Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
Những Điều Bí Ẩn Của Thế Giới Hillary

❊ ❊ ❊

Năm 1992, mỘt phụ tácho chiến dịch tranh cử của Bill Clinton đặt ra từ giễu “Thế giới Hillary”, và danh hiệu đó đã định nghĩa đúng một nhóm văn hóa quan trọng dưới thời Clinton làm tổng thống. Hillary quan sát thấy, “Những nhân viên của tôi tự hào vì có tính thận trọng, lòng trung thành, sự thân thiết, và chúng tôi có những nét đặc biệt của chúng tôi”. Trong khi đó, phụ tá cho Bill có “khuynh hướng để rò rỉ,” bà nhận thấy. “Thế giới Hillary thì không bao giờ.”

Đến khi Hillary bẮt đẦu cuộc tranh cỬ Thượng viện, Thế giới Hillary đã trở thành một từ khóa để chỉ tính kỷ luật và sự hy sinh cho nữ chủ nhân. Những người hâm mộ Hillary miêu tả “sự sùng bái bao quanh bà” cạnh tranh được với một triều đại trước đó. Một thành viên lâu đời của Đảng Dân chủ và là một người rất thích Hillary nói, “Kể từ thời Bobby Kennedy tới nay, tôi mới thấy lại lòng trung thành đến mức ấy dành cho Hillary.” Nhưng quyền lực và tầm ảnh hưởng của Thế giới Hillary làm lu mờ cả đế chế được xây dựng bởi dòng tộc Kennedy. Theo các ngài phụ tá thượng nghị sĩ và các nhà phân tích chính trị thì ngày nay, không một tổ chức chính trị đang hoạt động nào có thể sánh với nó về chiều sâu, tính kỷ luật, hay sự hy sinh. Và ở nhiều khía cạnh, lòng trung thành và tính kín đáo xoay quanh Hillary lại giống như đúc cái mạng lưới bí mật và trung thành của Tổng thống Bush, kẻ thù chính trị của bà.

“Xét về mặt văn hóa, Thế giới Hillary gần với Thế giới Bush hơn là Thế giới Clinton,” một cố vấn Thượng viện nhận xét. “Nó nguyên tắc hơn, tập trung hơn, thận trọng hơn.” Viên cố vấn tiếp thêm “Càng ở gần Hillary, lòng trung thành càng phải tăng để tạo dựng và duy trì nền văn hóa đó. Nếu bạn phản bội hay bất cẩn, sẽ có cái giá cho sự phản bội. Một nỗi lo sợ bị trừng phạt bao trùm cả nhóm.” Một người bạn lâu năm khác của Đệ nhất Phu nhân đã xin không nói về Thế giới Hillary, giọng nửa thật nửa đùa, “Bà ấy sẽ giết tôi mất nếu bắt gặp tôi đang nói với ông.”

vào ĐẾN ThưỢng viỆn, Hillary tìm cách chuyển một cách êm thấm Thế giới Hillary từ Nhà Trắng đến Tòa nhà Quốc hội. Nhưng mười sáu khối nhà ngược Đại lộ Pennsylvania tỏ ra khó chuyển hơn bà tưởng[1].

Bảng kê lương của Hillary sau khi bà phát động chiến dịch tranh cử tổng thống có tổng cộng gần hai trăm người, khoảng hai phần ba làm việc cho chiến dịch và một phần ba phục vụ cho công việc Thượng viện, làm việc trong cả tá văn phòng rải rác khắp Washington, bang New York, và những nơi khác trong cả nước. Vì New York là một bang lớn, nên thượng nghị sĩ thường có được nhiều khoản tiền hợp lý hơn để trả lương cho nhiều nhân viên hơn, và Hillary lại quản lý một trong những guồng máy lớn nhất Thượng viện. (Theo các quy tắc Quốc hội, công việc ở Thượng viện và những chiến dịch chính trị thông thường phải được phân biệt rạch ròi. Tuy nhiên, nhân viên của Hillary, trong ít nhất một trường hợp, đã dùng dịch vụ thư điện tử công việc của Thượng viện vào năm 2007 để mời các thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ đến buổi tiệc chiêu đãi, mở màn cho chiến dịch huy động gây quỹ tranh cử, với sự góp mặt của Hillary và Bill.) Ngoài những nhân viên trong bảng kê lương, Hillary còn có hàng trăm cố vấn ngầm, là những chuyên gia trong giới học thuật, các chiến lược gia, và các nhà tư vấn, tất cả đều trong tư thế sẵn sàng để phục vụ ngay khi được gọi, mặc dù họ đang làm việc tư vấn toàn thời gian ở một nơi khác.

Cố vấn trưởng của Thế giới Hillary, hẳn nhiên là ông Bill, người thường đem ra dùng “thử” những quan điểm hay những câu phát biểu sắc bén của Hillary để xem chúng có tác dụng ra sao trước khi bà dùng chúng. Nhóm phụ tá của Hillary bận rộn triền miên với việc soạn thảo diễn văn, luật, và các tóm tắt chính sách. Họ đồng thời phải kìm chân truyền thông, ban “rượu mời” cho những phóng viên ưa thích và thỉnh thoảng tổ chức các buổi họp không chính thức với một số thành viên chọn lọc của giới báo chí, trong khi tăng cường những đợt phản công dữ dội và hung hãn về phía những nhà báo phạm sai lầm. Họ sắp xếp lịch thăm viếng của Hillary và lọc ra từ hàng ngàn lời đề nghị được đưa vào chương trình. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, họ thu hút một khoản tiền khổng lồ – một nhà vận động quỹ tranh cử ước tính rằng Hillary sẽ thu hút được số tiền kỷ lục 125 triệu đôla Mỹ trước khi các kỳ bầu chọn ứng cử viên tổng thống của các đảng bắt đầu vào tháng 1 năm 2008 – để nuôi dưỡng bộ máy.

Nếu trúng cử tổng thống, Hillary hứa hẹn “sẽ thay thế sự kín đáo và bí ẩn bằng sự cởi mở.” Thế nhưng cách thức mà bà quản lý văn phòng Thượng viện của mình đôi khi thể hiện thái độ phóng túng đối với các quy tắc và khuynh hướng thiên về kín đáo.

Ví dụ như trong suốt sáu năm, vài chục nhân viên được gọi là nghiên cứu viên quốc hội đã làm việc như một đội ngũ trong bóng tối mà quần chúng hiếm khi nghe nói đến. Theo các cố vấn Thượng viện và một điều tra dựa trên các hồ sơ công khai, so với đội ngũ của những đồng nghiệp khác, đoàn tùy tùng này lớn hơn và được giấu kín hơn. Một lý do của sự mờ mịt này là do Hillary đã nhiều lần không đăng ký khai báo đúng quy định với Thượng viện cho ít nhất một tá nghiên cứu viên quốc hội. Với việc giữ những nhân viên này nằm ngoài sổ sách, Hillary rõ ràng là đã vi phạm quy tắc Thượng viện quy định việc công bố các thuê mướn thời vụ. Thêm vào đó, trong trường hợp một số nhân viên ngầm của mình, Hillary đã không đảm bảo được rằng họ đồng ý (bằng văn bản) sẽ tuân theo những nguyên tắc Thượng viện, vốn cũng áp dụng cho nhân viên cố định.

* * *

Khách tham quanTrụ sở Quốc hội Mỹ có thể dễ dàng tìm thấy văn phòng của các thượng nghị sĩ tiểu bang mình bằng cách chạm vào một màn hình trên tường các tòa văn phòng Thượng viện. Với Hillary, màn hình hiển thị SR476, tức Tòa Văn phòng Thượng viện Russell, kiến trúc lâu đời và thanh thế nhất trong số ba tòa nhà văn phòng của viện.

Mỗi thượng nghị sĩ được quyền sử dụng một dãy văn phòng. Trong tòa nhà văn phòng Russell, hầu hết các dãy đều có chín phòng. Lý tưởng nhất là các phòng này nằm kế nhau. Thượng nghị sĩ từ những bang lớn được phân thêm ba phòng nữa.

Russell 476, văn phòng cũ của Thượng nghị sĩ Moynihan, nằm ở tầng trên cùng dọc theo vành đai trong. Mỗi khi muốn đến sàn Thượng viện để bỏ phiếu bầu, Hillary phải đi một quãng mới tới được thang máy đưa bà xuống tầng hầm. Ở đó, Hillary bắt một chuyến tàu có người điều khiển, chạy ngầm dưới lòng đất, đưa các viên chức đến Trụ sở Quốc hội.

Những ánh hào quang còn sót lại từ chiến dịch tranh cử Quốc hội khá dễ dàng của Hillary không kéo dài được lâu. Trong Thượng viện, không gian văn phòng là một trong ba trụ cột của quyền lực (hai trụ cột còn lại là tiền bạc và con người). Tại Trụ sở Quốc hội, một công chức Thượng viện lâu năm nhận xét, “Bất động sản là yếu tố sống còn.”

Từ chỗ Hillary, xuôi theo hành lang là văn phòng của Thượng nghị sĩ Trent Lott, lãnh đạo phe đa số Thượng viện năm 2001, và có lẽ quan trọng hơn cả, ông là một thành viên của Ủy ban Quy tắc Thượng viện. Lott không chỉ muốn những căn phòng kế ngay khu vực của Hillary, mà còn để mắt tới một căn phòng rộng rãi nằm ngay góc, vốn từng là phòng văn thư của Thượng nghị sĩ Moynihan và là nơi Hillary vẫn mong sẽ được thừa hưởng như một phần của dãy phòng mình đã có sẵn.

Lott đã báo trước cho Hillary ngay sau kỳ bầu cử rằng bà vào không đúng lúc. “Nếu bà Hillary này mà vào Thượng viện – nếu bà ta vào được, biết đâu sét giáng xuống đầu và bà ta sẽ không vào được – thì bà ấy sẽ là một trong số một trăm thượng nghị sĩ,” Lott phát biểu ở Mississippi sau khi Hillary trúng cử, “Và chúng ta sẽ không để bà ấy quên điều đó.”

Và ông ta đã không để bà quên điều đó. “Hillary đang bị dồn ép,” một viên chức Thượng viện kể lại. “Mất một thời gian có vẻ như bà ấy sẽ phải dọn đi.” Một Hillary tuyệt vọng quay sang Thượng nghị sĩ Christopher Dodd, thành viên cấp cao của Đảng Dân chủ trong Ủy ban Quy tắc Thượng viện, ông này đã thúc ngược lại Lott; và một thỏa hiệp đã đạt được, theo đó Hillary giữ gian phòng văn thư cũ, và Lott nhận một số phòng nằm kế dãy văn phòng của Hillary. Để lấp đủ số, Hillary lấy thêm vài phòng nằm quanh góc quẹo cạnh dãy văn phòng của bà.

Trong lúc Hillary dọn vào không gian mới, Karl Rove, chiến lược gia trưởng của Tổng thống Bush, bắt đầu công việc ở văn phòng Cánh Tây nơi Hillary đã dùng khi còn là Đệ nhất Phu nhân. Rove sau đó nói đùa về việc tìm thấy một tấm gương trang điểm soi được toàn thân trong căn nhà mới của ông tại Nhà Trắng. Một ngày sau, khi Hillary tình cờ gặp Rove, bà khăng khăng mình không hề cho đặt tấm gương ấy. Dù vậy, Rove vẫn nhắc lại câu chuyện vài tuần sau đó. Tuy Rove chưa bao giờ nói thẳng ra rằng Hillary là tác giả của tấm gương, nhưng nếu để trêu chọc hay làm Hillary mắc mưu, thì ông ấy đã thành công. Khi Hillary gặp lại Rove lần nữa, lần này ở một trạm dừng chờ chuyến tàu đến Trụ sở Quốc hội, bà gắt giọng “Tôi đã bảo tôi không đặt tấm gương ở đó cơ mà.”

Trong khi tranh giànhkhông gian làm việc ở Thượng viện, Hillary đồng thời cũng tìm mua một ngôi nhà ở thủ đô. Một số thượng nghị sĩ sống cuộc sống bình dị ở Washington, mướn những căn hộ cho thuê nhỏ, đôi khi còn chia phòng với các nghị sĩ đồng nghiệp. Hillary quyết định theo hướng khác. Xét trên nhiều khía cạnh, ngôi nhà ở Washington của bà sẽ trở thành địa điểm họp mặt quan trọng nhất của Thế giới Hillary, ban đêm có thể dùng làm nơi vận động tiền tranh cử, và những cộng sự trung thành có thể ngồi lại với nhau để hội ý vào dịp cuối tuần.

Tuy nhiên, Hillary sẽ cần đến vài triệu đôla để có thể mua được một ngôi nhà thích hợp. Bà và Bill đã dùng hết khả năng tài chính của mình cho căn nhà 1,7 triệu đôla ở Chappaqua, một bước chuẩn bị bắt buộc cho cuộc tranh cử của bà ở New York. Bill, hẳn nhiên, trong tư thế có thể kiếm ra rất nhiều tiền: trong vòng vài năm nữa, ông có thể kiếm được từ 10 đến 15 triệu đôla mỗi năm từ những buổi thuyết trình và công việc tư vấn cho hai tập đoàn. Nhưng vào đầu năm 2001, cặp vợ chồng này vẫn đang gánh những món nợ chồng chất lên đến hơn 5 triệu đôla.

Ngày 2 tháng 1 năm 2001, Hillary ký một hợp đồng sách tự truyện. Bà được Simon & Schuster trả một khoản tiền ứng trước kỷ lục là 8 triệu đôla. Hai tuần sau khi ký hợp đồng, Hillary và Bill đã trả 2,85 triệu đôla cho một căn biệt thự bằng gạch ở phía tây bắc Washington. Ngôi nhà, nằm gần Đại sứ quán Anh, được đặt tên theo cái ngõ cụt dẫn vào nhà, Whitehaven. Hillary sau đó còn chi tiếp 1 triệu đôla nữa để sửa sang lại ngôi nhà, thêm vào một chiếc thang máy và một hồ bơi trong nhà, và nâng tổng diện tích dinh thự từ 6260 lên 7218 bộ vuông. Thang máy được dùng chủ yếu bởi người cư trú suốt ngày duy nhất của Whitehaven, bà Dorothy, mẹ của Hillary.

Đến cuối năm 2006, Whitehaven đóng vai trò một phòng khách tấp nập cho chiến dịch tranh cử tổng thống. Ngay sau khi tái trúng cử vào Thượng viện một cách dễ dàng, Hillary đã tổ chức chiêu đãi các quan chức và lãnh đạo chính trị từ New Hampshire và Iowa vào hai bữa tối riêng rẽ tại nhà. (Đoạn phim chiếu cảnh một Hillary thanh thản tuyên bố ra tranh cử tổng thống vào đầu năm 2007 được quay ở phòng khách rất nhiều cửa sổ của Whitehaven).

Rất nhiều cuộc gây quỹ tranh cử tổ chức tại Whitehaven đã được giữ kín với công chúng. Những vị khách được yêu cầu cho kiểm tra túi xách, máy hình, và điện thoại di động tại cửa ra vào; chỉ một nhiếp ảnh gia có thẩm quyền được phép chụp ảnh. Với những buổi gặp mặt bí mật hơn nữa, Hillary mượn những ngôi nhà gần đó của bạn bè, làm tăng thêm sự kín đáo của Thế giới Hillary. Trong khu vực Công viên Cleveland của Washington, không quá xa Whitehaven, có nhà của Evelyn Lieberman, người từng là phụ tá Nhà Trắng dưới thời Clinton, và “đóng một vai trò kinh khủng trong Thế giới Hillary, nơi bà can thiệp vào cả mặt hoạt động lẫn hậu cần.” Năm 2006, Hillary thỉnh thoảng dự những buổi họp bàn chiến lược tại nhà Lieberman, và vào đầu năm 2007, các quan chức cũ dưới thời Clinton gặp nhau tại nhà Lieberman để thảo luận về chiến lược cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Hillary, ít lâu trước khi bà chính thức tuyên bố ý định tranh cử của mình.

Hillary đã tìm ra những cách thức đầy sáng tạo khác để khiến sự thu hút vốn đã đáng kể của mình được nâng lên và biến nó thành một nguồn ủng hộ thêm vào. Năm 2003, bà có sáng kiến thành lập một quỹ phi lợi nhuận nhỏ nhằm đẩy mạnh sự tăng trưởng về việc làm ở New York, đặc biệt là các khu vực ở phía bắc bang. Nhánh này của Hillary đặt trụ sở tại thành phố New York và do Roger Altman đứng đầu, người từng giữ chức thứ trưởng Bộ Tài chính dưới thời Clinton, sau trở thành chủ tịch hội đồng quản trị của một ngân hàng đầu tư nhỏ tên Evercore Partners. Đầu năm 2006, Altman lặng lẽ tổ chức một nhóm các chuyên gia về chính sách năng lượng từ giới học thuật, ngân hàng đầu tư, và các nhóm chuyên gia cố vấn để chuẩn bị một báo cáo dài bằng văn bản rồi đích thân chỉ dẫn tường tận cho Hillary về tác phẩm của nhóm. Các thượng nghị sĩ có thói quen tìm kiếm lời khuyên và ý kiến từ giới bên ngoài. Nhưng dựa trên một “lực lượng đặc nhiệm” bí mật thì quả là một điều bất thường. Các thành viên của nhóm Hillary cho biết, họ được yêu cầu không bàn luận gì về sự liên quan của mình (với công việc của Hillary) và phải đảm bảo rằng không để công luận đồng hóa mình với Hillary.

Hillary cũng đã công bố một nhóm cố vấn khác, một hội đồng gần như là thường trực gồm các chuyên gia về nông nghiệp của New York. Sự sáng tạo ra hội đồng này phần nào bắt nguồn từ một quyết định về nhân sự được giấu kín – một quyết định đã dẫn tới sự vi phạm trắng trợn các quy tắc Thượng viện của Hillary.

Câu chuyện được bắt đầu vào mùa hè năm 2001, khi Hillary đang tìm cách lấp một lỗ hổng về hiểu biết trong đội ngũ của mình. Không một ai trong văn phòng New York của Hillary đủ tinh thông về nông nghiệp. Nhu cầu rất cấp bách; một dự luật đồ sộ về trang trại đang sắp được đưa xem xét.

Hillary, trong một buổi nói chuyện vào mùa hè năm đó với Susan Henry, trưởng khoa Khoa Nông nghiệp và Khoa học Đời sống trường Đại học Cornell, đã xin giúp đỡ. Đặc biệt, Hillary “cho biết bà đang muốn nâng cao sự am hiểu về nông nghiệp của chính mình và của các nhân viên,” như một phần của nỗ lực “đẩy nhanh sự hiểu biết về tầm quan trọng của nông nghiệp tại tiểu bang New York” nhằm chuẩn bị cho cuộc tranh luận về dự luật trang trại sắp tới. Vài tuần sau, Henry giới thiệu cho Hillary ông Lee Telega, nhân viên lâu năm của Cornell trong một chương trình về bơ sữa toàn tiểu bang, và là một người vận động hành lang bán thời gian ở Albany, New York. Telega đã được bộ phận quan hệ Chính phủ (tức nhánh vận động hành lang) của Cornell chọn.

Telega thuê một căn hộ ở Washington cho phần việc kéo dài sáu tháng của mình với tư cách là một nghiên cứu sinh quốc hội của Hillary. Cornell tiếp tục trả lương và nhiều khoản chi phí khác cho “nhiệm vụ đặc biệt” của ông này. Sự cộng tác có vẻ là một dạng “cả hai cùng có lợi” cho cả đôi bên – Hillary và trường đại học. “Cornell, vì những mục đích rất cá nhân, muốn một thượng nghị sĩ am hiểu về nông nghiệp vùng đông bắc,” một nhân viên Cornell làm việc với Hillary nhận xét, rồi tiếp, “Điều đó rất quan trọng đối với chúng tôi” bởi khoa Nông nghiệp trường Đại học Cornell là một trong những khoa nông nghiệp lớn nhất cả nước và được hưởng lợi từ trợ cấp đất đai.

Những món trợ cấp đất đai có tính lịch sử không phải là món quà duy nhất của Chính phủ mà Cornell trông cậy vào. Trường đại học này từ lâu đã nhận được hàng loạt khoản tài trợ cấp cho những nghiên cứu của Chính phủ. Cornell, cũng như các nông dân vùng đông bắc, được hưởng lợi từ dự luật nông nghiệp năm 2002. Thực vậy, từ 2002 đến 2005, trợ cấp hàng năm của Bộ Nông nghiệp cho trường đại học này đã tăng gần 40 phần trăm, bao gồm cả quỹ cho những chương trình mới, do riêng giới làm luật nghĩ ra. Hillary không phải là một thành viên của Hội đồng Nông nghiệp Thượng viện, nhưng bà ủng hộ bản dự luật, tích cực vận động các thượng nghị sĩ đồng nghiệp để mang các khoản lợi về cho New York (và Cornell), bao gồm những chương trình bảo tồn, và nói rằng bà cùng những người khác đã “đấu tranh quyết liệt” để chiến thắng trong việc đòi tăng thêm tài trợ cho những chương trình đó.

Hillary cũng hưởng lợi từ sự sắp đặt đó, kiếm được cho mình một chuyên gia am hiểu về một lĩnh vực quan trọng mà không tốn xu nào. Telega chuẩn bị các bản ghi nhớ, miệt mài nghiên cứu các nguồn tin bên trong Bộ Nông nghiệp, gặp riêng Hillary và bộ sậu của bà, đại diện cho Thượng nghị sĩ Clinton[2] trong các buổi thương thuyết với nhóm giúp việc của các nghị sĩ khác, liên lạc những chủ trang trại mà ông quen biết để nhờ họ giúp đỡ, và được cấp những đặc quyền vào sàn Quốc hội vào ngày dự luật trang trại được thông qua.

Giới cố vấn ngành nông nghiệp của Hillary nhanh chóng được mở rộng khi nhóm cố vấn về trang trại của bà chính thức thành lập năm 2001; Telega đóng vai trò then chốt trong việc tuyển chọn thành viên cho nhóm, trong đó có Trưởng khoa Henry cùng một số viên chức và cựu sinh viên Cornell. Telega cho rằng “Không hề có xung đột về lợi ích trong việc một tổ chức vẫn nhận trợ cấp đất đai đưa người của mình vào làm việc cho văn phòng thượng nghị sĩ.” Ông giải thích, “Thượng nghị sĩ Clinton đã nói với tôi tại một trong những buổi họp đầu tiên” rằng công việc của tôi là “đảm bảo cho bang New York phải nhận được phần chia công bằng từ dự luật trang trại.”

Thế nhưng cái công việc quyết định xem liệu có xung đột nào về lợi ích hay không, không cần phải lên tới một thượng nghị sĩ hay một nghiên cứu viên nào đó. Thay vào đó, việc kiểm tra những xung đột về lợi ích kiểu như thế là do một Hội đồng Đặc trách Thượng viện về Đạo đức thực hiện. Các thượng nghị sĩ được khuyến cáo nên liên hệ với Hội đồng trước khi sử dụng một nghiên cứu viên nào đó, vì theo thông lệ Quốc hội, “mỗi trường hợp nghiên cứu viên phải được phân tích trên nguyên tắc tùy từng trường hợp riêng rẽ” để coi có khả năng sinh ra xung đột về lợi ích không.

Các thượng nghị sĩ cũng sẽ phải báo cáo với Hội đồng Đạo đức nếu họ dùng đến sự giúp đỡ của một cá nhân được trả lương và làm việc quá bốn tuần. (Chỉ chừng một nửa thành viên Thượng viện sử dụng nghiên cứu viên, chủ yếu là vì gần như không kiếm đâu ra không gian văn phòng để mà thu hút được thêm sự giúp đỡ từ bên ngoài). Mẫu đơn có tên gọi “Báo cáo của Người giám sát về các Cá nhân Thực hiện Công việc Quốc hội” phải được ký bởi cả người giám sát (thường là thượng nghị sĩ) lẫn cá nhân được thuê đó. Bản báo cáo sẽ phải công khai ngày bắt đầu làm việc của người đó, nguồn gốc và giá trị của thù lao cho cá nhân đó. Sau đó mỗi quý sẽ phải có thêm báo cáo, cũng như khi chấm dứt hợp đồng cũng phải có báo cáo. Không rõ vì lý do gì, cả Hillary lẫn văn phòng của bà đều không nộp bất cứ bản báo cáo nào về Telega.

Một quy tắc khác được áp dụng khi các thượng nghị sĩ sử dụng công việc toàn thời gian của một cá nhân nào đó, (trong đó có các nghiên cứu viên), là những người làm lâu hơn chín mươi ngày, ngay cả khi họ không được trả lương. Quy tắc này quy định rằng “Không một thượng nghị sĩ nào được sử dụng công việc toàn thời gian của một cá nhân trong hơn chín mươi ngày [theo lịch năm] trừ khi [cá nhân đó] đồng ý bằng văn bản sẽ tuân theo Điều lệ Quốc hội về Tư cách Nhân viên với cùng một cách thức và phạm vi như một nhân viên của Thượng viện.” Hillary và Telega cũng chưa bao giờ hoàn tất một thỏa thuận như vậy, vốn phải được thượng nghị sĩ ký điền vào rồi sau đó cả hai bên ký.

Kết quả của sự bỏ sót này là cả công chúng lẫn Hội đồng Đạo đức đều không biết gì về Telega. Và ông này cũng không phải là trường hợp đơn độc; có đến vài chục nghiên cứu viên làm việc cho Hillary trong nhiệm kỳ đầu tiên của bà, trong đó có cả hai nghiên cứu viên nông nghiệp từ Cornell. Một số làm việc ngắn hạn hơn những người khác; một số ở lại và trở thành nhân viên lâu dài. Họ làm việc trên nhiều lãnh vực, bao quát nhiều vấn đề, từ quân sự và an ninh quốc gia đến y tế, lão hóa, môi trường, nghiên cứu tế bào gốc và các đề tài trong nước khác. Nhiệm vụ của họ bao gồm viết các bài diễn văn, tiến hành nghiên cứu, soạn thảo luật, gặp gỡ giới vận động hành lang và các cử tri, đại diện cho Thượng nghị sĩ Clinton tại các sự kiện ngoài trời, và chuẩn bị các đề tài tranh luận cho Hillary. “Những nghiên cứu viên này là nguồn lao động miễn phí,” người quản lý một chương trình cung cấp nghiên cứu viên cho Hillary nhận xét. Họ đã “bành trướng về mặt tổ chức,” đặc biệt là “trong bối cảnh một chiến dịch tranh cử tổng thống.”

Vậy nhưng suốt nhiệm kỳ thượng nghị sĩ đầu tiên của mình, Hillary chỉ nộp duy nhất một bản báo cáo của người giám sát cho các nghiên cứu viên toàn thời gian của mình, vào năm 2003, và ngay cả báo cáo đó cũng không đầy đủ vì bà chưa bao giờ nộp các tài liệu cần thiết khác, mặc dầu trong bản báo cáo của người giám sát mà bà đã ký tên có ghi rõ rằng các hồ sơ đó là bắt buộc. Thực tế việc nộp đơn chỉ ra rằng Hillary có biết về các thủ tục báo cáo. (Chẳng ai cho rằng nghiên cứu viên phải tự mò mẫm tìm hiểu những quy tắc đó.) Thế nhưng hết lần này đến lần khác, Hillary đã chẳng buồn thực hiện.

Vậy rồi, bắt đầu từ cuối tháng 3 năm 2007, Hillary và sáu nghiên cứu viên của bà đột nhiên – và hầu hết các trường hợp là chậm trễ – nộp các mẫu đơn cam kết tuân theo Điều lệ Quốc hội về Hạnh kiểm, và cả những báo cáo đầu tiên của người giám sát. Sự việc xảy ra sau khi có những thắc mắc về những người bảo trợ cho một số nghiên cứu viên lúc đó của bà.

Không biết gì về những quy tắc đó hoàn toàn có thể là một cái cớ, chỉ có điều là một cái cớ tồi: các thượng nghị sĩ và nhân viên Thượng viện thường xuyên được chỉ dẫn tường tận bởi Hội đồng Đạo đức, nên “mọi người phải biết” những quy tắc đó. Tuy nhiên, hội đồng, vốn thiếu thẩm quyền, không có khả năng săn lùng những báo cáo bị thiếu; nó chỉ đơn giản là nhận và sắp xếp các mẫu đơn. Việc thi hành công việc đầy lỏng lẻo như thế của Hội đồng Đạo đức Thượng viện đã làm dấy lên những lời chỉ trích, trong đó có Thượng nghị sĩ Barack Obama từ Illinois, đề xuất thành lập một ban điều tra độc lập để xem xét về cách cư xử và những thói quen của các thành viên. Hầu hết các thượng nghị sĩ, trong đó có Hillary, phản đối ý kiến này.

Hội đồng Đạo đức thực thi một cách bỏ mặc như thế đã gây khó khăn cho việc xác định đáng ra Hillary phải nộp bao nhiêu báo cáo về những nghiên cứu viên của bà. (Con số này phụ thuộc vào việc họ làm trong bao lâu, và họ có được nhận thù lao hay không.) Thậm chí, trong suốt thời gian sáu năm, có vẻ như bà ấy đã thờ ơ với việc nộp vài chục báo cáo cho ít nhất một tá nghiên cứu viên. Trong tám trường hợp, Hillary đã sử dụng nghiên cứu viên từ cùng một tổ chức-nhà tài trợ, vốn cung cấp nghiên cứu viên cho cả những thượng nghị sĩ khác; trong khi các thượng nghị sĩ đó nộp báo cáo một cách nghiêm chỉnh, Hillary lại không. Trong bốn trường hợp khác, các nghiên cứu viên từ những tổ chức tài trợ khác đã làm việc cho Hillary đủ lâu để rơi vào diện bắt buộc phải báo cáo.

Khi đụng đến những vấn đề về lãnh thổ và thâm niên, Hillary có lẽ rất biết tôn trọng, nhưng những thiếu sót trong việc lập hồ sơ các nhân viên này của bà có vẻ như vì lơ đễnh (trong trường hợp tốt nhất), và cẩu thả (trong trường hợp xấu nhất). Một chuyên gia đạo đức Thượng viện nhận xét rằng cách hành xử của Hillary với những nhân viên của bà “chẳng giống bất kỳ thượng nghị sĩ nào.” Nhìn chung, vị chuyên gia cho biết, văn phòng của bà hoạt động với một thái độ “chúng ta có thể làm được những gì chúng ta cần phải làm.” Việc Hillary không nộp báo cáo về những nghiên cứu viên của bà thể hiện điều gì đó từ lâu đã làm cho sự nghiệp chuyên môn và chính trị của Hillary Clinton trở nên phức tạp: một cảm thức sâu xa rằng quy tắc của trò chơi là phụ thuộc vào bà.

❀ ❀ ❀

[1] Nhà Trắng và Đồi Capiton, nơi có trụ sở Quốc hội Mỹ đều nằm trên đại lộ Pennsylvania, cách nhau 16 khối nhà - ND

[2] Tức Hillary - ND

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.