Whitewater, phi vỤkinh doanh địa ốc của vợ chồng Bill và Hillary, đã quá xa xăm và thua lỗ đến mức trong một thời gian dài cả hai người hầu như không để ý tới nó nữa. Khu đất dự án nằm dọc theo bờ sông White trong vùng nông thôn phía bắc bang Arkansas, gần thị trấn Flippin, là một nơi khó tìm ra. Bất chấp vị trí xa xôi hẻo lánh của nó, lúc đầu Bill và Hillary vẫn tin nó sẽ là một vụ kinh doanh mạo hiểm có lợi. Nhưng tới cuối thập niên 1980, khi người cộng tác của gia đình Clinton, ông Jim McDougal, bị chính quyền liên bang điều tra, Hillary bắt đầu lo ngại vụ đầu tư này là một vết nhơ tài chính cần phải được dọn sạch. Bà kể với một trong các cộng sự ở hãng luật, “Chúng tôi cần phải chỉnh đốn lại Whitewater,” nhưng ngay cả những người bạn thân nhất của bà cũng không biết Whitewater nghĩa là gì. Ông Bill thì không bao giờ bận tâm với Whitewater – có lúc ông đã nhầm lẫn khi bảo một người phụ tá rằng ông không còn đầu tư vào cái dự án bất động sản ấy – cho nên Hillary phải cáng đáng nỗi lo về trách nhiệm pháp lý của cả hai vợ chồng.
Sau khi Thống đốc Bill Clinton trở thành Tổng thống Clinton, mối lo của Hillary về phi vụ kinh doanh địa ốc thua lỗ kia dần dần trở thành sự thật.
Điều khôi hài là mối quan hệ đối tác đáng nguyền rủa giữa vợ chồng Bill-Hillary với McDougal đã bắt đầu từ Lee Williams, phụ tá của Thượng nghị sĩ Fulbright, người mà lời giới thiệu của ông ta đã giúp Bill khỏi đi quân dịch. Câu chuyện bắt đầu một cách hồn nhiên vào đầu mùa hè năm 1968; Bill năm ấy hai mươi mốt tuổi, vừa ra khỏi trường Đại học Georgetown và đang làm tình nguyện viên ở Arkansas cho chiến dịch tái tranh cử của ông Fulbright. Tại tổng hành dinh ban vận động tranh cử, đặt trong khách sạn Marion ở thành phố Little Rock, ông Williams, trưởng ban vận động, đã giới thiệu Bill với Jim McDougal, một con buôn chính trị hoa hòe hoa sói lúc đó cũng đang làm việc cho nghị sĩ Fulbright.
Mối quan hệ giữa Bill và McDougal lúc đầu mang lại lợi lộc. Năm 1977, sau khi trở thành Tổng chưởng lý bang Arkansas, Bill đã mua một số bất động sản của McDougal và của ngài William Fulbright, khi ấy đã là cựu-Thượng nghị sĩ. Ông nhanh chóng bán lại các bất động sản này và kiếm lời kha khá.
Một năm sau đó, Bill và Hillary cùng McDougal và vợ của ông ta là Susan, đầu tư vào thương vụ đất đai Whitewater. Mối liên hệ với Fulbright đã giúp họ đạt được hợp đồng đất đai Whitewater cũng như nó đã giúp Bill tránh được Việt Nam: gia đình Clintons rất ấn tượng với những thành công về tài chính của McDougal, nhưng chính mối liên hệ của ông ta với “ngài Bill Fulbright hoàn hảo” mới có tác dụng “làm cho cả hai chúng tôi tin tưởng,” nhiều năm sau Hillary viết lại như vậy.
Vài năm sau vụ đầu tư Whitewater, McDougal tiếp tục mua lại một ngân hàng và một quỹ tín dụng[1] có tên là Madison Guaranty. Cả hai tổ chức tài chính này đều bị giám sát bởi các quan chức liên bang và tiểu bang, nhưng không ai ở Arkansas hoài nghi tính chính đáng của mối quan hệ đối tác về kinh doanh bất động sản giữa ngài thống đốc, đệ nhất phu nhân bang Arkansas và ông McDougal, thậm chí cả sau khi ông này bị buộc tội rồi được tha bổng về tội lừa đảo liên quan tới quỹ tín dụng Madison.
Nhưng điều có thể thấy trong trường hợp này là một rắc rối không đáng chú ý ở một tiểu bang nhỏ lại trở thành chuyện lớn khi được đưa lên sân khấu quốc gia. Bản kê khai tài chính của Bill ở Arkansas năm 1991 đã liệt kê hợp đồng đất đai này là một tài sản. Không bao lâu sau khi ông Bill công bố sẽ ứng cử tổng thống Mỹ, một lần nữa bà Hillary lại hết sức lo lắng về những vấn đề tài chính, thuế má của thương vụ Whitewater và yêu cầu người cộng sự ở hãng luật là luật sư Bill Kennedy giúp đỡ. Bà không chỉ lo lắng cho thương vụ Whitewater: danh sách bảy mươi lăm vấn đề phiền toái mà Đội bảo vệ của chiến dịch vận động tranh cử lập ra tháng 3 năm 1992 còn bao gồm những câu hỏi về mối xung đột lợi ích có thể có, bởi vì Hillary làm công tác pháp lý cho Madison Guaranty trong lúc bà đang làm việc tại công ty luật Rose.
McDougal, một thời là người có nhiều ảnh hưởng trong thành phố, đã rơi xuống cảnh khốn cùng và phải sống trong một căn nhà di động ở Arkadelphia phía tây nam thành phố Little Rock, cách trung tâm chừng một giờ lái xe, vào thời điểm Bill bắt đầu chiến dịch tranh cử tổng thống tháng 10 năm 1991. Trong hàng loạt cuộc trả lời phỏng vấn, McDougal tuyên bố chính Bill đã yêu cầu ông ta phải thuê Hillary và hãng luật Rose. Ông ta nói, ông làm việc đó một cách miễn cưỡng bởi vì ông đã có một công ty luật khác đại diện cho quỹ tín dụng của ông ta. (Như đã nói trong chương trước, Madison phải chấp nhận thanh toán cho Rose mỗi tháng 2.000 đôla cho dù có sử dụng dịch vụ hay không). McDougal cũng cho biết, ông ta tin có nhiều tài liệu chứng minh Hillary đã thay mặt ông ta làm công tác pháp lý với Sở Chứng khoán Arkansas – cơ quan giám sát các cơ sở tín dụng được nhà nước tiểu bang công nhận, giống như Madison Guaranty.
Ngày 11 tháng 2 năm 1992, một trong hai tác giả của cuốn sách này (Jeff Gerth, khi ấy là phóng viên điều tra của tờ New York Times) đã tới Sở Chứng khoán ở thành phố Little Rock và yêu cầu được coi lại hồ sơ lưu trữ về Madison theo luật về tự do thông tin. Một viên thư ký tìm được các tài liệu đó và để Gerth ngồi một mình xem xét đống hồ sơ tại chiếc máy đọc vi phim. Anh nhanh chóng tìm được hai lá thư viết năm 1985 từ hãng luật Rose và từ Sở chứng khoán, có tên của Hillary trong đó.
Chiều ngày hôm đó, Giám đốc Sở Chứng khoán Arkansas, ông Joe Madden, cảnh báo văn phòng thống đốc và ban vận động tranh cử về phát hiện của Gerth. Madden kể với họ rằng trong số những tài liệu mà Gerth thu thập được có một lá thư của người tiền nhiệm của ông tại Sở Chứng khoán, bắt đầu bằng câu, “Hillary thân mến.” Ban vận động tranh cử và Hãng luật Rose nhanh chóng vào cuộc. Đến 8 giờ 41 phút sáng hôm sau, có ai đó ở hãng luật đã làm một bản sao các hóa đơn thanh toán của Madison.
Vài ngày sau đó, Gerth gọi điện cho Webb Hubbell, người cộng sự của hãng luật Rose được giao nhiệm vụ trả lời báo chí. Hubbell đã xem lại những ghi chép hóa đơn nhưng từ chối thảo luận về công việc mà hãng luật đã làm cho Madison, cả về chuyện làm thế nào mà Rose được quỹ tín dụng ứng tiền công dịch vụ. Tuy nhiên, ông ta đã lập tức chuyển những câu hỏi của Gerth và câu trả lời của ông ta cho một thành viên trong Đội bảo vệ. Cho đến lúc này, vấn đề trở nên nghiêm trọng đến nỗi Hillary đã giới hạn việc tiếp cận của báo chí, chỉ dành cho một vài nhân viên phụ tá và luật sư của ban vận động tranh cử, đồng thời yêu cầu một trong những người bạn thân nhất của mình là Susan Thomases, một luật sư ở New York, tiến hành thương lượng đặc biệt với Gerth và tờ New York Times. Sau khi trao đổi với Hillary, Thomases gọi điện cho Gerth ngày 20 tháng 2 và nói với anh rằng một trong các luật sư trẻ của hãng Rose, luật sư Rick Massey, chuẩn bị phát biểu rằng chính anh ta chịu trách nhiệm xử lý công việc của Madison với tư cách một khách hàng của hãng luật. Gerth làm theo hướng dẫn của Thomases và gọi điện cho Massey ở Little Rock. Ngay lập tức Massey phủ nhận việc tham gia vào công việc ở Madison và nói rằng anh không biết bằng cách nào hãng luật tham gia vào việc đó.
Trong nội bộ, Ban vận động tranh cử, mà vào lúc ấy đang xử lý vấn đề quân dịch và tính lăng nhăng của Bill Clinton, đã bắt đầu nhìn sự liên quan của Hillary vào công việc pháp lý ở Madison như là “cú đánh thứ ba” rất có khả năng xảy ra. Sau này các phụ tá của ban vận động nhớ lại, mối lo lắng của họ là những rắc rối về chính trị chứ không phải là trách nhiệm pháp lý: danh tiếng của Hillary với tư cách một luật sư hàng đầu, có một sự nghiệp độc lập với sự nghiệp của chồng, có thể bị hoen ố bởi những tiết lộ rằng bà đã từng làm việc cho một người như Jim McDougal, đã ứng phó với các điều tra viên do chồng bà bổ nhiệm và đã được thuê dụng chỉ vì yêu cầu cá nhân của chồng bà, khi ấy đang là thống đốc bang.
Trong lúc này, Gerth đã gần hoàn tất bài phóng sự điều tra và sẽ gặp gỡ Thomases và Loretta Lynch, một thành viên trong Đội bảo vệ, tại văn phòng luật sư của Thomases ở New York. Lúc ấy, theo yêu cầu của Gerth, McDougal đã lục lọi đống giấy tờ lưu trữ của mình và phát hiện một số tờ cuống séc bị bỏ nhầm trong một kẹp đựng hồ sơ. Ông ta tưởng mấy cái cuống séc này đã bị tiêu hủy nhiều năm trước, nhưng “do tình cờ” chúng bị đặt nhầm vào các kẹp hồ sơ tài chính khác. McDougal đưa cho Gerth mấy cuống séc mới tìm thấy được, chúng chứng tỏ dự án liên doanh Whitewater đã phát hành séc từ một tài khoản tại Madison Guaranty, nhưng không có đủ tiền bảo chứng trong tài khoản. Những tài liệu khác tiết lộ rằng ngân hàng Madison Guarnaty đã không thu lại các tờ séc. Có ai đó, bằng cách nào đó, đã cung cấp tiền bạc để thanh toán các khoản tiền còn thiếu.
Tại cuộc gặp gỡ trong văn phòng luật sư Thomases, Gerth chia sẻ những tài liệu mới phát hiện với Thomases và Lynch. Sau đó anh hỏi Thomases về hồ sơ tài chính của Whitewater nhưng bà ta không có gì nhiều để nói. Chỉ mới vài ngày trước, Bill và Hillary nói với bà rằng Whitewater là một sai lầm rắc rối – theo từ ngữ của Hillary thì đó là “việc ngu ngốc duy nhất mà chúng tôi từng làm”. Bill nói, ông rất hối tiếc về vụ đầu tư này, một phần vì nó sinh ra cảm giác ở đây có mâu thuẫn về lợi ích.
Chủ nhật ngày 8 tháng 3, tờ New York Times đăng một bài điều tra dài 1.785 chữ, phơi bày mối quan hệ đối tác về kinh doanh bất động sản giữa gia đình McDougal và gia đình Clinton, các mối quan hệ với quỹ tín dụng đã sụp đổ và sự tồn tại của cái tên Hillary trong hồ sơ của hãng luật Rose, với danh nghĩa là đại diện cho quỹ tín dụng này trước các nhà điều tra của bang.
Đoạn tóm tắt của bài báo này nêu lên câu hỏi về hai khả năng có mâu thuẫn về lợi ích – một thống đốc bang hợp tác làm ăn với một người mà công ty của ông ta do chính quyền bang giám sát; và một phu nhân thống đốc làm đại diện pháp lý cho một doanh nghiệp trước các nhà điều tra của bang do ông thống đốc bổ nhiệm. Bằng cách dẫn ra những dữ liệu ngân hàng mà McDougal mới vừa tìm lại được, bài báo cũng tường thuật rằng quỹ tín dụng của McDougal đã từng trợ cấp cho dự án liên doanh bất động sản không thành công với gia đình Clinton. Bài báo chỉ ra rằng gia đình Clinton từng “gặp rủi ro nho nhỏ về tài chính” vì McDougal đã phải thanh toán phần lớn các khoản chi cho một dự án dường như có tỷ lệ vốn năm mươi-năm mươi.
Vào buổi tối thứ bảy, ban vận động bầu cử nhận được bản fax bản thảo đầu tiên của bài báo; nó giúp cho các nhà chiến lược soạn thảo ra một cuộc phản công dài dòng dành cho các nhà báo vào sáng hôm sau. Hillary giúp vào việc xem lại và phê chuẩn lời tuyên bố. Thời điểm cũng hết sức quan trọng: trong vòng hai ngày tới, tám bang trên toàn quốc sẽ tổ chức cuộc bầu chọn ứng cử viên ra tranh cử tổng thống, một sự kiện thường được gọi là “Ngày thứ Ba siêu đẳng” (Super Tuesday). Một điểm mà chiến dịch vận động tấn công vào là nhan đề của bài báo. “Clinton tham gia ban điều hành S&L trong vụ đầu tư địa ốc Ozark”, có hàm ý rằng hai vợ chồng này đã thực hiện việc đầu tư trong khi McDougal sở hữu quỹ tín dụng, dù rằng bài báo lưu ý rằng việc mua lại quỹ tín dụng đã diễn ra vài năm sau đó.
Các phụ tá chiến dịch tranh cử của Clinton nhấn mạnh rằng, thương vụ Whitewater không mang lại cho gia đình Clinton đồng bạc nào. Họ cũng than phiền bài báo đã không đề cập tới chuyện hai vợ chồng “bị rủi ro thật sự” và “tiếp tục chịu trách nhiệm cá nhân về những khoản nợ xấu của công ty”. Tuy nhiên trong nội bộ, ban vận động nhận ra điểm thứ hai này không vững chắc, không cản nổi những làn đạn tấn công bởi vì ông Bill đã không liệt kê trách nhiệm về món nợ Whitewater trong báo cáo kê khai tài chính mà ông đã nộp cho Ủy ban Bầu cử Liên bang. Một cuộc tranh luận đã nảy sinh trong nội bộ ban vận động tranh cử. Vấn đề, như sau này một phụ tá nhớ lại, là có nên liệt kê Whitewater như một tài sản, coi như “một hợp đồng thân ái”, bởi vì McDougal đã đóng góp vào dự án nhiều hơn là Clinton hay không? Hoặc ban vận động có nên kê khai nó như một trách nhiệm pháp lý và coi hai vợ chồng như “một nạn nhân” không? Cuối cùng vợ chồng Clinton chọn cách hành động thứ hai và kê khai món nợ Whitewater như một trách nhiệm pháp lý trong bản báo cáo kê khai tài sản có sửa đổi mà họ nộp cho ủy ban bầu cử vài tuần sau khi bài báo trên New York Times được in.
Dù Bill là người ký tên tất cả những bản liệt kê tài sản có tuyên thệ hẳn hoi, nhưng Hillary mới là người quản lý phản ứng của ban vận động tranh cử. “Bà nói, bà không muốn chúng tôi nói chuyện với bất kỳ ai về bất kỳ vấn đề nào về thuế, dù thuế chung hay thuế đặc thù, trước khi chính bà được báo cáo về các vấn đề đó,” một phụ tá viết trong sổ ghi nhớ của ban vận động như vậy.
Chẳng bao lâu sau các tờ báo khác cũng chú ý tới câu chuyện Whitewater và nêu thêm nhiều câu hỏi về vai trò của Hillary trong việc thu xếp tài khoản của Madison, cũng như về ảnh hưởng của công ty luật của bà ở Arkansas. Vào ngày 15 tháng 3, đề tài này trở thành mục tiêu trong cuộc tranh luận ở Chicago giữa những người Dân chủ có ý định ra ứng cử tổng thống diễn ra ngay trong đêm trước của cuộc bầu chọn ứng cử viên Dân chủ bang Illinois. Trước khi diễn ra cuộc tranh luận, Hillary thúc giục ông Bill phải “bảo vệ danh dự cho tôi”, và ông có được cơ hội đó khi Jerry Brown, cựu thống đốc bang California, tố cáo gia đình Clinton mắc phải “xung đột lợi ích” và tố cáo ông Bill “tuồn tiền cho công ty luật của vợ ông khi coi nó như một doanh nghiệp của bang.” Ông Bill liền bảo vệ bà Hillary và tấn công ông Brown vì đã “nhảy vào chuyện vợ tôi”, thêm rằng “ông không xứng đáng đứng cùng một diễn đàn với vợ tôi.”
Khuya hôm đó, nhà báo nữ Andrea Mitchell, phóng viên thường trú tại Washington của kênh truyền hình NBC News, cố gắng đeo bám câu chuyện bằng cách nêu những câu hỏi của riêng cô. Mitchell muốn trực tiếp hỏi Hillary về những cáo buộc xung đột quyền lợi, nhưng cô biết rằng không dễ gì tiếp cận được bà. Theo kế hoạch, hai vợ chồng Clinton sẽ gặp gỡ những người đi làm bằng phương tiện vận tải công cộng (commuter) vào sáng hôm sau, từ 6g30 đến 7g tại quán ăn Busy Bee nằm dưới gầm đường sắt trên cao ở Chicago. “Cách thức duy nhất để nêu được câu hỏi cho bà Hillary là phải dậy sớm hơn tất cả mọi người, lao tới tiệm ăn, và ngồi đồng trên một chiếc ghế như một thực khách trước khi các nhân viên mật vụ và đám phụ tá dọn sạch chỗ đó,” sau này Mitchell kể lại.
Sau khi uống vô số cốc cà phê, Mitchell mới giành được vị trí tốt và đủ tỉnh táo để làm cuộc phỏng vấn. Khi Hillary đi ngang qua, Mitchell cất tiếng hỏi về cáo buộc của ông Brown liên quan đến việc tuồn tiền, và về “khả năng xảy ra xung đột lợi ích.”
Hillary nói những lời tố cáo của Brown là “tuyệt vọng và đáng thương.” Còn đối với câu hỏi thứ hai, bà trả lời: “Tôi cho rằng đáng ra tôi có thể ngồi nhà, nướng bánh pha trà,” nhưng rồi bà nói tiếp, “Nhưng điều tôi quyết định phải làm là hoàn thành nghề nghiệp của mình, một nghề nghiệp tôi đã dấn thân vào, trước khi chồng tôi dấn thân vào sự nghiệp công chức.”
Các phụ tá vận động bầu cử lập tức biết rằng nhận xét đó của Hillary sẽ gây phản ứng. Chiến lược gia về vận động của ông Clinton là Paul Begala bảo bà rằng, nhận xét của bà có thể được coi như “một cuộc tấn công vào những bà mẹ chỉ ở nhà làm nội trợ.” Hillary, với một “vẻ ngây thơ và bị tổn thương trên mặt”, không đồng ý như vậy. Bà nói, “Không ai có thể nghĩ như vậy.” Bà giải thích, bà rất muốn được làm một bà mẹ nội trợ, nhưng không thể làm như vậy bởi vì đồng lương của ông Bill rất khiêm tốn. “Anh lo nhiều quá đấy,” bà nói với ông Begala.
Nhưng dù sao, bà cũng quay trở ra bên ngoài tiệm ăn để làm sáng tỏ nhận xét của mình. Ở đó cánh phóng viên đã tụ tập đông đảo, mà Mitchell nói “giống như một đàn gia súc” bên ngoài quán cà phê, và “xếp thành hàng khi bà Hillary bước ra tuyên bố rằng dĩ nhiên bà không có ý hạ thấp phẩm giá của những người phụ nữ chỉ làm việc tại nhà.”
Sau này ông Begala kể lại, “Nhưng lúc ấy đã quá trễ.” Nhận xét của bà đã được đưa lên mạng và sẽ được trích dẫn rộng rãi trên khắp đất nước.
Lỗi lầm của Hillary tỏ ra là vận may cho những người Cộng hòa như sau này bà thú nhận một cách muộn màng. Bà tin rằng, sự phê phán mà bà nhận được bắt nguồn từ vai trò của bà “như một biểu tượng cho thế hệ phụ nữ của tôi” và là hiện thân của “một sự thay đổi tận gốc trong cái cách mà người phụ nữ thực hiện chức năng trong xã hội chúng ta.”
Hai cách giải thích khác nhau của bà cho những nhận xét mà bà đưa ra cũng mang tính điển hình của Hillary; trong cả hai cách bà đã không hề thực sự chấp nhận mình có lỗi. Thái độ miễn cưỡng như vậy từng là phản ứng gần như có tính tự thân của bà mỗi khi đối mặt với sự phê phán vì một sai lầm nào đó. Tính dè dặt của bà khi phải thừa nhận một lỗi lầm, kể cả lỗi đơn giản như lỡ lời trong cuộc vận động tranh cử chẳng hạn, một phần nằm trong cái nhìn lý tưởng hóa của bà về chính bản thân mình, rằng bà không thể làm điều gì sai, mà nếu có mắc phải thì cũng là do bà theo đuổi một lý tưởng tốt đẹp và lớn lao hơn. Đi cùng với cách nhìn như vậy đã xuất hiện một niềm tin rằng trong bất cứ chỗ nào mà bà bước vào, bao giờ bà cũng là người thông minh nhất.
Nhưng còn có một lý do khác giải thích tại sao Hillary rất miễn cưỡng khi phải nhận lãnh đầy đủ trách nhiệm cho những sai lầm của chính mình: làm như vậy sẽ là trao vũ khí cho kẻ thù. Bà đã chịu đựng rất nhiều vụ tấn công công cộng và những vụ lăng nhục có báo chí khuyến khích. Bà là một nhà tiên phong – nhưng là nhà tiên phong thận trọng. Cái mà một thời có thể chỉ là một tính cách phòng vệ nhỏ nhoi, theo thời gian đã được phóng đại lên thành một nỗi thất vọng, tăng dần trên con đường đi tìm câu trả lời cho chính bà về những người mà bà cảm thấy đang cố gắng vây bắt bà. Tất nhiên có thể mỗi chính trị gia nổi tiếng ít nhiều đều cảm thấy điều này, nhưng ít ai đã phải ngồi bên cạnh chồng mình trước ống kính truyền hình quốc gia trong lúc ông thú nhận một cách hiệu quả về hành vi ngoại tình; ít ai bị các đối thủ chính trị gọi mình và con cái mình là “đồ ngu”; ít ai phải đương đầu với những tin đồn độc ác liên quan tới đời sống riêng tư. Và tất cả những chuyện đó diễn ra trong một thời đại mà sự bẩn thỉu cùng cơn lốc xoáy những tin đồn ác độc và truyền thông hiện đại có thể hình thành nhanh chóng một cách tàn nhẫn và độc ác. Tuy nhiên, điều gây ngạc nhiên là một con người thông minh như thế đôi khi lại không phân biệt được những cung bậc khác nhau như bà từng thể hiện ở Chicago. Và điều cuối cùng bộc lộ ra là bà đã cư xử kiểu như vậy ngay trước khi nổi lên trên vũ đài chính trị quốc gia. Quán ăn Busy Bee dưới gầm đường sắt Chicago chỉ cách Park Ridge vài dặm đường, nơi Hillary có lần học được từ người mẹ rằng cách thức phản ứng với kẻ bắt nạt mình là đánh trả lại kẻ đó.
Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi ban vận động bầu cử, thông qua các nghiên cứu và thăm dò dư luận của mình, phát hiện ra rằng Hillary đặc biệt làm cử tri hoảng sợ vì tỏ ra quá hung hăng và khó chịu. Vào tháng 4 năm 1992, các cố vấn cao cấp của chiến dịch viết một bản báo cáo nội bộ tường thuật rằng công chúng nhìn bà như một người vợ có ý định “điều khiển cuộc trình diễn” và các cố vấn khuyến nghị một chiến lược để Hillary bớt xuất hiện trong một thời gian.
Phần lớn những lời khuyên của các cố vấn đã được tuân thủ. Tuy nhiên, như báo cáo nội bộ của họ đã dự đoán, Hillary trở thành yếu tố chính trong các cuộc tấn công của Đảng Cộng hòa nhắm tới gia đình Clinton và những giá trị của họ; đặc biệt là trong kỳ đại hội Đảng Cộng hòa, nơi ông Pat Buchanan đã tấn công bà như “một nhà hoạt động nữ quyền cấp tiến”, người so sánh cuộc sống hôn nhân với đời nô lệ.
Vào cuối tháng ba, vụ đầu tư Whitewater đã mờ dần, không còn là một vấn đề nhức nhối sau khi một luật sư của ban vận động bầu cử công bố một báo cáo kế toán cho thấy gia đình Clinton đã bị mất tiền trong phi vụ liên doanh này, dù rằng khoản tiền thua lỗ của họ không sánh nổi với sự mất mát của McDougal. Tuy nhiên, báo cáo của luật sư không đụng chạm đến công tác pháp luật mà Hillary hoặc công ty luật của bà đã thực hiện cho ngân hàng Madison hoặc bất kỳ khách hàng nào khác. Những câu hỏi như vậy vẫn còn được theo đuổi bởi Đội bảo vệ và vô số nhà báo.
Cũng trong thời gian này, Hillary, Susan Thomases và Loretta Lynch cố gắng hình dung ra những gì sẽ nói với tờ New York Times và tờ Washington Post về sự dính dáng của Hillary với Madison và các thân chủ khác trong những vấn đề phải trình bày trước các nhà điều tra của bang.
Lúc đầu, có lần Hillary phát biểu không chính xác, rằng bà không hề đại diện cho quyền lợi của các thân chủ này trước các nhà điều tra tiểu bang. Nhưng những phản ứng liền theo đó của ban vận động bầu cử – những phản ứng mà bà đã giúp chuẩn bị – lại ít kiên quyết hơn; họ nói rằng, “Bà ấy đã cố tránh những liên can như vậy và không thể nhớ lại có trường hợp nào khác ngoài vấn đề Madison Guaranty mà tôi có chút liên can, và sự liên can của tôi trong trường hợp này là hết sức nhỏ bé.” Trong thực tế, những ghi chép của Lynch cho thấy, ban vận động bầu cử biết những bản ghi thanh toán đã chỉ ra rằng “có ít nhất một cuộc đối thoại” giữa Hillary và ủy viên phụ trách thị trường chứng khoán của bang. Ban vận động bầu cử không bao giờ tiết lộ dữ kiện này. Ngoài ra, với sự trợ giúp của luật sư Vince Foster, Hillary đã thảo ra một bài phát biểu để bảo vệ công việc đại diện cho Madison của bà, kể ra những thành tích không có chút tì vết nào của bà khi hành nghề luật sư ở Arkansas. Pha trộn trong bài phát biểu này là một sự nhân nhượng rằng, thật là sai trái khi Hillary lại đại diện cho Madison để thảo luận với ủy viên chứng khoán tiểu bang. “Bây giờ hồi tưởng lại, tôi có thể thấy rằng, thậm chí chỉ để tránh không để người ngoài nghĩ đây là một sự mâu thuẫn về lợi ích, lẽ ra tôi đã không nên tham gia vào các việc đó,” bà viết. Nhưng bài phát biểu này không bao giờ được công bố cho công chúng – vì một lý do rất hiển nhiên: “Bà ấy không thích khi nhận một sai lầm, bởi vì nó sẽ phơi bà ra trước những cuộc tấn công của những đối thủ của Bill,” người lãnh đạo cuộc vận động bầu cử, Kantor, nhận xét.
Mười lăm năm sau, trong một chiến dịch vận động tranh cử tổng thống khác, khát vọng của Hillary về đức tính gần như không thể sai lầm (hay ít ra là bề ngoài) lại một lần nữa nổi lên. Lần này cuộc vận động tranh cử là của chính bà, và cái sai lầm mà bà từ chối thừa nhận, là việc bà đã bỏ phiếu ủng hộ cuộc chiến tranh Iraq năm 2002.
Hillary đẶt ra mỘt thách thỨc mỚicho các phóng viên đưa tin tranh cử. Lần cuối cùng mà vấn đề tài chính của một cặp vợ chồng ứng viên trở thành đề tài quan trọng trong cuộc bầu cử tổng thống là năm 1984, khi bà Geraldine Ferraro, ứng cử viên phó tổng thống của Đảng Dân chủ, phải trả lời những câu hỏi về các giao dịch kinh doanh của chồng mình. Và vào năm 1992, vấn đề đạo đức tràn ngập không khí Washington. Chủ tịch Hạ viện, ông Jim Wright, một người Dân chủ từ bang Texas, đã vừa mới từ chức sau khi một dân biểu Cộng hòa hỗn láo tên là Newt Gingrich khởi động một vụ kiện lên ủy ban đạo đức. Còn Hillary thì không được miễn dịch với bầu không khí hoài nghi mới mẻ này. Theo ông Bill và bà Hillary, vụ Madison là một ngoại lệ và là một trường hợp hạn chế, nếu xét theo luật lệ chung rằng Hillary đã không làm việc trước các điều tra viên của bang. “Tôi không làm bất kỳ công việc điều hành nào cho các ngân hàng,” Hillary nhấn mạnh như vậy vào tháng 3 năm 1992. Trong thực tế, một số phụ tá cao cấp của ban vận động, một vài người trong cuộc ở hãng luật Rose và cả Hillary – tất cả đều biết rõ rằng đã từng tồn tại một việc như thế. Chứng cứ liên quan tới trường hợp này không bao giờ được phơi bày cho cánh báo chí, và sau đó bị Hubbell lấy ra khỏi hồ sơ lưu trữ của hãng luật. Thân chủ của bà là Southern Development Bancorporation, một công ty cổ phần ngân hàng, là chủ sở hữu một ngân hàng phát triển nông thôn có tên là Southern Development Bank, đặt trụ sở tại Arkansas. Hillary là một trong các giám đốc của Southern Development và là nhà tư vấn thuê ngoài. Trong sáu năm bà làm luật sư cho họ, Southern Development Bank đã trả cho hãng luật Rose từ 100.000 đến 200.000 đôla. Hơn thế nữa, theo chỉ đạo của Bill, một khoản tiền 300.000 đôla trong quỹ dành riêng của bang đã được đầu tư vào ngân hàng này khi nó được thành lập vào năm 1986. Sau khi đã trở thành tổng thống, Bill vẫn còn khoe khoang rằng, “Hillary và tôi, khi chúng tôi còn ở Arkansas, đã góp phần thành lập ngân hàng Southern Development ở Arkansas” – ông quên lưu ý rằng vai trò của Hillary không phải là không công, mà là được trả thù lao theo số giờ làm việc.
Lý do mà tiểu bang phải trợ cấp là ngân hàng Southern Development có dự định cung cấp tín dụng cho những người không thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng ở các ngân hàng khác. Nhưng về nhiều phương diện, nó vẫn là một ngân hàng giống như mọi ngân hàng khác – kể cả tham vọng mở rộng. Trong khi các cuộc bầu chọn ứng cử viên liên tục diễn ra, ban vận động bầu cử của Clinton biết được các phóng viên của tờ Washington Post đã nói chuyện với các viên chức Southern Development về sự liên can có thể có của Hillary trong việc sáp nhập một ngân hàng khác, ngân hàng Elk Horn, và về công việc của bà liên quan tới ủy viên ngân hàng tiểu bang phê chuẩn vụ sáp nhập này.
Loretta Lynch đã phỏng vấn ông Hubbell vào ngày 11 tháng 5 sau khi ông rà soát lại hồ sơ lưu trữ của hãng luật Rose về Southern Development. Hubbell bảo cô rằng, cô sẽ không vui vẻ gì với những hồ sơ mà ông ta tìm ra đâu.
Vị ủy viên ngân hàng tiểu bang, do ông Bill bổ nhiệm, đã viết cho Hillary một lá thư đề nghị một ngân hàng mà Southern Development có thể mua lại. Theo lời Hubbell nói với Lynch, đây lại còn rắc rối hơn nữa, vì là một giao dịch riêng rẽ khác liên quan tới Southern Development. Hồ sơ lưu trữ của hãng luật thể hiện rằng Hillary đã “đàm thoại với” ủy viên chứng khoán tiểu bang về điều kiện miễn giảm thuế mà Southern Development cần có để có thể phát hành cổ phiếu.
Ngày hôm sau, Lynch gọi điện cho ủy viên chứng khoán để tìm hiểu xem những hồ sơ lưu trữ của họ về giao dịch chứng khoán của Southern Development có cho thấy điều gì liên quan đến Hillary hay không. “Hillary tràn ngập hồ sơ này. Ai cũng có thể thấy điều đó,” vị ủy viên nói với Lynch.
Vào ngày 16 tháng 5, Lynch báo cáo lại những phát hiện của mình với Hillary và Betsey Wright. Trong một cố gắng phản ứng lại bài tường thuật trên tờ Washington Post, Lynch viết rằng những giao dịch của Hillary với ủy viên chứng khoán tiểu bang “không nên công khai ra”. (Sau cuộc bầu cử tổng thống, những hồ sơ lưu trữ ghi lại những cuộc đối thoại này – chẳng hạn những bản gốc của hãng luật về các hồ sơ của ngân hàng Southern Development đều bị Webb Hubbell lấy ra khỏi văn phòng hãng luật và đem về ngôi nhà mới của ông ta ở Washington, DC.)
Hành động ngăn chặn của Hillary đã phát huy hiệu quả. Những cuộc thảo luận của bà với các nhà điều hành tiểu bang, cũng như phần còn lại trong các phát hiện của Lynch, đã không bao giờ tới được công chúng. Khi cuối cùng bài báo của Washington Post được xuất bản vào tháng 7 năm 1992, nó đề cập tới ngân hàng phát triển như một chi tiết tình cờ, và bài báo gây được rất ít sự chú ý. Các nhà báo đã không bao giờ khám phá được mối liên hệ giữa Hillary với ủy viên chứng khoán, cũng như họ không hề hay biết về những thư từ giao dịch với sở quản lý ngân hàng.
Hillary còn có một phi vụ kinh doanh cuối cùng mà bà muốn che giấu trong năm 1992: Việc kinh doanh hàng hóa hết sức béo bở vào đầu thập niên 1970. Ở đây bà cũng thành công.
Nhu cầu bảo đảm bí mật các vấn đề tài chính của gia đình Clinton là yêu cầu hàng đầu trong công việc của ban vận động tranh cử. Betsey Wright đã từng nhắc nhở một nhân viên vận động khác về chuyện đó trong một bản ghi nhớ nội bộ, “Giữa bạn và tôi, xin đừng thảo luận về thuế má của vợ chồng Clinton và tôi sẽ quyết định về vấn đề thông tin hạn chế; Hillary đang có kế hoạch giữ một chút bí mật trước các nhân viên,” Wright bảo với Lynch như vậy. Trong một cuộc họp vào mùa xuân năm ấy, Hillary còn nhấn mạnh rõ ràng hơn. Bà cảnh báo Lynch rằng, nếu hồ sơ hoàn thuế thể hiện việc kinh doanh hàng hóa bị lộ ra thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. “Cô sẽ không bao giờ hoạt động chính trị cho Đảng Dân chủ được nữa,” Hillary bảo cô.
Ông Bill thì đã công bố hồ sơ hoàn thuế của mình từ thời những năm 1980, nhưng không công bố hồ sơ hoàn thuế thể hiện lợi nhuận mà bà Hillary thu được từ kinh doanh cổ phiếu hàng hóa. Các nhà báo tò mò về sự gia tăng nhanh chóng và khó giải thích trong thu nhập ròng của đôi vợ chồng này vào những năm tháng ấy; thu nhập này thường được giải thích theo cách khác: Tiền do cha mẹ bà Hillary tặng, và tiền tiết kiệm từ những khoản thu nhập trước kia.
Một cựu phụ tá giải thích, “Đó là một cách che giấu tồi”, nhưng nó có hiệu quả và sự quan tâm của cánh báo chí “chuyển sang chỗ khác.”
Khi năm 1992 sắp kết thúc và gia đình Clinton chuẩn bị chuyển lên Washington, họ hy vọng sẽ bỏ lại đằng sau cái lỗi lầm đã dây dưa với McDougal và vụ Whitewater. Họ hướng tới người bạn tin cậy Jim Blair – chồng của bà Diane Blair, người điều phối cuộc vận động tranh cử – để nhờ dọn sạch những vụ lộn xộn này.
Ngày 22 tháng 12 năm 1992, vợ chồng Clinton chính thức kết thúc việc đầu tư ở Whitewater khi McDougal mua lại phần của họ với giá 1.000 đôla. Jim Blair cung cấp tiền bạc, viết séc cho luật sư của McDougal, rồi đến lượt người này lại viết séc trả tiền cho vợ chồng Clinton.
Ông Blair, sau này miêu tả công việc Whitewater của ông chỉ như là “việc trông giùm nhà”, có kế hoạch đi từ Fayetteville tới Little Rock ngày hôm đó để tự tay xử lý cuộc kết thúc này tại văn phòng của luật sư của McDougal nhưng thời tiết xấu đã khiến ông không tham dự được. Thế là vào phút cuối, họ phải tìm người thay ông ta để đại diện cho vợ chồng Clinton – chính là ông Vince Foster, người đã từng làm thư ký cho Blair. Trong cuộc gặp mặt ở Little Rock, cách không xa văn phòng của hãng luật Rose, Foster chuyển một số ghi chép về thuế của vụ Whitewater cho McDougal và nói “bằng một giọng buồn rầu như điếu tang”, rằng ông chỉ “đơn giản là một người đưa tin”. Về phần mình, McDougal đưa cho ông Vince Foster một tài liệu đầy “những điều không chính xác” – chính là cái biên bản được soạn trước của cuộc họp ban giám đốc Whiterwater dự định diễn ra ngày hôm đó. Foster nhận lấy cái tài liệu giả tạo này trong im lặng.
Thế rồi, mối quan hệ với McDougal đè nặng lên tâm trí Foster. Hồi đầu năm ấy, Foster đã nắm quyền kiểm soát những tài liệu lưu trữ về Whitewater cùng những tài liệu khác nữa liên quan tới Hillary, và những tài liệu này thuộc sở hữu công ty luật. Vào một thời điểm nào đó, và không nói cho ai biết, ông đã dời những tài liệu này đi chỗ khác, trong một chiếc cặp da mà cuối cùng người ta tìm thấy trên căn gác áp mái nhà ông ở Little Rock.
Đối với Foster, McDougal là một cánh cửa mà tốt nhất là đừng bao giờ mở ra. Trong một bảng danh sách những việc cần làm trước khi rời Little Rock để đến Washington, Foster viết, “Hãy thoát ra khỏi Whitewater!” Thoát ra khỏi Whitewater có nghĩa là tách vị tân tổng thống và Hillary ra khỏi những vướng víu rối rắm của quá khứ, kể cả vụ vướng víu với một đối tác kinh doanh nay đã bị buộc tội lừa đảo.
Những người cố gắng cắt đứt sợt dây thừng mục nát ở Arkansas tháng 12 năm ấy hoàn toàn không biết rằng các nhà điều tra liên bang còn lâu mới hoàn tất được công việc với McDougal và ngân hàng Madison. Ông Blair đã nhận ra, có lẽ có phần do tiên tri, rằng việc McDougal chuyển những hồ sơ lưu trữ cho tờ New York Times là một sai lầm. Nhưng cả ông và ông Foster đều không thể hình dung nổi, làm sao một vài cái cuống séc đã bị hủy bỏ cuối cùng lại có thể tác động đến như thế đối với cuộc sống của ông Bill và bà Hillary trong Nhà Trắng.
❀ ❀ ❀
[1] Savings and loan – S&L – một hình thức quỹ tín dụng huy động tiền tiết kiệm và cho vay lại - ND