sẽ chiến thắng.

Khi Bill trở về New York vào cuối tuần lễ, ông kể một cách thán phục cho một người bạn về các kỹ năng chính trị và hùng biện của Obama. Bill nói, “Ông ấy là thứ thiệt.”

Một tháng sau, trong một cuộc phỏng vấn truyền hình với Larry King, Bill công khai ca ngợi Obama, “Ông ấy là một người có tài năg thiên phú về chính trị,” nhưng Bill gắn một số thành công ban đầu của Obama với cách đưa tin thuận lợi của báo chí và “cách vận hành của văn hóa truyền thông.”

Sau khi ca ngợi Obama, Bill được hỏi về phản ứng của ông đối với một kết quả thăm dò cho biết rằng 60 phần trăm người Mỹ muốn Bill tham gia vào một chính quyền Clinton thứ hai[5]. Thú nhận rằng ông không ngạc nhiên trước tình cảm đó, vị cựu tổng thống nói, “Tôi có nhiều kinh nghiệm và tôi có thể giúp đỡ bà ấy. Và chúng tôi đã học được nhiều điều – không chỉ từ những thành công của chúng tôi, mà còn từ những việc mà chúng tôi đã cố làm nhưng không thành công.”

King hỏi, “Và ngài vẫn còn yêu bà ấy phải không?”

“Nhiều lắm.”

❀ ❀ ❀

[1] trong các cuộc bầu cử tổng thống - ND

[2] 1809-1865, tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ - ND

[3] Bà là vợ của Martin Luther King, 1929-1968, mục sư, lãnh tụ phong trào dân quyền ở Mỹ, bị ám sát - ND

[4] Ý nói mục sư Luther King - ND

[5] Tức chính quyền của bà Hillary - ND

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.