KHI ĐẾN ALASKA nghỉ hè và làm công việc cắt bỏ ruột cá cho một nhà máy ở Valdez, Hillary đã tiết lộ với người bạn thân John Peavoy rằng cô vẫn còn bị ám ảnh bởi sự hoài nghi chính mình. Cô sẽ theo học trường luật. Nhưng rồi sau đó thì sao? Cô sẽ làm gì cuộc đời mình? Cô nói với Peavoy: “Tôi tự hỏi – Tôi là ai? Tôi tự hỏi liệu có bao giờ tôi gặp được chính mình không? Nếu gặp, tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ rất hợp nhau”.
Tháng 9 năm 1969, cô gái Hillary mang đầy lý tưởng đến trường Luật thuộc Đại học Yale với mong ước trở thành một nhà hoạt động dân quyền, có khả năng thay đổi thế giới. Quyết định theo học trường luật của chính cô phần lớn được thúc đẩy bởi những sự kiện đáng lo ngại ở Mỹ vào cuối những năm 1960. “Cuối cùng, quyết định nộp đơn và theo học trường luật đối với tôi là một biểu hiện của niềm tin: hệ thống có thể được thay đổi từ bên trong,” ba mươi lăm năm sau ngày tốt nghiệp, Hillary đã trả lời phỏng vấn trực tuyến trên tuần báo Newsweek. “Luật có thể là cỗ xe kỳ diệu để thay đổi xã hội – và luật sư là người ngồi sau tay lái,” bà nói thêm. “Bằng sức mạnh kỳ diệu của lý lẽ, bạn có thể sửa những điều sai thành đúng, bảo vệ xã hội chống lại sự lạm dụng và hết lòng phục vụ cộng đồng.”
Đối với cô gái trẻ Hillary, trường Luật Yale hiện ra như một nơi lý tưởng để hoàn thành những mục tiêu đó. Trường Yale đang vật lộn với cuộc cách mạng trong ngành luật ở Mỹ, hơn nữa còn tự ứng phó với cơn lốc những thay đổi về văn hóa xã hội. Mặc dù nhiều cô gái có thể thấy sợ hãi trước công trình kiến trúc theo kiểu gothic đường bệ và đặc trưng của một ngôi trường kiểu cũ, do nam giới thống trị, nhưng Hillary thì lại thấy nó hấp dẫn, thậm chí mời gọi. Cuộc vận động lạnh lùng hướng tới sự bình đẳng giới trong ngành luật vừa mới bắt đầu, nhưng Yale là một trong những trường tiên phong năng động và có ảnh hưởng nhất. Trong số những sinh viên vào học trường Luật Yale tháng 9 năm 1969, Hillary là một trong hai mươi bảy nữ sinh viên – chỉ nhỉnh hơn tỷ lệ 10 phần trăm, mặc dù theo quan sát của Hillary, “đó đã là một bước đột phá và có nghĩa rằng từ nay phụ nữ không còn là những sinh viên trang trí ở trường Yale nữa”.
Năm thứ nhất ở trường luật – phải nắm vững các hợp đồng, tài sản và những lỗi lầm pháp lý – thường là năm có yêu cầu học tập nặng nề nhất đối với sinh viên. Nhưng vào tháng 4 năm 1970, khi năm học đầu tiên tại trường Luật Yale sắp kết thúc, các sinh viên lại lo lắng với một thách thức căng thẳng hơn rất nhiều. Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên, Hillary đã đặt mình vào giữa thách thức ấy.
Mùa xuân năm đó, tám đảng viên đảng Báo Đen, gồm cả lãnh đạo đảng là Bobby Seale, bị đưa ra xét xử tại tòa án New Haven về tội ám sát. Thành phố tràn ngập hàng ngàn người hoạt động xã hội đang giận dữ, những người này tin rằng, Báo Đen được dựng nên bởi các nhân viên FBI quá tích cực và coi thường luật pháp cùng với các công tố viên liên bang. Vụ hỗn loạn tràn cả vào khu học xá đầy bóng mát ở New Haven. Vào ngày 27 tháng 4, tức giận vì phiên xử, một kẻ thủ ác đã phóng hỏa đốt cháy thư viện Luật Quốc tế, nằm dưới tầng hầm của trường Luật. Hillary nhớ lại: “Hết sức kinh hoàng, tôi vội cùng các thầy cô giáo, nhân viên nhà trường và sinh viên ra sức dập tắt ngọn lửa và cứu lấy những cuốn sách đang bị lửa và nước phá hủy”.
Tại buổi họp về vụ phóng hỏa, Hillary ngẫu nhiên trở thành người hòa giải; cô thúc giục các sinh viên đang tức giận phải bình tĩnh, cô kết nối khoảng cách giữa nhu cầu của sinh viên với nhu cầu của những người phụ trách nhà trường. “Hillary đã làm cái việc mà ngày nay người ta gọi là trung gian hòa giải quốc tế – những người bay tới bay lui giữa cả hai bên,” Kristine Olson Rogers, bạn học của Hillary ở cả trường Yale và trường Wellesley, nói. “Cô ấy luôn luôn là người nhìn thấy nhu cầu phải cân bằng.”
Bốn ngày sau, một cuộc diễu hành nhân dịp Lễ Lao động được tổ chức trong khuôn viên trường. Số người tham gia diễu hành tăng nhanh ngoài dự tính của ban tổ chức, vì lời tuyên bố ngày hôm trước của tổng thống Nixon rằng ông đã gửi binh sĩ Mỹ sang Cambodia – một sự leo thang chiến tranh đột ngột, ngoạn mục, và trong ý nghĩ của nhiều người, là bất hợp pháp. Trường Yale đã tránh xa các vụ lộn xộn đang lan tràn trong nhiều trường đại học trên khắp nước Mỹ, một phần vì chủ tịch Kingman Brewster và cha tuyên úy của trường, mục sư William Sloane Coffin, đều đã công khai thách thức việc leo thang chiến tranh. Đặc biệt mục sư Coffin đã trở thành một nhà lãnh đạo của phong trào phản chiến toàn quốc, và nhiều sinh viên phản chiến tại trường Yale thán phục việc ông Brewster và mục sư Coffin không chỉ lắng nghe ý kiến của họ, mà còn tán thành những ý kiến ấy.
Nhưng sự yên bình không kéo dài được lâu. Vào ngày 4 tháng 5, vệ binh quốc gia bắn chết bốn sinh viên biểu tình phản chiến tại Đại học Kent State ở Ohio; tin tức về vụ bắn giết đã khiến Hillary chạy ào ra khỏi trường luật, nước mắt đầm đìa. Một trong những người đầu tiên mà cô đâm sầm vào là giáo sư Fritz Kessler, một người đã đào thoát khỏi nước Đức Hitler. “Ông hỏi tôi có chuyện gì vậy và tôi nói với ông rằng tôi không thể tin chuyện đã xảy ra,” Hillary nhớ lại. “Ông trấn an tôi bằng cách nói rằng, đối với ông chuyện đó quá quen thuộc.”
Buổi sáng hôm sau, trên trang nhất của tất cả các nhật báo ở Mỹ đều đăng bức hình mang tính biểu tượng về cô gái trẻ Mary Ann Vecchia đang hoảng loạn quỳ bên cạnh thi thể nằm sấp mặt xuống đất của một sinh viên trường Kent tên là Jeffrey Miller. Hai cánh tay của Vecchio dang rộng ra trong lúc cô vừa khóc vừa cầu xin sự giúp đỡ. Hillary nhận thấy tấm ảnh như một biểu tượng của “tất cả những gì mà tôi cũng như nhiều người khác lo sợ và căm ghét đang xảy ra trên đất nước chúng tôi.”
Chủ nghĩa cấp tiến ôn hòa từng là đặc trưng của trường Yale bắt đầu lung lay sau vụ thảm sát ở trường Kent State. Hillary có một lựa chọn. Cô có thể gia nhập hàng ngũ những người ủng hộ đảng Báo Đen, những người muốn đốt cháy các học xá và các tòa nhà chính quyền; hoặc cô có thể đảm nhận một công việc khó khăn hơn là cố gắng “thay đổi hệ thống từ bên trong”. “Theo nền giáo dục mà tôi được hưởng, tôi ủng hộ sự dấn thân, không phải là phá hoại hay cách mạng,” Hillary nhớ lại.
Ngày 7 tháng 5, Hillary phát biểu tại một hội nghị kỷ niệm 50 năm thành lập Liên đoàn Nữ cử tri ở thủ đô Washington. Hillary được mời phần lớn vì bài diễn văn của cô trong lễ nhận bằng tốt nghiệp tại trường Wellesley mùa xuân năm ngoái, đã nổi tiếng khắp cả nước. Cảm xúc của Hillary gần như được bộc lộ hết khi cô đọc bài diễn văn, trong đó quả quyết rằng việc đẩy lính Mỹ vào Cambodia là việc làm bất hợp pháp. Các sinh viên luật cùng trường với cô mới đây đã bỏ phiếu với 239 phiếu thuận và 12 phiếu chống, để tham gia cùng với hơn ba trăm trường đại học khắp nước Mỹ phản đối “sự mở rộng quá mức một cuộc chiến tranh mà lẽ ra đừng bao giờ bắt đầu.” Hillary đã điều phối cuộc họp khi diễn ra cuộc bỏ phiếu áp đảo đó, và nó được đánh dấu bằng một cuộc tranh luận “rất sâu sắc theo đúng kiểu luật sư”.
Cùng tham gia phát biểu như Hillary tại hội nghị Liên đoàn Nữ cử tri có Marian Wright Edelman – diễn giả chính của hội nghị, người sau này trở thành người bạn quan trọng và có ảnh hưởng nhất của Hillary. Sau khi tốt nghiệp trường Luật Yale năm 1963, Edelman trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên được kết nạp vào Đoàn luật sư bang Mississippi và là người làm việc không mệt mỏi cho quyền trẻ em. Vài tháng trước đó, tại một hội nghị ở Colorado, Hillary cũng đã gặp chồng Edelman, ông Peter Edelman, một người tốt nghiệp trường Luật Đại học Harvard, đã từng làm thư ký cho thẩm phán Arthur J. Goldberg ở Tòa án Tối cao và làm cho Thượng nghị sĩ Bobby Kennedy. Vợ chồng Edelman đang vận động ngoài hành lang Quốc hội nhằm thông qua việc sửa đổi hiến pháp, để hạ độ tuổi được phép tham gia bầu cử từ hai mươi mốt tuổi xuống mười tám tuổi. Hillary tán thành việc sửa đổi đó. “Nếu thanh niên đủ tuổi để chiến đấu thì họ cũng phải có quyền bầu cử chứ,” cô nói.
Tại hội nghị, Hillary cũng được giới thiệu với giám đốc dự án Giáo dục cử tri của Hội đồng khu vực miền Nam Atlanta. Tên ông là Vernon Jordan, và cũng như vợ chồng Edelman, ông là người hăng hái vận động cho việc hạ thấp tuổi bầu cử. (Năm 1971, tuổi đi bầu được hạ xuống mười tám khi tu chính án số hai mươi sáu được thông qua). Tình bạn của Hillary với Jordan sẽ là một trong những tình bạn quan trọng và có ảnh hưởng nhất đối với cuộc đời cô – và cả với người chồng tương lai của cô nữa.
Qua Peter Edelman, Hillary được biết vợ ông có ý định thiết lập một tổ chức vận động chống nghèo đói ở thủ đô Washington DC, gọi là Dự án Nghiên cứu Washington. Sau này dự án đó được đổi tên thành Quỹ Bảo vệ Trẻ em. Mùa hè năm ấy, nhờ sự giúp đỡ của một học bổng tư nhân, Hillary đã làm việc cho Dự án Nghiên cứu Washington, bắt đầu phục vụ tận tụy cho nhiều sự nghiệp của Marian Wright Edelman. Cũng trong mùa hè đó, thượng nghị sĩ Walter F. Mondale, bang Minnesota, quyết định tổ chức các buổi nghe báo cáo điều tra về điều kiện sống và làm việc của những nông dân nhập cư, đặc biệt là những người đang làm việc cật lực trên các cánh đồng mía ở vùng Everglades, bang Florida. Những cuộc điều trần này kỷ niệm mười năm bộ phim tài liệu Vụ mùa nhục nhã (Harvest of Shame) của Edward R. Murrow được nhận giải thưởng; và điều tra xem có phải tình hình đã được cải thiện từ khi Murrow phơi bày hoàn cảnh khó khăn của những người lao động nhập cư ra trước cả nước hay không. Hillary được đặc cách phân công nghiên cứu về giáo dục và y tế cho con cái của người lao động di cư.
Đó là một kinh nghiệm đáng nhớ. Hillary rất cảm động bởi những đứa trẻ lanh lợi, tràn trề hy vọng, bộc lộ sự nhiệt thành khi những người cha, người mẹ lấm lem bùn đất của chúng trở về nhà vào buổi tối, sau một ngày dài vất vả trên đồng ruộng. Cô đặc biệt gần gũi với một cô bé bảy tuổi tên là Maria. Cô bé chuẩn bị đón nhận Lễ ban thánh thể đầu tiên trước khi trở về nhà ở Mexico vì mùa gặt đã kết thúc, nhưng cha mẹ cô bé không có đủ tiền để mua một cái áo mới cho con gái mặc trong ngày trọng đại này. “Tôi kể với mẹ tôi về Maria và bà đưa tôi đi mua một cái áo đầm thật đẹp,” nhiều năm sau Hillary nhớ lại. “Khi chúng tôi đưa chiếc áo cho mẹ của Maria, bà bật khóc và khụy xuống đất hôn tay mẹ tôi. Bà mẹ đang bối rối của tôi cứ nói đi nói lại rằng, bà biết đối với một đứa trẻ được cảm thấy mình đặc biệt trong một dịp lễ như thế là điều hết sức quan trọng.”
Hillary sững sờ đến choáng váng khi phát hiện ra rằng những nông dân và con cái họ gần như bị tước đoạt hết những nhu cầu cơ bản như nhà ở, thực phẩm và điều kiện vệ sinh. Tháng 7 năm 1970, tại các cuộc điều trần trước ủy ban của nghị sĩ Mondale, các nhân chứng đều cáo buộc các công ty sở hữu những trang trại rộng lớn ở Florida đã duy trì các điều kiện sống bẩn thỉu và không an toàn; tình trạng này chỉ được cải thiện đôi chút kể từ ngày công bố bộ phim tài liệu của Murrow. Một số sinh viên cùng học với Hillary vào mùa hè năm ấy đang làm việc cho các hãng luật đại diện cho các công ty sở hữu những trang trại đó. Các bạn học của cô “đang tìm cách phục hồi hình ảnh bị hoen ố của các khách hàng,” Hillary viết. “Tôi cho rằng cách tốt nhất để làm điều đó là cải thiện cách đối xử với công nhân của họ.” Cố gắng thuyết phục các đồng nghiệp chống lại việc làm thuê cho những khách hàng doanh nghiệp giàu sụ là một mục tiêu chỉ có trong ý tưởng, thậm chí viển vông. Và đó cũng là mục tiêu mà chẳng bao lâu sau chính Hillary phải từ bỏ.
NHỮNG ĐIỀU ĐƯỢC NẾM TRẢI trong mùa hè năm ấy đã thôi thúc Hillary tập trung việc học ở Đại học Yale vào lĩnh vực quyền trẻ em. Vào thời ấy, đây là một lĩnh vực mới trong ngành luật, vì theo truyền thống, quyền trẻ em đã được đề cập trong luật về gia đình. Ngay cả điều đó cũng không có gì phức tạp: ở các phòng xử án, phần lớn quan tòa đều cho rằng bất kỳ điều gì mà cha mẹ đứa bé quyết định đều là tốt nhất và khi cha mẹ bất đồng ý kiến với nhau thì quan tòa thường đứng về phía người mẹ. Tuy nhiên, bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 1960, một số tòa án đã bắt đầu tách những án lệ quy định trẻ em có một số quyền lợi pháp lý hạn chế nằm ngoài tầm ảnh hưởng của người giám hộ.
Thông qua công tác tình nguyện tại Trung tâm Dịch vụ Pháp lý New Haven, chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý cho người nghèo, Hillary hiểu ra rằng, trẻ em luôn cần người ủng hộ mỗi khi chúng bị bỏ rơi và bị lạm dụng. Nền tảng công nghiệp của New Haven đã bắt đầu thu hẹp lại và cái thành phố một thời vui tươi của bang Connecticut đang trượt dài vào tình trạng nghèo đói, phân liệt và tàn lụi. Không ai cảm nhận được tác động của sự suy thoái đến hoảng sợ bằng trẻ em vùng New Haven. Trong năm thứ hai ở trường luật, Hillary làm việc ở Trung tâm Thiếu nhi Yale. Ở đó, trường hợp phát triển của một đứa bé mà cô giúp khiếu kiện đã để lại trong cô những ấn tượng lâu dài. Một luật sư trợ giúp pháp lý trẻ tuổi tên là Penn Rhodeen đã nộp đơn kiện nhân danh một phụ nữ da đen ở độ tuổi năm mươi. Người phụ nữ đó đã nuôi một bé gái lai suốt hai năm, từ ngày đứa bé mới lọt lòng. Bà mẹ nuôi này kiện Sở Dịch vụ Xã hội bang Connecticut với nỗ lực đảo ngược phán quyết của sở này cho rằng, các bà mẹ nuôi không có đủ tư cách để nuôi con. Hillary giúp cho Rhodeen và họ cùng nhau tranh biện rằng, người mẹ duy nhất mà đứa trẻ biết đến là bà mẹ nuôi, và cơn chấn thương gây ra bởi việc tách rời hai mẹ con sẽ tạo nên sự thương tổn về tâm lý kéo dài trong lòng đứa trẻ. Hillary và Rhodeen thua kiện, nhưng vụ việc này đưa Hillary tới một xu hướng mới. “Tôi nhận ra rằng những gì tôi muốn làm bằng luật pháp là nói lên tiếng nói của những trẻ em, những kẻ chưa được người lớn lắng nghe,” cô nói.
Quyết tâm của Hillary càng được nâng cao nhờ những đứa trẻ cô gặp tại Trung tâm Thiếu nhi Yale – những bé trai bé gái bị đánh đập, bị thiêu sống và bị bỏ rơi. Việc gặp chúng như bắc một nhịp cầu nối tới mẹ của Hillary, người đã bị ông bà, cha mẹ ngược đãi và bỏ rơi – một chuyện mà Hillary biết rõ từ khi cô còn là một cô bé. Bà Dorothy Rodham đã chữa lành được những vết thương tình cảm nhờ sự giúp đỡ, chăm sóc của nhiều người khác. Và bây giờ Hillary biết rằng cô cũng muốn trao tặng món quà đó. “Tôi muốn trở thành tiếng nói của trẻ em Hoa Kỳ,” cô tuyên bố.
Tháng 11 năm 1973, Hillary công bố bài báo đầu tiên của mình, một bài tranh luận về việc thiết lập các quyền hợp pháp cho trẻ em. Bài báo mang tính tiên phong. Với nhan đề “Trẻ em dưới con mắt của pháp luật” được đăng trên tạp chí Giáo dục của Đại học Harvard, bài báo của Hillary tuyên bố mạnh mẽ rằng, địa vị pháp lý của trẻ em như “những người chưa trưởng thành” phải được bãi bỏ. Thay vào đó, theo lập luận của cô, trẻ em cần phải được công nhận địa vị “công dân nhỏ tuổi”, và có mọi quyền lợi pháp lý như người lớn theo quy định của Hiến pháp. Hillary viết: “Phân chia tất cả mọi người dưới mười tám hoặc hai mươi mốt tuổi thành vị thành niên là một cách làm đơn giản và giả tạo; cách làm đó che lấp những khác biệt sâu sắc giữa những đứa trẻ ở các độ tuổi khác nhau, cũng như những điểm tương đồng nổi bật giữa đứa trẻ già dặn và người lớn”.
Nhiều năm sau, bài báo của Hillary bị những người Cộng hòa cánh hữu mô tả như bằng chứng của những niềm tin cấp tiến, “chống lại gia đình” của chính cô. Một vài nhà phê bình vu cáo Hillary đã nói trẻ con nên được phép kiện cha mẹ, để tránh phải làm những công việc nhà như đổ rác hoặc dọn giường. Những lời chỉ trích như thế đã làm cô đau khổ. Nhiều thập niên sau, Hillary nhận ra rằng, “Tôi không thể nhìn thấy trước sự xuyên tạc sau này về bài báo của tôi; tôi cũng không thể dự đoán trước những tình huống sẽ thúc đẩy những người Cộng hòa lên án tôi.” Vào thời điểm đó, còn có những việc mà cô không nhận ra được: “Chắc chắn là tôi đã không biết rằng mình sẽ gặp một người khiến cuộc đời mình xoay theo những hướng chưa bao giờ hình dung tới”.
Bill Clinton vẫn nhớcái khoảnh khắc đặc biệt khi lần đầu tiên nhìn thấy Hillary Rodham. Đó là vào khoảng cuối thu năm 1970, cuối học kỳ đầu của anh tại trường Luật Yale. Lúc ấy, Bill ngồi ở hàng ghế cuối trong giờ học chính trị và dân quyền của giáo sư Emerson. Gần cửa lớp có một cô gái tóc vàng mà Bill không nhận ra. Anh đã bỏ nhiều buổi học vì bận điều hành các chiến dịch chính trị và cho rằng cô gái kia còn ít đi học hơn cả anh. Tại sao phải mất gần hết một học kỳ anh mới chú ý đến cô ấy?
Bill không bị thu hút ngay lập tức bởi vẻ ngoài của Hillary; cô vẫn thờ ơ với việc hút hồn các chàng trai trẻ bằng cách ấy và ngày hôm đó, mái tóc dài màu vàng sẫm của cô được búi lại, còn một phần gương mặt cô thì bị che khuất sau cặp kính dày cộm. Nhưng có một điểm gì đó khiến Bill thấy rất thích cô. Đó là dáng vẻ của Hillary và những cử chỉ đầy tự tin của cô. Đó là một sự hấp dẫn có phần kín đáo và vì thế càng khó cưỡng lại. Sau này Bill thú nhận rằng, vào cái ngày đầu tiên nhìn thấy Hillary, cô “đã truyền tải một ý thức về sức mạnh và tự chủ mà tôi ít khi nhìn thấy ở người khác, dù là đàn ông hay phụ nữ.”
Bill say mê và tò mò đến nỗi anh đi theo Hillary ra khỏi lớp học, có ý định làm quen với cô. Nhưng khi đến gần Hillary, một sức mạnh lớn hơn cả bản thân đã ngăn không cho anh vỗ lên vai cô một cái. “Đó gần như là một phản ứng vật lý,” nhiều năm sau Bill kể lại. “Dù sao tôi cũng biết rằng đây không phải là chuyện một cái vỗ vai, mà có lẽ đang bắt đầu một chuyện gì đó mà tôi sẽ không dừng lại được.”
Bill và Hillary cứ lén nhìn nhau trong suốt mấy tháng sau đó và cuối cùng, vào một buổi tối gần cuối năm học thứ nhất, họ đã gặp nhau trong thư viện trường Luật khi Hillary đối mặt với Bill bằng một cái bắt tay thẳng thắn. Bill lặng người kinh ngạc trước sự bạo dạn và thẳng thắn của cô, nhưng ngay sau đó anh quyết định rằng hành động kế tiếp phải do anh chủ động. Vài ngày sau đó, Bill nhận ra Hillary trong hành lang trường luật. Diện một chiếc váy dài điểm những bông hoa rực rỡ, Hillary trông thật bắt mắt và lần đầu tiên trong đời, Bill thu hết can đảm bước về phía cô. Hillary đang trên đường đi đăng ký các môn sẽ học trong mùa thu và Bill đề nghị được đi cùng cô. Trong lúc đứng xếp hàng, họ trò chuyện và trao cho nhau những nụ cười, thế nhưng khi bước lên đến đầu hàng, nhân viên giáo vụ đã hỏi Bill: “Anh làm gì ở đây? Sáng nay anh đã đăng ký rồi mà!”.
Bill nhớ lại: “Lúc ấy tôi đỏ mặt tía tai, còn Hillary thì cười vang hết cỡ. Thế là cái vỏ bọc của tôi bay đâu mất.”
Sau đó Bill và Hillary quyết định tới phòng Trưng bày Nghệ thuật Yale để xem triển lãm tranh của Mark Rothko. Cuộc bãi công của công nhân đã làm cho phòng triển lãm phải đóng cửa, nhưng Bill thuyết phục người gác cổng cho họ vào, đổi lại, Bill sẽ dọn những cành cây gãy và rác thải trong khu vườn của bảo tàng. Sau khi thưởng ngoạn các tác phẩm nghệ thuật, (và sau khi Bill đã dọn xong đống rác đổi lấy vé vào cửa), cả hai ngồi trong vườn và bắt đầu một cuộc đối thoại mà đến tận hôm nay vẫn còn tiếp tục.
Hillary ngạc nhiên bởi nhiều điều ở Bill. Cô say đắm Bill đến mức mọi điều lớn, nhỏ thuộc về anh đều hấp dẫn cô, và cô còn tìm thấy một sự vô tận ngay trong những nét tưởng như mảnh mai của Bill. “Cổ tay anh ấy rất mảnh, các ngón tay của anh hình búp măng và khéo léo như ngón tay của nghệ sĩ dương cầm hoặc bác sĩ giải phẫu,” sau này Hillary nhớ lại. “Khi chúng tôi gặp nhau lần đầu hồi còn đi học, tôi rất thích nhìn anh ấy lật các trang sách.”
Trong tuần lễ đầu tiên ấy, Bill và Hillary không rời nhau nửa bước. Nhưng đến cuối tuần, Hillary lại rời New Haven đến Vermont cho một chuyến thăm đã lên kế hoạch từ lâu để gặp một người đàn ông mà cô đang hò hẹn. Trong những năm về sau, chồng cô mới là người dễ chao đảo trong tình cảm, còn buổi đầu, chính Hillary mới là người thấy khó khăn khi phải quyết định. Bill đã trải qua một cuối tuần trong phiền muộn và lo lắng rằng anh có thể mất cô. Khi Hillary trở lại trường Yale vào tối chủ nhật, Bill đã gọi điện nhưng cô đang “ốm như một con mèo ướt,” Bill nhớ lại. Anh lập tức mang xúp gà, nước cam đến cho cô và từ đó không ai trong hai người còn dính dáng tới người thứ ba nào nữa.
Mùa xuân năm ấy, Hillary và Bill ngồi cạnh nhau trong gian bếp của một ngôi nhà bên bãi biển ở vịnh Long Island Sound, gần Milford, bang Connecticut, nơi Bill đang sống với ba người bạn cùng phòng. Trong lúc bữa liên hoan điển hình đang ồn ào diễn ra bên cạnh, hai người lặng lẽ bàn về những kế hoạch sau khi ra trường. Hillary chỉ mơ hồ biết rằng cô muốn làm điều gì đó liên quan tới dân quyền hoặc bảo vệ trẻ em. “Bill thì dứt khoát: Anh sẽ về quê nhà ở Arkansas và tham gia chính quyền,” Hillary kể lại.
Bill còn dứt khoát trong một việc khác nữa: Hillary. Anh nhớ lại: “Với Hillary, đã không còn khoảng cách nào nữa. Lúc đầu cô ấy xuất hiện trước mặt tôi và trước khi tôi kịp nhận biết, cô ấy đã ở trong trái tim tôi.” Mùa hè năm ấy, Hillary dự định đến Oakland, California để làm cho một công ty luật nhỏ; Bill nói rằng anh muốn đi cùng cô. Mặc dù Bill có cơ hội xuống miền Nam tham gia tổ chức chiến dịch tranh cử tổng thống của Thượng nghị sĩ George McGovern, nhưng giờ đây công việc đó không còn hấp dẫn anh nữa.
Ý định của Bill làm Hillary sướng run lên, nhưng cô cũng hoảng sợ: “Vì sao anh muốn từ bỏ cơ hội làm công việc mà anh yêu thích để theo em đến California?”, cô hỏi.
“Vì một người anh yêu. Đó là lý do,” anh nói.
Họ cùng thuê một căn hộ nhỏ bên rìa một công viên lớn gần khuôn viên Đại học UC Berkeley. Hillary dành phần lớn thời gian làm nghiên cứu và viết những báo cáo pháp lý về một trường hợp giám hộ trẻ em, trong khi Bill đọc sách và lang thang khám phá các vùng ngoại ô hoang vắng của các thành phố San Francisco, Oakland, Berkeley. Nhiều năm sau, Hillary chợt nhớ lại rõ ràng một trong những buổi tối mùa hè năm ấy: trong một nhà hàng ấm cúng ở Berkeley, Bill đã chờ đợi Hillary rất lâu nhưng cô đến muộn. Khi cô đến thì Bill vừa đi khỏi nhưng một khách hàng kể lại với Hillary rằng, ông ta thấy Bill chờ đợi. “Anh ấy ngồi đây và đọc sách rất lâu,” người đàn ông kể. “Và tôi nói chuyện với anh ấy về sách vở. Tôi không biết tên anh ấy, nhưng một ngày nào đó anh ấy sẽ là tổng thống.”
“Vâng. Đúng vậy. Nhưng ông có biết anh ấy đã đi đâu không?” Hillary hỏi lại.
Luật sư Mal Burnstein, ông chủ của Hillary ở California, ngay lập tức có ấn tượng mạnh trước sự thông minh của Bill. Ông ấy bảo, “Này anh bạn, chắc chắn anh phải được các công ty lớn mời làm việc.”
“Không,” Bill đáp. “Tôi sẽ quay về Arkansas và tôi sẽ là thống đốc.”
Hillary nghe hai người trò chuyện nhưng cô chỉ lắc đầu và mỉm cười, dù cô biết bạn trai của mình rất nghiêm túc và kiên quyết làm bằng được những gì đã nói ra. Ngay từ đầu, Hillary đã chấp nhận việc nếu tiếp tục gắn bó với Bill, cô sẽ phải quay ngược lại con đường sự nghiệp và cả khoảng cách địa lý. Nếu họ nuôi hy vọng về một tương lai chung sống với nhau, cô biết rằng mình sẽ phải dừng chân ở một nơi cách xa thật xa quê nhà Park Ridge.
ĐÔI BẠN TRẺ HẠNH PHÚC TRỞ VỀ TRƯỜNG YALE vào tháng 9 năm 1971. Họ dọn đến tầng trệt tòa nhà số 21 đường Edgewood. Căn hộ thuê với giá bảy mươi lăm đôla một tháng trông có vẻ khiêm tốn, sàn nhà không được phẳng, gió rít qua những khe nứt trên tường. Nhưng chẳng hề gì. Mặc dù đã chung sống với nhau suốt một mùa hè, nhưng cả hai vẫn cảm thấy nơi đây như là ngôi nhà đầu tiên của mình.
Đây là căn hộ của Greg Craig, một người bạn cùng học ở trường Luật Yale. (Sau này Craig sẽ trở thành một trong các luật sư biện hộ chính của Tổng thống Bill Clinton, trong phiên xử luận tội tổng thống của Thượng viện Hoa Kỳ năm 1999.) Craig là nhà hoạt động cho dân quyền tại Yale; anh thường đi khắp vùng New England và xa hơn nữa để tham gia các cuộc biểu tình phản đối. Sau này Craig nhớ lại, Hillary đồng cảm với lý tưởng của anh, nhưng cô ấy chọn con đường ở lại “trong khuôn viên đại học”. Craig nhớ, ở trường Yale, Hillary xây dựng được liên minh các nhóm sinh viên khác nhau và phát triển “một mạng lưới rộng khắp mà không ai có được.” Anh gọi Hillary là “nhà phê bình trong hệ thống”, người mà bạn bè và đồng minh đủ mọi hạng người: từ những nhà hoạt động “có xu hướng thiên tả cứng rắn” cho tới “những nhân tố bảo thủ nhất của trường Yale”. “Cô ấy không phải là nhà lý luận, không phải là tín đồ thật sự,” Craig nói và thú nhận là đã bối rối trước việc sau này Hillary đã trở nên phân cực như thế nào.
Sau mùa Giáng sinh năm ấy, Bill lái xe từ thành phố Hot Springs, Arkansas đến Park Ridge để chơi vài ngày với gia đình Hillary. Cha mẹ cô nóng lòng muốn gặp anh từ mùa hè trước, nhưng Hillary rất lo lắng về chuyến đi này, bởi vì theo lệ thường, cha cô có xu hướng phê phán những người bạn trai của cô. Không ai xứng với cô con gái rượu của ông Hugh Rodham cả. “Tôi phân vân không biết cha tôi sẽ nói gì với một chàng trai có mái tóc dài kiểu Elvis, mà lại là một người Dân chủ ở miền Nam,” Hillary viết. Gần như ngay lập tức bà Dorothy Rodham chấp nhận Bill, và bà càng quý mến Bill hơn sau khi anh phát hiện bà đang đọc một cuốn sách triết dành cho một trong các lớp đại học của bà; anh đã tranh luận say sưa với bà về cuốn sách đó trong hơn một tiếng đồng hồ. Bill cũng giành được cảm tình từ các em trai của Hillary cũng như bạn bè của cô hồi trung học, thậm chí cả cha mẹ của các bạn ấy. Mẹ của một trong số những người bạn của Hillary tán thành ngay, bà nói với Hillary: “Ta không quan tâm cháu sẽ làm gì nhưng đừng để tuột mất anh chàng này. Anh ta là người duy nhất ta từng gặp có thể làm cháu cười!” Cũng không lạ gì khi Bill và cha của Hillary chỉ có những cái bắt tay xã giao, mặc dù họ tìm thấy những điểm chung trên bàn đánh bài và khi xem các đội bóng thi đấu trên truyền hình.
Mùa hè 1972, Hillary trở lại Washington làm việc cho Marian Wright Edelman. Trong thời gian ấy Bill nhận một công việc toàn thời gian cho chiến dịch tranh cử của Thượng nghị sĩ McGovern và có mặt tại Miami khi McGovern được Đảng Dân chủ đề cử làm ứng viên tổng thống. Một khi việc đề cử hoàn thành, chiến dịch tranh cử sẽ bước vào giai đoạn mới. Bill hoàn toàn không nghi ngờ gì về việc anh sẽ là một phần trong cuộc đua nước rút cuối cùng.
Hillary nhớ lại, “Anh ấy hỏi tôi có muốn tham gia cùng anh ấy hay không. Tôi nói sẽ tham gia nếu được làm một công việc đặc biệt.” Hillary được giao công việc tổ chức chuyến đi khắp Texas để đăng ký cử tri và cô nắm ngay cơ hội đó để làm việc cạnh Bill trong chiến dịch tranh cử. Độ tuổi bầu cử trên toàn quốc đã giảm xuống, Hillary và các đồng nghiệp nhắm tới nhóm cử tri trẻ tuổi vừa được trao quyền công dân này. Hy vọng của họ là nếu họ đăng ký được đủ số thanh niên là sinh viên đại học bỏ phiếu cho McGovern, họ có thể đưa tiểu bang này vào danh sách ủng hộ ông. Nhưng đó chỉ là một hy vọng hão huyền và thời gian trôi qua, số phiếu ủng hộ McGovern càng sút giảm.
Nhưng công việc này cũng có chỗ hay là địa điểm làm việc; Bill và Hillary sống ở Austin, một thành phố xinh đẹp mang dáng dấp của một thị trấn yên bình, dù đây là thủ phủ của bang Texas và có trường Đại học Texas. Bill và Hillary được bố trí ở lại trong tổng hành dinh chiến dịch tranh cử của McGovern, trong một ngôi nhà giống như một cửa hàng bỏ trống trên đường West Sixth. Hillary đã gặp hàng chục lãnh tụ sinh viên từ nhiều trường đại học ở Texas, cả những nhà hoạt động chính trị nghiệp dư. Trong số các nhà hoạt động này, không ai quan trọng với Hillary và Bill bằng Betsey Wright, một nhân viên của chiến dịch vận động thông minh và sắc sảo đến từ thành phố nhỏ Alpine. Wright đã làm việc cho Common Cause – một tổ chức vận động hành lang có tiếng tăm và cho Đảng Dân chủ bang Texas. Cô là người khó có thể bỏ qua: cao to, xấc láo, hào phóng, cục mịch, thông minh và hết sức tự tin. Ở tuổi ba mươi, Wright đã là người dẫn dắt nhiều phụ nữ trẻ làm việc cùng cô trong chiến dịch vận động.
Wright ngay lập tức bị hớp hồn bởi sự thông minh và tham vọng của Hillary. Sau này Wright kể lại với David Maraniss, người viết tiểu sử Clinton, rằng: “Tôi quan tâm đến tương lai chính trị của Bill không bằng của Hillary. Tôi bị ám ảnh với việc rồi đây Hillary sẽ tiến xa tới đâu, với sự hòa hợp của tài ba, tham vọng và niềm tin trong cô. Đã có lời đồn đại về tất cả những việc ly kỳ mà cô có thể làm trong thế giới này.” (Sau khi Bill và Hillary lấy nhau, bà Wright – một người bênh vực nữ quyền cực đoan, đã thú nhận rằng bà rất thất vọng khi thấy Hillary đã không chọn việc theo đuổi sự nghiệp chính trị của riêng mình. Có vẻ như Hillary đã đầu tư quá nhiều tương lai của mình vào tương lai của Bill, một quyết định làm cho Wright bị giày vò sâu sắc. “Ba mươi lăm năm về trước, khi mơ tới việc Hillary ứng cử tổng thống, tôi không muốn cô ấy chuyển tới Arkansas và kết hôn với Bill Clinton. Nhưng cô ấy đã làm như vậy và tôi phải từ bỏ giấc mơ của mình,” bà Wright nói như vậy vào năm 2007).
Để tiến hành giai đoạn cuối của chiến dịch, Betsey Wright mời Hillary đến làm việc tại thành phố San Antonio. Trong thời gian ở đó, Hillary tổ chức một cuộc tuần hành vận động cho McGovern ở phía trước tòa dinh thự Alamo, một sự kiện diễn ra chỉ hai tuần trước ngày bầu cử. Việc chuẩn bị sự kiện này là cuộc tiếp xúc đầu tiên của Hillary với chính trị cấp cơ sở. Cô khám phá ra rằng, đội tiên phong của những nhân viên địa phương “hoạt động dưới sức ép hết sức nặng nề,” và có lẽ đáng nhớ hơn cả là chiến dịch của McGovern thiếu tiền đến nỗi những nhân viên vận động ở địa phương gần như không được trả tiền công. Sự thiếu hụt ngân sách là một áp lực, gây gián đoạn công việc và làm cho khả năng của đối thủ – có một ngân quỹ tranh cử khổng lồ – càng trở nên hấp dẫn hơn.
Hai tuần sau đó McGovern bị Nixon đánh bại. “Cuộc tranh cử năm 1972 là sự kiện đầu tiên đánh dấu bước khởi đầu một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời chúng tôi,” Hillary nói.
Trở lại trường Yale, Hillary và Bill lập thành một nhóm thi đua giành giải Thomas Swan của hiệp hội luật sư liên bang, một cuộc thi tranh luận của sinh viên trong một phiên tòa mô phỏng. Hillary chuẩn bị tài liệu trước vụ xử, còn Bill đảm nhiệm việc tranh tụng trước tòa. Họ thua cuộc nhưng có được kinh nghiệm hợp tác tay đôi rất hùng mạnh, cho phép họ thể hiện sức mạnh mà họ sẽ chứng tỏ trong công cuộc hợp tác chính trị tương lai.
Mùa xuân năm 1973, sau khi cả hai đã tốt nghiệp trường Luật Yale, Bill đưa Hillary vào chuyến thăm châu Âu lần đầu tiên của cô. Anh đã sang châu Âu một lần với tư cách người được học bổng Rhodes, do đó dễ dàng đảm nhận vai trò hướng dẫn viên. Họ bắt đầu chuyến du hành từ London, nơi họ sửng sốt trước vẻ đẹp lộng lẫy của cung điện Westminter và tòa nhà Nghị viện, trước khi ngang dọc khắp nước Anh khám phá vườn đá Stonehenge và vùng nông thôn xanh ngát ở xứ Wales.
Vào một tối mùa hè yên ả, trong khu Lake sang trọng bên bờ hồ Ennerdale, Bill đề nghị Hillary lấy mình. Không chút lưỡng lự, cô đáp: “Không. Không phải bây giờ”.
Hillary nói rằng, lúc ấy cô yêu Bill tha thiết, nhưng cô cần thời gian và không gian để sắp xếp lại tình cảm của mình. Cô đã chứng kiến mẹ mình bị tác động nghiêm trọng đến mức nào sau cuộc ly hôn của ông bà ngoại, và cô chỉ muốn hình dung xem Bill có phải là một nửa của cô hay không. “Tôi biết rằng một khi quyết định kết hôn, tôi muốn cuộc hôn nhân sẽ là mãi mãi,” Hillary nói và xác định có hai yếu tố vô hình làm cô lo sợ – sự gắn bó và xúc cảm mãnh liệt của Bill. “Tôi nghĩ tới anh ấy như nghĩ tới một sức mạnh tự nhiên, tôi phân vân không biết mình có đảm đương nổi nhiệm vụ phải sống sót qua những cơn mưa nắng thất thường của anh ấy hay không,” cô giải thích. Nhưng cũng có một điều gì đó khác nữa, một điều mà cô không hề thổ lộ với bất cứ ai: Bill sẽ quay về Arkansas và Hillary có những cảm xúc hết sức trái ngược nhau liên quan tới việc theo anh về vùng quê xa xôi đó.
Tuy nhiên, Bill không dễ bị từ chối. “Anh ấy đặt ra các mục tiêu và tôi là một trong các mục tiêu đó,” Hillary nói. Anh cứ liên tục đề nghị cưới Hillary, còn cô liên tục từ chối, “Không phải lúc này.” “Ồ, thế thì anh sẽ không yêu cầu em lấy anh thêm một lần nào nữa, và do đó nếu có lúc nào em quyết định lấy anh, thì em phải nói cho anh biết,” cuối cùng Bill nói.
Sau khi tốt nghiệp trường Yale, Bill và Hillary đi về những hướng khác nhau. Bill trở về nhà ở Fayetteville làm chân dạy học trong trường Luật thuộc Đại học Arkansas. Hillary đi lên phương bắc, đến thành phố Cambridge, Massachussetts, để làm việc cho Marian Wright Edelman trong Quỹ Bảo vệ trẻ em. Hillary sống một mình trên tầng áp mái của ngôi nhà thuê ở Cambridge, và làm việc trong một dự án tìm hiểu những khác biệt đáng chú ý giữa số trẻ em trong độ tuổi đi học đã được thống kê và số trẻ em thật sự đến trường. Để làm công tác nghiên cứu, Hillary phải đi từ nhà này sang nhà khác, và cô đã tìm thấy những trẻ em không đi học vì những khuyết tật về thể chất như điếc, hay mù.
Quỹ Bảo vệ trẻ em gửi những kết quả khảo sát này đến Quốc hội và vận động hành lang ráo riết cho một điều luật, theo đó, hệ thống trường công lập phải có chỗ học cho mọi trẻ em. Hai năm sau, Quốc hội thông qua luật Giáo dục cho tất cả trẻ em khuyết tật, đòi hỏi hệ thống giáo dục công lập phải giáo dục những trẻ em có khuyết tật về thể chất, tình cảm, hoặc khả năng học vấn.
Hillary nhận thấy công việc này làm cô vô cùng mãn nguyện, nhưng cô rất cô đơn và nhớ Bill “quá sức chịu đựng”. Mùa xuân năm ấy, cô dự kỳ thi hành nghề luật sư ở Arkansas và Washington DC. Cô trượt kỳ thi vào Đoàn luật sư Washington DC, nhưng lại đỗ vào Đoàn luật sư Arkansas. “Có lẽ điểm thi của tôi đang nói cho tôi biết một điều gì đó”, Hillary nghĩ.
Trong khi đó Bill chuẩn bị ra tranh ghế dân biểu Khu vực Thứ Ba trong Hạ viện, đại diện cho vùng Tây Bắc bang Arkansas, bao gồm cả hai thành phố Hot Springs và Fayetteville[1]. Đối với Bill, vụ tai tiếng Watergate mang đến một sự mở đầu không sao khống chế được, khiến cho vị trí bao trùm lâu nay của Đảng Cộng hòa thành lung lay. Hillary đến thăm Bill vào tháng 12 năm 1973 và trong lúc hai người đang uống cà phê trong bếp nhà anh thì chuông điện thoại reo. Ở đầu dây bên kia là John Doar, người vừa được Ủy ban Tư pháp Hạ viện chọn ra để lãnh đạo cuộc điều tra luận tội tổng thống Nixon. Cả Bill và Hillary đều từng gặp Doar ở trường Yale, lúc ông đóng vai quan tòa trong phiên xử mô phỏng của họ. Đối với Hillary, Doar gần như một vị anh hùng; cô nhìn thấy ông “giống như kiểu nhân vật của diễn viên điện ảnh nổi tiếng Gary Cooper: một luật sư kín tiếng, cao lêu nghêu, đến từ bang Wisconsin”. Cô thán phục việc làm của ông vì dân quyền ở các tiểu bang Mississippi và Alabama, trong những năm 1960, và vai trò lãnh đạo của ông trong các tòa án liên bang phân xử vấn đề quyền bỏ phiếu.
Ông Doar bảo Bill rằng tên anh nằm hàng đầu trong danh sách những luật sư trẻ sẽ phụ giúp ông trong cuộc điều tra luận tội. Bill từ chối lời đề nghị ấy, anh nói rằng anh đang ra tranh cử Quốc hội. Sau đó Doar đề nghị một công việc tương tự cho Hillary. Công việc xem ra không có vẻ hấp dẫn lắm – tiền công thì ít mà phải làm nhiều giờ – nhưng đối với Hillary dường như lịch sử đã gọi tên cô. “Như người ta nói, đó là một lời đề nghị mà tôi không thể từ chối,” sau này Hillary nhớ lại. Việc cô chuyển công tác từ Cambridge tới thủ đô Washington đã làm trì hoãn cuộc đối thoại đang tiếp diễn giữa cô và Bill về tương lai của cả hai người.
Tuy nhiên, trước khi Hillary chuyển công tác, Bill đã đi thăm người bạn của anh là David Pryor, một luật sư ở Little Rock, người vừa mới bắt đầu chiến dịch vận động tranh chức thống đốc tiểu bang, để hỏi xem liệu công việc như vậy có phù hợp với Hillary hay không – và ngoài ra, có phù hợp với vận mệnh chính trị của chính anh hay không. Bill muốn Pryor tính toán xem việc Hillary tham gia vào vụ luận tội Tổng thống Nixon sẽ có vai trò như thế nào trong vùng đất bảo thủ miền Tây Bắc Arkansas. Pryor nhớ lại: “Anh ấy nói với tôi về việc Hillary sẽ làm việc cho ủy ban Watergate. Anh ấy hỏi, hay đó là một ý tưởng tốt? Đó là một sự cân nhắc về nghề nghiệp. Anh ấy biết rằng sự nghiệp của anh nằm trong lĩnh vực chính trị và vấn đề là ở chỗ, liệu mối quan hệ của Hillary với Ủy ban Watergate có gây ra sự phân nhánh về chính trị hay không.”
Cuối cùng, họ đi đến kết luận rằng, công việc của Hillary ở ủy ban sẽ không gây hại đáng kể cho Bill. Và thế là Hillary tham gia cuộc điều tra luận tội của Hạ viện với tư cách là một trong bốn mươi ba luật sư ủy nhiệm và là một trong ba nữ luật sư của Ủy ban. Đó là một sự bổ nhiệm béo bở đã đặt cô, ở tuổi hai mươi sáu, vào trung tâm của một cuộc chiến tranh pháp lý quan trọng nhất, quyết liệt nhất trong thời đại cô. Các luật sư, phần lớn đang ở tuổi cuối đôi mươi, đầu ba mươi và đều sáng chói như những môn sinh Ivy League[2], làm việc bảy ngày mỗi tuần, mỗi ngày hai mươi tiếng đồng hồ trong một khách sạn cũ kỹ của Quốc hội trên đồi Capitol, nhìn qua các tòa nhà của văn phòng Hạ viện. Phần lớn công việc làm đầu óc mụ mị; Doar nhấn mạnh rằng mọi dữ kiện – từ ngày tháng của một bản ghi nhớ nội bộ, một chủ đề hội họp – phải được đánh máy lại trên một thẻ chỉ dấu và chỉ dẫn tham khảo chéo tới các thẻ khác. Sau khi công việc này hoàn thành, hơn năm trăm ngàn thẻ chỉ dấu đã được lập ra. Những trường hợp điều tra luận tội đầu tiên của Mỹ mà Hillary nghiên cứu, có tác dụng giúp thảo ra những quy định có tính chất trình tự để trình lên Ủy ban Tư pháp Hạ viện. Hillary ngồi bên trái Doar, ở bàn dành cho tư vấn trong mỗi cuộc họp ủy ban.
Hillary cũng được giao nhiệm vụ tập hợp các hướng dẫn nội bộ đã làm nên tổ chức trong Nhà Trắng thời Nixon. Các bản hướng dẫn này cho thấy, mặc cho bản chất tôn ti trật tự của Nhà Trắng, Nixon vẫn là một vị tổng thống chi li tới từng chi tiết; bàn tay ông trực tiếp can dự vào rất nhiều việc (và nhiều âm mưu). Để giúp hình dung ra ai đã làm chuyện gì, Hillary phải mất nhiều giờ ngồi nghe lại những đoạn băng ghi âm bị trưng thu làm bằng chứng, được gửi đến từ Đại bồi thẩm đoàn Watergate. Trong một căn phòng không có cửa sổ trên tầng hai của khách sạn, cô cố gắng hiểu những lời nói của Nixon. Trong lúc làm việc đó, cô có được cái nhìn cận cảnh vào một tổng thống đang điều hành mặt trái của nền chính trị ở thủ đô Washington, đang làm tất cả những gì cần thiết để duy trì việc nắm giữ quyền lực. Cô đặc biệt ngạc nhiên khi nghe những gì mà các luật sư ủy nhiệm đồng sự gọi là “cuộn băng của những cuộn băng” – trong đó Nixon lắng nghe âm thanh của chính giọng nói của mình, rồi biện minh cho những lời bình luận đã ghi âm với nỗ lực làm giảm nhẹ vai trò của ông ta trong việc che giấu vụ tấn công Watergate. Hillary lắng nghe, như nghe tiếng một con ruồi bay trên tường, khi vị tổng thống cố gắng viết lại lịch sử, bằng cách nói rằng: “Khi tôi nói như vậy, ý tôi muốn nói là...” hay là “Đây là những điều tôi thật sự muốn nói...” “Thật là phi thường khi được nghe Nixon tập dượt cho vụ che giấu chính mình,” sau này Hillary nhớ lại.
Ngày 19 tháng 7 năm 1974, Doar trình bày những điều khoản đề nghị luận tội và Ủy ban Tư pháp Hạ viện phê chuẩn ba điều trong số các điều khoản đó là: lạm dụng quyền lực, cản trở công lý và khinh thường Quốc hội. Nixon từ chức tổng thống chưa đầy một tháng sau đó, vào ngày 9 tháng 8, nhằm tránh cho đất nước một cuộc bỏ phiếu luận tội ở Hạ viện và một vụ xét xử ở Thượng viện.
Trong bữa tiệc chia tay đội ngũ luật sư làm việc cho Ủy ban, mọi người đều nói về kế hoạch tương lai của mình. Hillary kể cho một đồng nghiệp, Bert Jenner, rằng mình cũng sẽ trở thành một luật sư xét xử như anh.
“Điều đó là không thể được,” anh ấy nói.
“Tại sao?”, Hillary hỏi lại.
Câu trả lời của anh làm cô choáng váng: “Bởi vì bạn không có một người vợ.”
“Nói thế nghĩa là gì?”
Bert Jenner giải thích, không có một người vợ ở nhà chăm lo các nhu cầu cá nhân của mình, Hillary sẽ không thể nào đương đầu nổi với những đòi hỏi nghề nghiệp khắt khe của một luật sư xét xử. Nhiều năm sau đó, Hillary băn khoăn không biết có phải Jenner chỉ đơn giản là cố cảnh báo cô, theo cái cách thức vụng về của anh, rằng ngành luật không phải là chỗ dành cho những người phụ nữ trẻ và độc thân.
Giờ đây khi công việc đã kết thúc, Hillary lại hướng sự quan tâm của mình đến Bill và tương lai chung sống của họ. Tháng 8 năm 1974, cô quyết định cùng làm việc với Bill tại Arkansas. “Tôi đã yêu Bill khi còn là sinh viên trường luật và muốn sống với anh ấy,” sau này Hillary viết trong tự truyện. “Tôi biết tôi luôn luôn hạnh phúc khi có Bill hơn là khi không có anh ấy. Tôi luôn luôn cho rằng mình có thể sống một cuộc đời viên mãn ở bất cứ nơi đâu. Tôi đang trưởng thành, và tôi biết đã đến thời để tôi làm những gì mà tôi từng sợ phải làm – nói như Eleanor Roosevelt.”
Chắc chắn rằng cô sợ Arkansas. Đấy là nơi xa xăm tận cùng so với cuộc sống mà cô mơ ước. Đi tới đó có nghĩa là chối bỏ công việc ở các công ty luật thượng hạng tại New York, hoặc Washington DC, hoặc công việc làm cố vấn đặc biệt cho Quỹ Bảo vệ trẻ em. Tất nhiên cũng sẽ có công việc đang chờ cô ở Arkansas – việc giảng dạy môn luật ở trường Đại học Arkansas. Nhưng về mặt nghề nghiệp thì đây quả là một bước thụt lùi rất lớn. Cho nên cô đến đấy không phải vì công việc. Cô đến với Bill và giúp đỡ Bill. Bill đang chạy đua vào Quốc hội và anh ấy cần sự giúp đỡ của cô.
Vào một buổi tối tháng tám ẩm ướt, Hillary đến Fayetteville. Ngày hôm ấy, cô đã quan sát và say mê khi Bill lên diễn thuyết vận động tranh cử trước một cử tọa khá đông đảo tại quảng trường thành phố ở Bentonville. Anh đã gây ấn tượng sâu sắc.
Nhưng chênh lệch giữa các ứng cử viên vẫn còn khá nặng nề. Vào đầu thập niên 1970, miền Nam đang trải qua một cuộc chuyển hóa sâu sắc về chính trị. Miền Nam luôn là căn cứ địa của cánh bảo thủ, nhưng Đảng Dân chủ chiếm lĩnh vũ đài bầu cử. Giờ đây Đảng Cộng hòa đã bắt đầu phá vỡ thế độc quyền của Đảng Dân chủ và cuối cùng, họ sẽ thay thế sự độc quyền ấy bằng độc quyền của chính họ. Miền Tây Bắc Arkansas cơ bản là bảo thủ, trừ trường đại học ở Fayetteville. Bill ra tranh cử với John Paul Hammerschmidt, đảng viên Cộng hòa đầu tiên ở Arkansas được bầu vào Quốc hội trong vòng một thế kỷ qua. Hammerschmidt là nhà buôn gỗ, giao du rất rộng và là bậc thầy trong việc chiều theo mọi nhu cầu của cử tri.
Trước khi đến Fayetteville, Hillary đã nói chuyện với Bill qua điện thoại, có khi cô gọi điện bốn lần một ngày, đưa ra cho anh những lời khuyên và hướng dẫn. Khi đến nơi, cô nắm lấy công việc và nhanh chóng khám phá ra rằng, các nữ sinh viên đại học trẻ trung xinh đẹp tình nguyện làm việc cho chiến dịch tranh cử đã say mê anh như điếu đổ, thậm chí có cô còn mong mỏi được ngủ với anh nữa.
Dù chưa cưới nhau, Hillary và Bill đã cam kết một hiệp ước bí mật đầy tham vọng; một tham vọng mà diễn biến và tầm quan trọng của nó đối với cả hai người vẫn còn là một bí mật riêng của họ suốt bao năm tháng: Họ đã đồng ý cùng nhau dấn thân vào chính trị với hai mục tiêu xen kẽ nhau: cách mạng hóa Đảng Dân chủ, đồng thời giành ghế tổng thống cho Bill. Họ gọi đây là “dự án hai mươi năm” – một thời gian biểu đầy triển vọng của hai thanh niên trẻ mới ở giữa tuổi đôi mươi. Và họ cũng đồng ý rằng, con đường duy nhất để có thể hoàn thành được các mục tiêu này là phải làm tất cả những gì cần thiết, để giành chiến thắng trong bầu cử và đánh bại các đối thủ. Tất nhiên, trong dự án, Bill sẽ là gương mặt đưa ra công chúng. Còn Hillary sẽ làm việc như một người quản lý và thúc đẩy sau hậu trường.
Trong một lá thư viết cho Bill trước khi đến Arkansas, Hillary đã vạch ra một số chi tiết. Một trong những bạn gái cũ của Bill, cô Marla Crider, đã tình cờ nhìn thấy lá thư của Hillary trên bàn làm việc của Bill trong căn nhà anh ở Fayetteville. Khi Marla lần dò theo từng dòng của lá thư, cô hết sức kinh ngạc bởi những gì cô đọc được. Đây không thể là một lá thư tình bình thường. Toàn bộ lá thư đều nói về tham vọng chung của hai người, một kịch bản nhằm đạt tới những gì cả hai chia sẻ.
“Lá thư nói về những kế hoạch tương lai của họ... những kế hoạch chính trị; nói đúng ra là như vậy,” Crider nói. Lá thư “có tất cả những gì liên quan tới sự nghiệp của họ,” và Crider khám phá ra rằng, nó “bất thường đến nỗi không hề có câu chữ nào nói tới nhà cửa, gia đình, hôn nhân.” Do đã đọc được lá thư, nên Crider không ngạc nhiên chút nào khi thấy Hillary điều hành cuộc vận động đầu tiên của Bill chạy đua vào Quốc hội. Những người khác có lẽ không tài nào hiểu nổi vai trò toàn diện của cô. Hillary làm mọi chuyện. Cô soạn bài diễn văn mà Bill sẽ đọc trước Đại hội đảng cấp tiểu bang vào tháng chín năm ấy. Cô giúp anh gọt giũa các thông điệp và khuyến khích anh tấn công vào phẩm hạnh của Hammerschmidt cũng như những phán đoán của ông ta. Thậm chí cô còn đi bán bánh mì để giúp quyên góp tiền cho cuộc vận động tranh cử. Tuy nhiên, sự hiện diện khắp nơi của cô cũng gây bất an cho một số nam nhi, kể cả các nhà hoạt động chính trị ở địa phương, là những người vẫn thường đảm đương những công việc như vậy. Trong những tuần lễ cuối cùng của chiến dịch, một luật sư có quan hệ với ngành công nghiệp bò sữa đã liên lạc với một nhân viên vận động tranh cử. Viên luật sư muốn góp 15.000 đôla để sử dụng trong quận Sebastian, có khả năng “bảo đảm rằng bạn sẽ thắng trong cuộc bầu cử.” Cái thông điệp không nói ra là, trong nhiều khu vực ở vùng Tây Bắc Arkansas, những ngân quỹ như vậy có thể được dùng để mua phiếu bầu. Và nếu như Bill thắng, quyền lợi của người nuôi bò sữa có thể được đền đáp lại. Trong một cuộc họp kéo dài đến tận khuya, nhà vận động ấy đã giải thích nội dung của đề nghị này cho Bill và Hillary. Tiền đã sẵn sàng đợi họ ở văn phòng của viên luật sư. Hillary im lặng nghe anh ta giải thích, sau đó cô thét vào mặt Bill: “Không! Anh không muốn dính dáng đến những trò này mà!”
Người vận động hỏi Bill: “Nhìn kìa, anh muốn thắng hay là anh muốn thua?”
Trước khi Bill kịp trả lời, Hillary đã nói thẳng. “Hừm, tôi không muốn thắng bằng cách đó,” cô nói. “Nếu chúng tôi kiếm ra nổi số tiền đó, chúng tôi cũng sẽ không thể tiến tới [thủ đô Washington].”
Và đúng như vậy. Vào buổi tối của ngày bầu cử, ngày 5 tháng 11 năm 1974, Hammerschmidt giành thắng lợi mà chỉ hơn Bill có sáu ngàn phiếu. “Đó là nhờ những đồng tiền chết tiệt ấy đấy!” nhân viên vận động kia hét lên.
* * *
MỘT THẤT BẠI ĐÁNG BUỒN, nhưng không làm cho Bill và Hillary nản lòng. Các buổi sáng sau đó, Bill về Fayetteville bắt tay cảm ơn những người ủng hộ mình và lập kế hoạch cho cuộc vận động tranh cử kế tiếp.
Trong thời gian này, Hillary giảng dạy môn trình tự tố tụng hình sự và trình tự bào chữa tại trường luật. Mùa xuân năm ấy, cô trở về Chicago và sang Bờ Đông gặp gỡ bạn bè cũ, kể cả những người có khả năng mướn cô làm việc. Trên đường ra sân bay tại Fayetteville, Bill và Hillary đi ngang qua một ngôi nhà nhỏ bằng gạch đỏ trên đường California, gần khuôn viên trường đại học. Một tấm bảng “Nhà bán” treo trên cổng. Hillary buột miệng nhận xét đây là “ngôi nhà nhỏ xinh xắn”. Cô không hề nghĩ tới ngôi nhà đó nữa cho đến khi cô trở lại Arkansas vài tuần lễ sau đó. Khi Bill đón cô ở sân bay, anh hỏi cô, “Em có còn nhớ ngôi nhà mà em thích không? Ồ, anh đã mua nó rồi, cho nên bây giờ tốt hơn hết là em hãy lấy anh bởi vì anh không thể sống trong nhà đó một mình được.” Lần này thì Hillary trả lời “Vâng!”.
❀ ❀ ❀
[1] Hạ viện Mỹ có 435 dân biểu đại diện cho 435 khu vực trong toàn liên bang, mỗi khu vực có số dân khoảng 700.000 người, được bầu một dân biểu - ND
[2] Danh hiệu chung cho một nhóm gồm tám đại học hàng đầu của Mỹ, trong đó có Đại học Yale - ND