THÁNG 9 NĂM 1970, trong phòng giải trí của sinh viên trường Luật Yale, Hillary Rodham không thể không chú ý đến một anh chàng đẹp trai dong dỏng cao có bộ râu màu nâu đỏ và mái tóc màu hạt dẻ bồng bềnh như bờm ngựa. Anh đang nói chuyện sôi nổi và cởi mở với một nhóm bạn, và sau này Hillary nhớ lại, lúc ấy anh trông giống một tên cướp biển giữa đám quần thần hơn là một sinh viên luật năm thứ nhất đang cố làm quen với những người bạn mới.
Những lời đầu tiên mà Hillary nghe anh chàng nói bằng cái giọng miền Nam ngọt ngào là “... và không chỉ có thế, chúng tôi trồng được những trái dưa hấu lớn nhất thế giới!”
“Ai thế nhỉ?” Hillary hỏi một người bạn.
“Ồ, đó là Bill Clinton,” người bạn đáp. “Cậu ấy đến từ Arkansas và cậu ấy chỉ nói về chuyện ấy.”
Ngày hôm đó, Hillary đã không nói chuyện với Bill. Thực tế là phải gần hai học kỳ trôi qua họ mới bắt đầu làm quen với nhau. Tuy vậy, trong suốt học kỳ mùa thu sang học kỳ mùa xuân, cả hai đã dành rất nhiều thời gian chỉ để ngó nhau chằm chằm trong phòng thư giãn của sinh viên hoặc trong thư viện trường Luật. Một buổi tối mùa xuân trong thư viện, Hillary nhìn thấy Billl ngoài hành lang, đang nói chuyện với Jeff Gleckel; anh chàng sinh viên này đang cố thuyết phục Bill viết bài cho tờ báo Yale Law Journal. Trong lúc lắng nghe giọng nói lảnh lót của Jeff, Bill cứ liếc nhìn Hillary. Cuối cùng Hillary quyết định rằng việc đó không cần thiết nữa. Cô đứng dậy, đi thẳng tới trước mặt kẻ hâm mộ mình, chìa bàn tay ra và nói: “Nếu anh cứ giương mắt nhìn tôi và tôi cứ nhìn lại anh thì có lẽ chúng ta nên làm quen với nhau. Tôi là Hillary Rodham.”
Bill thoáng bối rối và thích thú trước sự thẳng thắn của người con gái này – vẻ dạn dĩ của cô làm cho anh gần như không mở miệng được, mà như thế đã là thắng lợi rồi. Nhưng đối với Hillary, việc này chẳng có gì đáng ngạc nhiên, cũng chẳng có gì đặc biệt. Như mọi người vẫn còn nhớ, Hillary Rodham luôn nắm thế chủ động theo một cách khiến đầu óc người khác phải quay cuồng.
“TÔI KHÔNG SINH RA LÀ ĐỆ NHẤT PHU NHÂN hoặc Thượng nghị sĩ,” Hillary Rodham Clinton viết như vậy trong đoạn mở đầu cuốn tự truyện năm 2003 của bà, cuốn Living History. “Tôi không sinh ra là đảng viên Đảng Dân chủ. Tôi không sinh ra là luật sư hoặc là người ủng hộ nhân quyền và nữ quyền. Tôi không sinh ra là người mẹ hay người vợ. Tôi sinh ra là một người Mỹ vào giữa thế kỷ hai mươi, tại một thời điểm và một nơi đầy may mắn.”
Diane Rodham sinh ở Chicago ngày 26 tháng 10 năm 1947. Tuổi thơ của bà trôi qua chủ yếu ở vùng ngoại ô xanh tươi Park Ridge; đó là những năm tháng hạnh phúc nhờ cha mẹ, ông Hugh và bà Dorothy Rodham. Cha của bà là một người đàn ông gốc xứ Wales, sắc sảo và ưa tranh cãi, đến từ thành phố Scranton, bang Pennsylvania. Ông tìm được chân bán hàng lưu động ở vùng Trung Tây cho công ty Columbia Lace. Chính ở đó, ông đã gặp bà Dorothy Howell, lúc ấy cũng đang xin làm thư ký đánh máy. Ngay lập tức bà bị thu hút bởi cách cư xử có phần kiêu ngạo và cung cách làm việc nghiêm túc của ông; thậm chí bà còn thấy vẻ duyên dáng trong tính châm chọc chua cay của ông nữa. Năm 1927, cha mẹ Dorothy đã chia tay khi bà mới lên tám – đây là một quyết định làm bối rối cả gia đình bởi ly hôn chưa phải là hiện tượng phổ biến trong thập niên 1920. Dorothy và các anh chị em được cha mẹ gửi đến California sống với ông bà ngoại. Mặc dù có thái độ dè dặt dễ hiểu đối với cuộc sống hôn nhân, Dorothy vẫn kết hôn với ông Hugh vào đầu năm 1942, không bao lâu sau khi Nhật ném bom Trân Châu Cảng, và rồi những đứa con lần lượt ra đời, trước tiên là Hillary, rồi Hugh Jr. và cuối cùng là Tony.
Gia đình Rodham làm việc cật lực để bảo đảm cho Hillary và hai đứa em trai được lớn lên với tất cả lợi thế của một môi trường sống an lành và sung sướng. Họ sống trong một ngôi nhà gạch hai tầng được chăm sóc cẩn thận – trên khu đất góc đường Elm và đường Wisner – ngôi nhà mà ông Hugh mua bằng tiền mặt. “Chúng tôi có hai sân thượng, một hành lang có tường bao và một khoảnh sân có rào chắn, nơi đám trẻ hàng xóm thường đến chơi đùa hoặc hái quả sơ-ri trong vườn nhà,” Hillary đã viết như vậy trong cuốn tự truyện của mình. “Cuộc bùng nổ dân số thời hậu chiến đang trong giai đoạn cao trào và ở đâu cũng có từng bầy con nít. Có lần mẹ tôi đếm được có đến bốn mươi bảy đứa trẻ sống trong khu nhà của chúng tôi.”
Trên lối nhỏ vào nhà xe của họ lúc nào cũng đậu sẵn chiếc Cadillac bóng lộn, sự hiện diện của nó có chút gì đó không thật. Ông Hugh là một trong vài nhân viên chào hàng sống trên đường Elm. Hầu hết cha mẹ các bạn nhỏ của Hillary đều là luật sư, bác sĩ, hoặc kế toán – những người ngày ngày thường đi xe lửa đến văn phòng của họ trên khu Loop. Chiếc xe hơi bóng lộn của ông Hugh không hẳn là dấu hiệu của sự giàu có mà là một nhu cầu nghề nghiệp: ông cần đến nó để đi chào hàng cho công ty vải Rodrik Fabrics mà ông mới thành lập vài năm trước khi gia đình chuyển về Park Ridge. Ông làm việc mỗi ngày mười bốn tiếng đồng hồ trong cái doanh nghiệp còn non trẻ, chuyên sản xuất rèm cho các khách sạn và cao ốc văn phòng; một mình ông đảm đương mọi việc, từ nhận điện thoại đặt hàng tới may vá các tấm rèm bằng tay rồi cuối cùng tự mình đi giao hàng. Phải mấy năm sau, khi hai cậu con trai đã đủ lớn để giúp bố một tay vào những ngày thứ bảy hiếm hoi, ông mới gọi là có người đỡ đần.
Ông Hugh là “một doanh nhân nhỏ, bằng tấm gương của chính mình đã dạy cho chúng tôi – những giá trị của lao động cần cù và tinh thần trách nhiệm,” Hillary từng nói như vậy. Là người theo Đảng Cộng hòa, ông Hugh rất hãnh diện đã phục vụ trong hải quân với một chức sĩ quan cấp thấp, ở đó ông huấn luyện các tân binh tham chiến trên mặt trận Thái Bình Dương. Ở nhà, ông không dung thứ những trò ngu xuẩn; ông đòi hỏi con cái mình phải khôn ngoan, cứng rắn, hứng chịu những cú đấm của cuộc đời mà không hé răng than thở. Hillary nhớ lại, sự nghiêm khắc của người cha là dành cho mấy đứa con trai, hơn là cho bà. Nhưng những kỳ vọng cao xa của ông rằng các con sẽ học hành giỏi giang ở trường và biết tự lực suy nghĩ thì lại áp dụng cho cả Hillary.
Mẹ của Hillary, bà Dorothy, sau này được cô con gái miêu tả là “một người nội trợ điển hình.” Bà thức dậy đúng 6 giờ sáng, dọn giường, giặt áo quần, rửa chén đĩa và sửa soạn bữa ăn trưa cho gia đình gồm mì gà, xúp cà chua, phó mát chiên, bơ đậu phộng và bánh mì sandwich kẹp xúc xích hun khói. Theo quan sát của bà Dorothy, ngay từ tuổi ấu thơ, Hillary dường như đã bị ám ảnh bởi ý thức rằng mình là người đặc biệt. Khi còn là một cô bé, Hillary thường dành hàng giờ khiêu vũ ngoài sân sau dưới ánh nắng, hai tay đưa cao lên khỏi đầu, hướng tới tàn cây phong và bầu trời trên cao. Cô bé tưởng tượng có “những đôi mắt từ trên trời cao đang dõi theo mọi cử động của mình,” sau này Hillary nhớ lại. Còn khi chơi đùa với những đứa trẻ khác hoặc tiếp xúc với người lớn, Hillary thường chứng tỏ một sự trưởng thành trước tuổi. Bà Dorothy Rodham thường nói rằng, có vẻ như cô con gái độc nhất của bà sinh ra đã là người lớn.
Mặc dù có nét duyên dáng và sức mạnh trái hẳn tuổi của mình, Hillary vẫn phải đương đầu với những cuộc xung đột tuổi thơ mà ai cũng có. Lúc lên bốn tuổi, chỉ một thời gian ngắn sau khi gia đình chuyển về sống ở Park Ridge, Hillary đã phấn đấu tìm cho ra một chỗ thích hợp trong cái nhóm lộn xộn của bọn trẻ con trước tuổi đến trường ở cùng xóm. Cô bé có một thời gian rất khốn khổ với một bé gái khác tên là Suzy O Callaghan – cô bé này mạnh hơn và cứng rắn hơn tất cả đám con gái và hầu hết bọn con trai. Suzy thường đánh lũ trẻ hàng xóm, trong đó có cả Hillary, và cô bé chỉ biết vừa khóc vừa chạy về nhà mách mẹ.
Trong khi cô bé mong chờ một sự cảm thông, thì bà mẹ lại cứng rắn. “Trong nhà này không có chỗ cho những kẻ hèn nhát,” bà Dorothy bảo con gái. “Ra ngoài kia, nếu như Suzy đánh con thì mẹ cho phép con đánh trả đấy. Con phải biết tự bảo vệ mình chứ.”
Thế là với lòng tự tin, Hillary huỳnh huỵch chạy ra sân, và trong lúc đám trẻ con trai gái đứng nhìn (bà Dorothy cũng lén nhìn từ sau tấm rèm cửa phòng ăn), cô bé giáng trả một cú đánh của Suzy, mạnh đến nỗi con bé kia ngã uỵch ra đất. Hillary đắc thắng quay vào nhà nói với mẹ, “Bây giờ thì con chơi với đám con trai được rồi! Còn Suzy sẽ là bạn con!” “Đám con trai hưởng ứng ngay,” bà Dorothy nhớ lại với niềm kiêu hãnh. “Nó trở thành kẻ cầm đầu và bọn trẻ để nó cầm đầu.”
Quả thực bọn trẻ chấp nhận như thế. Hillary nổi lên thành một lãnh đạo tự nhiên trong các trò chơi trường sức của trẻ con như bóng rổ, khúc côn cầu trên băng, bóng đá, bóng mềm. Nhưng cô bé vẫn thích các trò thi đố giàu trí tưởng tượng hơn, chẳng hạn như một trò chơi khá phức tạp có tên là “đuổi bắt và chạy trốn”, hao hao trò trốn tìm. Khi lên mười, mười một tuổi, Hillary bắt đầu gia nhập nhóm người lớn, chơi đánh bài với cha, ông nội, chú Willard và với một số bạn bè kỳ cục của họ, kể cả hai ông lão ốm yếu luôn thua bài là lão Pete và lão Hank. (“Thằng khốn tóc đen đó có nhà không?” Lão Pete thường hỏi Hillary như vậy về cha cô bé, mỗi khi lão lóc cóc bước lên bậc thềm dẫn lên hàng hiên trước, vừa đi vừa khua gậy ầm ĩ. “Ta muốn chơi bài.”) Không dưới một lần, lão Pete đã lật cả bàn chơi bài sau khi bị thua đậm.
Hillary học được những bài học về lao động và tinh thần thể thao từ những người đàn ông trong gia đình, nhưng chính mẹ cô mới là người đưa lại những bằng chứng trực tiếp và sâu sắc nhất về tầm quan trọng của học bổng đối với các cô gái khi mà các cô có rất ít cơ hội để tiến thân. “Mẹ tôi yêu ngôi nhà và gia đình của bà, nhưng mẹ cảm thấy bị hạn chế vì có quá ít lựa chọn trong đời,” Hillary đã viết về mẹ như vậy trong cuốn tự truyện của mình. “Giờ đây, khi phụ nữ đã có vô vàn lựa chọn, chúng ta dễ dàng quên rằng, sự lựa chọn của những người thuộc thế hệ mẹ tôi là hạn hẹp biết chừng nào.” Hillary đã từng thấy sự thất vọng của mẹ trước sự hạn chế về các lựa chọn cá nhân và nghệ thuật. Thậm chí cô rất xúc động bởi khát vọng suốt đời của người mẹ về việc học hành. Dorothy đã theo các lớp ở đại học và mặc dù không bao giờ học xong, bà đã cố tích lũy hàng chục tín chỉ của nhiều môn học và lĩnh vực khác nhau. “Mẹ tôi muốn chúng tôi phải học về thế giới thông qua việc đọc sách,” Hillary nhớ lại. Và phần lớn thời thơ ấu của Hillary đã diễn ra đúng như vậy. “Tuần nào bà cũng dẫn tôi tới thư viện và tôi thích việc đi lại giữa các kệ sách trong khu vực dành cho thiếu nhi.”
* * *
TỪ RẤT LÂU, TRƯỚC KHI THAM GIA VÀO cuộc sống công cộng, Hillary đã đấu tranh để dung hòa những giá trị và quan điểm luôn hoàn toàn đối lập nhau của cha mẹ. “Tôi lớn lên giữa lực đẩy và lực kéo của các giá trị mà cha mẹ tôi là đại diện và niềm tin chính trị của tôi phản ánh cả hai người,” Hillary viết trong cuốn tự truyện. “Về cơ bản, mẹ tôi là một người Dân chủ, dù bà giữ kín điều đó ở cái thị trấn Park Ridge đa số là người Cộng hòa. Cha tôi là một người Cộng hòa bảo thủ và ông hãnh diện về điều đó. Ông cũng là người rất chặt chẽ về tiền bạc.” Trong cuốn tự truyện Living History, Hillary liên kết niềm tin chính trị Cộng hòa trung thành của cha với chủ nghĩa bảo thủ về ngân sách một cách quy củ và mối liên hệ đó không phải là tình cờ. Như đã cho thấy qua việc mua chiếc xe Cadillac, ông Hugh tin tưởng vững chắc vào phương châm “Tiền là vua” và ông điều hành doanh nghiệp của mình theo chính sách “tiền trao cháo múc”. Cũng như nhiều người lớn lên trong thời kỳ Đại Suy thoái[1], ông bị đẩy tới chỗ làm việc cật lực vì lo sợ sẽ phải rơi trở lại vũng lầy nghèo khó. Một “phó phẩm” sinh ra từ lối sống thanh đạm của ông là nỗi căm ghét sâu xa đối với sự lãng phí, cho dù lãng phí chỉ vài xu tiền lẻ. “Nếu như chị em tôi quên đậy nắp hộp kem đánh răng, cha tôi sẽ vứt hộp kem ra ngoài cửa sổ phòng tắm. Rồi chúng tôi phải ra sân, cho dù trời tuyết lạnh, để tìm cái hộp đó trong đám cây cỏ um tùm trước sân nhà. Đó là cách ông dạy chúng tôi không được lãng phí cái gì cả. Cho tới giờ, tôi vẫn thường cất những quả ôliu chưa ăn hết vào lọ, gói ghém những mẩu phomát tí xíu và luôn cảm thấy có tội mỗi khi vứt bỏ một chút thức ăn nào đấy,” Hillary nhớ lại.
Hillary cho rằng cha mình, ông Hugh Rodham, là một người “rất cứng đầu, đấy là nói một cách nhẹ nhàng”. “Tất cả chúng tôi đều phải quen với những tuyên bố của ông, phần lớn là về Cộng sản, về những kẻ buôn lậu hoặc những chính trị gia dối trá – dưới mắt ông đó là ba hình thức thấp kém nhất trên đời.” Mỗi buổi tối bên bàn ăn, ông khơi gợi những cuộc tranh luận về chính trị hoặc thể thao. Và đến tuổi mười hai, Hillary đã học cách bảo vệ lập trường của mình trong hàng loạt vấn đề, dù rằng cô bé luôn ý thức được thật là vô nghĩa khi phải đối đầu trực tiếp với ông bố. Sau này Hillary nhớ lại, “Tôi cũng học được rằng, một con người không nhất thiết là kẻ xấu chỉ vì họ không đồng ý với mình, và nếu bạn tin vào một điều gì đó thì tốt nhất bạn hãy sẵn sàng đứng ra bảo vệ nó.” Trong thời gian theo học trường phổ thông cơ sở Maine East, Hillary chịu ảnh hưởng sâu sắc của thầy giáo dạy sử đầu tiên của mình, thầy Paul Carlson. Carlson là một người đàn ông vạm vỡ và cực kỳ bảo thủ. Ông dạy môn Lịch sử Văn minh; lớp học hết sức sinh động khi có những tiết học về Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Vị anh hùng trong tất cả các bài học này là tướng Douglas MacArthur; bức chân dung của ông treo trên tường lớp học lúc nào cũng trừng trừng nhìn xuống đám học sinh lớp chín.
Nhiệt tình của thầy Carlson đối với môn sử gây ấn tượng mạnh cho Hillary, nhưng ông thầy cũng để lại một dấu ấn không thể phai mờ theo một cách thức hoàn toàn khác. Một hôm trong lớp học, thầy Carlson cho nghe một đoạn băng ghi âm bài phát biểu chia tay rất nổi tiếng mà tướng MacArthur đọc trước lưỡng viện Quốc hội. Sau khi vị tướng già nhắc đi nhắc lại câu nói lừng danh, “Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ tàn phai thôi,” thầy Carlson liền bảo học trò, “Thà chết bỏ còn hơn thành bọn Đỏ!” Một học sinh tên là Ricky Ricketts, xếp theo thứ tự chữ cái thì ngồi ngay trước mặt Hillary, bỗng bật cười và Hillary cũng cười theo. Thầy Carlson hỏi, “Các em thấy có gì vui à?”
“Có, thưa thầy Carlson. Em mới mười bốn tuổi và hơn bất kỳ điều gì trên đời, em muốn được sống,” Ricky đáp. Câu trả lời ấy càng làm cho Ricky và Hillary cười to hơn nữa; còn thầy Carlson nổi giận trước thái độ vô lễ của hai đứa trẻ. Mặt mũi đỏ gay, ông quát, “Im mồm! Đây là chuyện nghiêm chỉnh!” Nhưng Hillary và Ricky không thể nín cười được nên bị đuổi ra khỏi lớp học. Đó là lần duy nhất trong đời Hillary bị thầy giáo phạt.
Mặc dù giờ đây Hillary nhấn mạnh rằng, nhãn quan chính trị của bà bị ảnh hưởng như nhau từ những điều trái ngược mà bà học được của cha và mẹ, song chắc chắn là ông Hugh Rodham đã hun đúc phần lớn niềm tin chính trị ban đầu của cô con gái. Chưa bước vào tuổi thiếu niên, Hillary đã là người Cộng hòa nhiệt tình và khá bảo thủ. Vào mùa thu năm 1960, lúc Hillary đang học lớp tám, cha bà ủng hộ Phó Tổng thống Richard M. Nixon tranh cử tổng thống; thầy giáo môn xã hội năm lớp tám của Hillary, thầy Kenvin, cũng vậy. Và tất nhiên Hillary cũng muốn Nixon thắng cử. Một ngày sau cuộc bầu cử, thầy giáo môn xã hội của Hillary cho học trò thấy những vết bầm tím trên người, mà ông nói rằng, do các quan sát viên của Đảng Dân chủ gây ra khi ông thách thức họ tại phòng bỏ phiếu trong ngày bầu cử. Hillary và người bạn của mình, Betsy Johnson, rất tức giận. Đối với Hillary nỗi thống khổ của thầy giáo đã củng cố một cách rõ ràng luận điểm của cha cô rằng viên thị trưởng thành phố Chicago, Richard J. Daley, đã “kiểm phiếu một cách ma mãnh để ứng cử viên Kennedy trúng cử tổng thống.” Hillary và Betsy hết sức tức giận với chuyện xảy ra cho thầy giáo Kenvin, đến nỗi trong giờ ăn trưa họ đã dùng điện thoại công cộng bên ngoài nhà ăn của trường để gọi tới văn phòng thị trưởng Daley để phàn nàn.
Một buổi sáng thứ bảy sau ngày bầu cử, hai cô gái trẻ kiên quyết này đã quyết định giúp một nhóm người Cộng hòa kiểm tra lại danh sách cử tri, đối chiếu danh sách với địa chỉ cư trú nhằm phát hiện sự gian lận bầu cử. Hai cô gái tham gia công việc này mà không có sự đồng ý của cha mẹ. Hillary được đưa tới một vùng ngoại ô nghèo ở South Side, nơi cô đi gõ cửa từng nhà để kiểm tra. Đó là một hành động “ngu ngốc và liều lĩnh,” sau này Hillary nhớ lại. “Tôi đã đánh thức rất nhiều người; họ lao ra cửa, hét vào mặt tôi rồi đuổi đi. Tôi còn đi vào một quán rượu có những người đàn ông đang ngồi uống, để hỏi xem những người có tên trong danh sách cử tri tôi mang theo có thực là sống ở đấy không.” Hillary tìm ra bằng chứng rõ ràng về sự gian lận trong danh sách cử tri – một khu đất trống đã được kê khai là địa chỉ cư trú của hàng chục cử tri. Phát hiện này làm cô bé sướng run lên và lập tức báo cáo với cha rằng mình đã phát hiện việc ông Daley đánh cắp thắng lợi cuộc bầu cử tổng thống cho ứng cử viên Kennedy. “Tất nhiên khi tôi trở về nhà và nói cho cha biết tôi đã đi đâu, ông giận sôi lên. Đi một mình, không có người lớn đi cùng, xuống trung tâm thành phố đã là chuyện xấu, huống hồ đi một mình xuống khu South Side là chuyện ông không chấp nhận được,” sau này Hillary nhớ lại. “Ngoài ra, ông còn nói, Kennedy sẽ là tổng thống cho dù chúng tôi có thích ông ấy hay không”.
Một năm sau thắng lợi của Kennedy, vào mùa thu năm 1961, một sự thay đổi nữa trong bộ máy hành pháp càng thách thức mạnh mẽ niềm tin của Hillary. Một mục sư nhánh Methodist mới hai mươi sáu tuổi là Donald Jones đến làm việc tại nhà thờ First Methodist ở Park Ridge. Ông vừa hoàn thành bốn năm nghĩa vụ quân sự trong hải quân và đã tốt nghiệp trường Tôn giáo thuộc Đại học Drew. Jones khác hẳn ba vị mục sư trẻ từng làm việc tại nhà thờ này; ông cao ráo, có mái tóc vàng được cắt gọn gàng và lái một chiếc xe chữa cháy kiểu Impala màu đỏ sản xuất năm 1959 – một cách chọn xe “gây tranh cãi” như hồi tưởng của ông Jones sau này. Nhiều cô gái đã lao tới ông. Đặc biệt, vào mỗi tối chủ nhật và thứ năm hàng tuần, bắt đầu từ tháng chín năm ấy, mục sư Jones tiến hành giảng dạy chương trình Đại học Cuộc Sống, trong đó bao gồm chính trị cơ bản, thi ca, lịch sử nghệ thuật và những ý tưởng phản văn hóa truyền thống. Thông điệp của ông là, cuộc sống của một tín đồ Thiên Chúa phải biểu hiện “đức tin trong hành động”, bao gồm việc cố gắng giúp đỡ những người kém may mắn. Ở tuổi mười ba, Hillary tham gia vào nhóm của Jones đi thăm một trung tâm sinh hoạt cộng đồng ở vùng ngoại ô South Side, thuộc thành phố Chicago. Ở đó, Hillary và các bạn học dành vài giờ trò chuyện với một nhóm học sinh khu vực nội thành, phân tích ý nghĩa của một bức tranh mà trước đó họ chưa bao giờ nhìn thấy, bức Guernica của họa sĩ Picasso. Sau này ông Jones nhớ lại rằng, “trọng tâm là lôi cuốn trẻ em nội thành và ngoại ô vào một cuộc đối thoại chung quanh một vấn đề mà trước đó không em nào biết”. Trong lúc phần lớn các trẻ em ngoại ô ngồi im lặng thì một cô bé da đen phát biểu rằng bức tranh làm cho cô thắc mắc, “Tại sao chú tôi bị bắn chết chỉ vì ông ấy đậu xe sai chỗ?”
Hillary nói rằng mục sư Jones đã giúp cô “hòa hợp sự kiên định của cha về tính tự lập với mối quan tâm của mẹ về công bằng xã hội”. Nhưng quan điểm và những lời rao giảng đã làm cho mục sư Jones xung đột trực tiếp với thầy Carlson trong việc giành lấy trái tim và khối óc của lũ trẻ. (Khi thầy Carlson nghe nói về chuyến đi thăm vùng ngoại ô, ông đã giận tím mặt.) Hillary cố gắng giữ vị trí trung dung, cô thận trọng lắng nghe những quan điểm hoàn toàn đối lập nhau, nhưng không chịu ngả về phía nào. Cô giữ bí mật mối tình thân giữa mình với mục sư Jones, không để cho cha biết mặc dù cô chia sẻ điều đó với mẹ, “bà nhanh chóng nhận ra rằng Don là một người tốt,” sau này Hillary nhớ lại.
Có lẽ sự thấu hiểu lớn lao nhất mà Jones đem lại là, có rất nhiều người kém may mắn hơn Hillary và các bạn cô ở Park Ridge; rằng nước Mỹ đang trải qua buổi ban đầu của một cuộc tỉnh ngộ lớn lao. “Trong những cuộc thảo luận của chúng tôi dưới tầng hầm nhà thờ, tôi học được rằng, mặc dù môi trường sống của chúng tôi có những khác biệt hiển nhiên, nhưng những đứa trẻ này giống tôi nhiều hơn tôi tưởng,” Hillary nói. “Chúng còn biết nhiều hơn về những gì đang diễn ra trong phong trào dân quyền ở miền Nam. Trước đây tôi chỉ mơ hồ nghe nói tới bà Rosa Parks và tiến sĩ Martin Luther King, nhưng những cuộc tranh luận này kích thích sự quan tâm của tôi”.
Khi Hillary lên mười bảy, Jones thông báo rằng ông sẽ đưa cả nhóm đi nghe tiến sĩ King nói chuyện ở nhà hát giao hưởng Chicago. Hillary sướng run lên, dù rằng phụ huynh một số bạn bè của cô không cho phép con mình đi nghe diễn thuyết của một “kẻ kích động công chúng”. Có hơn một ngàn người đến nghe; Hillary say mê ông King và bài diễn thuyết của ông có nhan đề “Hãy tỉnh táo trước một cuộc cách mạng”. “Trật tự cũ đang mất đi, một trật tự mới đang đến,” ông King nói trong buổi tối hôm ấy. “Tất cả chúng ta nên chấp nhận trật tự đó và học cách sống với nhau như những người anh em trong xã hội thế tục, nếu không, tất cả chúng ta sẽ cùng bị diệt vong.” Sau cuộc diễn thuyết, Jones đưa Hillary và các bạn đến gặp tiến sĩ King.
Mặc dù được tiếp xúc trực tiếp với điều mà thời ấy được coi là tư tưởng cấp tiến, về cơ bản, Hillary vẫn hài lòng với việc nhắc đi nhắc lại “như con vẹt” những tín điều bảo thủ và cổ hủ đã bám rễ quá sâu ở Park Ridge. Bầu không khí chính trị xem ra quá sức Jones và sau hai năm chịu đựng những cuộc xung đột gay gắt với thầy giáo Carlson, ông rời nhà thờ United Methodist và trở thành giáo sư Đại học Drew trong suốt phần còn lại của sự nghiệp.
“Giờ đây tôi thấy sự xung đột giữa Don Jones và Carlson như một dấu chỉ ngay từ đầu của những đường ranh chia cắt về văn hóa, chính trị và tôn giáo, ngày càng bộc lộ rõ khắp nước Mỹ suốt bốn mươi năm qua,” nhiều năm sau, Hillary nhớ lại. “Cá nhân tôi thích cả hai người và không thấy niềm tin của họ, cả lúc ấy lẫn bây giờ, có gì đối chọi gay gắt với nhau cả.” Thiện ý của Hillary trong việc dung hòa mối xung đột này che giấu một cuộc chiến ý thức hệ trong chính cô; đôi khi cô phải đóng vai một hòa giải viên đi tìm những điểm chung giữa hai kẻ đối nghịch, nhưng cũng có lúc cô làm gia tăng cường độ mâu thuẫn bằng cách tiếp tục cuộc tấn công. Jones và Hillary vẫn giữ mối tình thân trong nhiều năm và chính ông là người chủ hôn cho lễ cưới của Tony Rodham, em trai của Hillary, tại Vườn Hồng trong Nhà Trắng vào ngày 28 tháng 5 năm 1994.
Mặc dù còn lâu mới là người cấp tiến về chính trị, nhưng cuộc gặp gỡ và nghe Martin Luther King nói chuyện đã nung nấu một điều gì đó trong sâu thẳm Hillary, một khát vọng cố gắng thay đổi thế giới – hoặc, để bắt đầu, là thay đổi ngôi trường trung học của cô, trường Maine South. Một số bạn học cùng lớp cho rằng Hillary hơi cách biệt, nhưng một số khác thì cho đó là do cô có thị lực kém. “Cô ấy thấy hình dạng nhưng không thể nhận ra ai, cho đến khi người ta đến thật gần,” Mike Andrews, một bạn học, nhớ lại. “Và với cả đám con nít đi lại trên hành lang, như thế, thể nào mà chẳng bỏ sót một ai đó. Vì thế tôi nghĩ có lẽ nhiều người nhớ về cô ấy như một người xa cách hoặc đại loại vậy, nhưng tôi chẳng bao giờ thấy việc đó có gì là vấn đề.” Năm 1964, Hillary quyết định ra tranh chức chủ tịch khối học sinh cuối cấp, hoặc đơn giản là “Chủ tịch”, như cô nói trong một lá thư gửi cho bạn. Mặc dù Hillary từng là phó chủ tịch khối học sinh lớp 11, hành động này của cô quả là dũng cảm. Ở Park Ridge, con gái thường không tranh những chức vụ chóp bu.
Đối thủ tranh cử của cô là hai nam sinh; một trong hai chàng trai nói với Hillary rằng, cô “đúng là đần độn nếu như nghĩ rằng một nữ sinh có thể được bầu làm Chủ tịch,” nhiều năm sau Hillary nhớ lại như vậy. Sự xúc phạm của cậu nam sinh đó cho thấy khá rõ chiều hướng của cuộc bầu cử, và sự cự tuyệt của cả hai ứng cử viên nam dành cho cô đã làm tổn thương cô sâu sắc. Cô lên phát biểu trước cử tọa gần năm ngàn học sinh; sự hùng biện cùng với tư thế đĩnh đạc của cô gây ấn tượng mạnh không chỉ với cử tọa học sinh mà với cả nhiều thầy cô giáo. Như mẹ cô đã nhiều lần nhận xét, Hillary có vẻ trưởng thành hơn lứa tuổi của mình. Nhưng như vậy cũng chưa đủ thuyết phục một đa số học sinh cần thiết bỏ phiếu cho cô. Hillary chấp nhận thất bại chua chát (sau một nam sinh tên là John Kirchoff). Nhưng rồi, như sau này trong đời, cô còn làm nhiều lần như vậy, cô đã không nuốt hận vào lòng. Thay vì vậy, cô gượng dậy và tìm kiếm những thách thức mới, kể cả việc phụ trách ủy ban tổ chức của ban đại diện học sinh.
Đến thời điểm này, Hillary còn phải tập trung vào việc vào đại học. Phần lớn bạn bè cô đều nộp hồ sơ vào các trường đại học vùng Trung Tây để tiếp tục ở gần gia đình. Hillary cũng dự định làm giống như thế cho đến khi hai giáo viên của trường Maine South – một người vừa tốt nghiệp Đại học Smith và một người vừa tốt nghiệp Đại học Wellesley – thúc giục cô nộp đơn vào trường cũ của họ. Họ cho rằng, nền giáo dục ở các trường đại học dành riêng cho nữ sinh có tính chất đặc biệt, ít có những yếu tố gây “xao lãng”. Hillary hỏi ý kiến cha mẹ. Bà Dorothy bảo cô có thể đi bất cứ nơi nào cô muốn, nhưng ông Hugh có vẻ miễn cưỡng khi thấy cô ghi tên vào một trường đại học ở miền Đông, đặc biệt là ở Radcliffe mà ông nghe nói là “đầy bọn lập dị”. Hillary chưa bao giờ đến tham quan khu học xá của các trường này, nhưng cô đã tham dự những buổi giới thiệu do các cựu sinh viên các trường Wellesley và Smith tổ chức tại địa phương, và cô có ấn tượng tốt về sự nhiệt tình của các sinh viên cùng sự hết mình của cả hai trường hướng tới sự toàn hảo trong giáo dục. Cuối cùng, cô chọn trường Wellesley, “dựa vào những bức ảnh chụp khu học xá.” Người hướng dẫn ban đại diện học sinh trường trung học của Hillary, thầy Gerald Baker, cảnh báo cô rằng trường đại học đó có thể làm thay đổi quan điểm chính trị bảo thủ của cô. “Em sẽ đến học ở trường Wellesley và em sẽ trở thành một người có tư tưởng tự do, một người Dân chủ,” thầy nói. Hillary tái mặt trước lời tiên đoán đó.
“Em không dại đâu. Em biết mình đứng ở đâu trong mọi vấn đề. Và điều đó sẽ không bao giờ thay đổi,” cô đáp lại.
Khi cha mẹ Hillary đưa cô từ Park Ridge lên thành phố Boston, cả gia đình đã đi lạc và dừng xe tại Quảng trường Harvard. Cái không khí lập dị mà họ nhìn thấy ở đó càng củng cố mối hoài nghi của ông Hugh rằng đến học ở Wellesley là một ý chẳng ra gì. Nhưng rồi cuối cùng, khi gia đình Rodham tìm ra khu học xá của trường Wellesley ở ngoại ô thành phố Boston và không thấy kẻ lập dị nào lảng vảng chung quanh thì “bố tôi có vẻ an tâm hơn,” Hillary nhớ lại.
Nhiều năm sau, Hillary nói rằng mẹ cô “đã khóc suốt ngàn dặm đường khi lái xe từ Massachusetts trở về Illinois”. Những giọt nước mắt ấy hoàn toàn dễ hiểu. Họ là một gia đình gắn bó mật thiết, và với chuyến ra đi của Hillary, mọi sự sẽ không còn như cũ nữa. Đứa con gái duy nhất của bà Dorothy Rodham từ nay phải tự lo lấy thân mình.
❀ ❀ ❀
[1] Cuộc suy thoái kinh tế gây tác hại nghiêm trọng ở các nước công nghiệp hóa, nhất là Mỹ và châu Âu, bắt đầu từ sự sụp đổ thị trường chứng khoán ngày Thứ Ba Đen Tối 19.10.1929, kéo dài đến những năm 1931-1932 - ND)